Top Book
Chùa Việt
Bài Viết

Sách Đọc (14)


Xem mục lục

TỪ “Nhát cắt đơn nhất vĩ đại của Giải thoát Trọn vẹn” CỦA PADMASAMBHAVA ĐƯỢC RINCHEN LINGPA PHÁT HIỆN.

 

Kính lễ bổn tôn trí huệ ban phước của tánh giác.

Không có những dấu hiệu và cấp độ tiến bộ trên con đường

Chúng chỉ ra một cách chắc chắn khi nào những kết quả đạt được,

Trong tự do toàn diện và sâu thẳm nhất của Đại Toàn Thiện,

Con không khác gì với một người bình thường và thực hành của con uổng phí.

Bởi vì sự chuyên cần của con sút giảm khi những dấu hiệu thực hành không xuất hiện,

Bản văn này diễn tả chúng thì rất quan trọng.

Con ta, đây là những dấu hiệu của con đường

Cho người tu hành pháp tánh.

Khi một người thực hành với kiên nhẫn, có hai loại dấu hiệu của con đường, không xác định và xác định, chỉ rằng kết quả sẽ đạt được nhanh chóng. Cái không xác định là những dấu hiệu căn bản và xuất hiện do sự nối kết nghiệp trước kia, dù không có thực hành. Vì chúng là không chắc chắn, ta sẽ không diễn tả ở đây.

Những dấu hiệu chắc chắn xuất hiện do thực hành, và chúng có hai loại: tạm thời và bất biến. Những dấu hiệu tạm thời có thể xuất hiện trong hiện thực hay như tâm trạng. Loại thứ nhất xảy ra khi làm những sơ bộ và những thực hành tách lìa, và thân con cảm thấy ở bờ mép của sụp đổ như những bức tường của một ngôi nhà rung rinh, giọng nói con cảm thấy mệt lữ, hay con rung chuyển như người bị ám. Những cái này chỉ ra rằng con đã tách lìa sanh tử và niết bàn. Tâm trạng là hết ham mê thân, ngữ, tâm thuộc sanh tử. Chúng chỉ ra đã được tịnh hóa những che ám của ba cõi và tách lìa khỏi sanh tử. Sự vắng mặt của chúng chỉ cho biết chưa có được kinh nghiệm, thế nên hãy lập lại sự thực hành.

Những dấu hiệu thực sự – căn cứ trên sự mệt mỏi của thân, ngữ, tâm – là thân con thì lạc phúc, tiếng nói muốn phát ra; và tâm con kinh nghiệm mọi sự như không gian. Con cảm thấy, “Bây giờ không có cái gì hiện hữu!” cũng như lòng bi đối với chúng sanh không chứng biết như con; và nhiệt tình với Pháp cũng sanh khởi. Như tâm trạng, con quên rằng con có một thân, con không chú ý đến hơi thở, và con không muốn lìa khỏi trạng thái vô niệm, nghĩ rằng, “Nó là đây!” Đấy là những dấu hiệu đã vào được loại vững chắc an định của niết bàn. Sự vắng mặt của chúng chỉ ra chưa tu hành tốt, thế nên hãy nỗ lực và tiếp tục.

Tất cả những cái ấy chỉ là những dấu hiệu tạm thời; chúng thay đổi và không chắc chắn.

Tiếp theo là những dấu hiệu thực sự là cảm thấy không ham mê thân, ngữ, tâm, điều này có thể thấy được với con và cả những người khác, và cũng không thích thú những hoạt động của cuộc đời này. Tiếng nói con giống như một người câm. Về tinh thần, con mệt mỏi với những công việc sanh tử; con cảm thấy một sự sùng mộ sâu xa với guru và một lòng bi cho tất cả chúng sanh tràn đầy đến chảy nước mắt. Có sự tin tưởng vào hậu quả của hành động, và con nỗ lực vứt bỏ việc xấu và thực hành đức hạnh. Những dấu hiệu của tâm trạng là sự nhẹ nhàng của thân thể, đôi lúc quên rằng con có thân, không chú ý đến chuyển động của hơi thở và cảm thấy mọi sự là không có chất thể và thoáng qua. Những dấu hiệu này thay đổi và không kéo dài.

Những dấu hiệu có giá trị kéo dài là như sau. Trong không gian bao la của cái thấy, khi tánh giác hoàn toàn để lộ, không có những biến đổi, và không phóng chiếu kinh nghiệm như là “cái khác”, đó là dấu hiệu đã móc neo vào pháp tánh. Những dấu hiệu tâm trạng khi thấu hiểu điều này là bất kể sự chú ý của con chuyển động đến nơi nào, con chứng ngộ rằng đó là tự tâm của con, con thấy những tư tưởng được phóng chiếu và trở lại như tự phô diễn, và con biết rằng chúng hoàn toàn không có chất thể như không gian. Đây là những dấu hiệu của việc xác định vững chắc, qua cái thấy, rằng những hình tướng là tâm.

Nhận biết điều này thậm chí khi mộng là dấu hiệu đạt đến cấp độ đầy đủ nhất của sự vững chắc. Nếu con duy trì điều này, trong bảy năm con sẽ giác ngộ trạng thái hóa thân với sự tan biến thân vật chất của con. Nếu con không nhận biết khi mộng, con sẽ thức tỉnh vào lúc chết. Thế nên, kiên trì thực hành là hạnh của loại người cao cấp nhất.

Bây giờ đến những dấu hiệu kinh nghiệm trạng thái chứng ngộ trong thực tế. Trong thân, ngữ, và tâm con, những dấu hiệu thực sự là thân con nhẹ nhàng và đầy sinh lực, giọng con trong và có thể diễn đạt những giáo lý chưa hề nghe, và đôi khi tâm có cấp độ thấu thị nào đó. Con thấy mọi sự sáng như những cầu vồng, đôi khi đầy những sắc thân và vòng tròn, đôi khi trở nên trống không, không có những điểm quy chiếu. Vì sùng mộ đối với guru lớn mạnh và sâu hơn và sự quan tâm đến những hậu quả nghiệp trở nên thư giản hơn, con cảm thấy rằng thân thể con phát ánh sáng, đôi lúc thân vắng mặt, tiếng nói như một âm vang dù không cố ý, và tâm con trong sáng và lạc phúc, không phóng chiếu cái gì; từ giờ trở đi nó chuyển thành trống trải và không hình thành những tư tưởng. Mọi sự kiện này thay đổi và không thể nương dựa vào.

Những dấu hiệu bất biến là như sau. Không còn nữa kinh nghiệm trong đó con bám vào một thực tại cứng đặc; thay vào đó, mọi sự là trò phô diễn hoàn toàn sáng rỡ. Mọi sự xuất hiện, nhưng không có điểm quy chiếu cứng đặc hay bám níu. Chứng ngộ điều này là dấu hiệu của xác định vững chắc, qua kinh nghiệm tu hành, rằng bản thân tâm là trống không. Kinh nghiệm điều này thậm chí khi mộng là đã đạt đến cấp độ đầy đủ nhất của vững chắc. Nếu con duy trì điều này, trong ba năm thân thể vật chất sẽ tiêu tan và con sẽ giác ngộ trạng thái thân trí huệ vô hình của báo thân.

Tiếp theo, dấu hiệu là tánh Không này giải thoát trong chính nó một cách tự phát và không nỗ lực. Về thân, ngữ, tâm, những dấu hiệu trong thực tế là không có bám luyến vào một thân, chẳng hạn không sợ nước. Hơn nữa, những tướng tốt không thấy trước kia có thể được chứng kiến bởi con và những người khác. Tiếng nói của con có thể diễn đạt những giáo pháp chỉ đơn giản bằng hướng thẳng ý muốn của con đến những người khác. Trong tâm con sự thấu thị không bị nhiễm ô sanh khởi.

Những dấu hiệu như những tâm trạng thiền định là con không nhớ hoặc thậm chí không nghĩ đến việc bám nắm thân, ngữ, và tâm; bất cứ cái gì con kinh nghiệm đều trống không và không thực; và con cảm thấy như thể con có thể đi xuyên qua đá, núi…

Những dấu hiệu bất biến là như sau. Bất kể con kinh nghiệm cái gì, không có bất kỳ tiêu điểm khái niệm nào, cũng không có cố gắng chấp nhận hay chối bỏ. Hơn nữa nó được giải thoát khi không cho nó là thật, đến độ, dù ngày hay đêm và không cần nhớ, hình tướng và tánh Không được tự nhiên giải thoát vào bất nhị. Đó là dấu hiệu xác định vững chắc tự giải thoát qua hạnh tự phát.

Khi mê lầm của giấc mộng chấm dứt, con đạt đến cấp độ đầy đủ của sự vững chắc. Nếu con duy trì điều này, trong một năm thân thể vật chất sẽ tan biến và con giác ngộ trạng thái pháp thân không còn tàn dư.

Bấy giờ, dấu hiệu sự tự giải thoát này được đưa đến viên mãn, quả của hiện diện tự phát, chỉ xuất hiện trong tri giác của những người khác, còn trong tri giác cá nhân, mọi loại dấu hiệu và chỉ ra tiến bộ trên con đường đã ngừng dứt. Trạng thái này, được biết là cái nhìn thấy của cạn kiệt trong pháp tánh, nghĩa là năng lực chuyển động của những hình tướng đã ngừng dứt, trong khi phẩm tính tĩnh của tánh Không không còn nữa. Như vậy, bản tánh bất nhị của hình tướng và tánh Không không dao động cũng không cách gì biến đổi. Thay vào đó, có một phẩm tính giác ngộ tự nhiên siêu vượt gặp gỡ và chia lìa – một hiện diện không do tạo tác, một vắng mặt không có bất kỳ tháo bỏ nào – nó là một trạng thái trần trụi rốt ráo của tánh Không tự giác không bám nắm. Trong tri giác của những người khác, bởi vì một hiểu biết vô ngại – tánh giác bổn nguyên như một khả năng toàn khắp – cũng hiện diện, có một sự khai mở không cố gắng của các sắc thân (rupakaya) cho sự lợi lạc của chúng sanh.

Vì lý do đó, vì bản tánh căn bản của sự vật thì toàn khắp, trừ phi những dấu hiệu trên con đường của tỉnh thức rõ biết tự hiện hữu đã đạt đến cấp độ đầy đủ nhất của chúng, không có cái hiểu lúc nào quả hiện diện tự phát xảy đến thì thực hành trở nên tự mãn và lười biếng. Cẩm nang về những dấu hiệu và cấp độ tiến bộ này bởi thế là rất quan trọng.

Không có nó, sự bám luyến vào tánh Không của con thì không khác với những thừa tổng quát.

Với nó, quả sẽ nhanh chóng được đạt đến để đáp ứng những mục tiêu của con và những người khác.

Qua những ban phước của Vajrasattva, nó sanh khởi trong trái tim của Prahevajra.

Ngài chấp nhận Shri Singha, rồi vị ấy giao phó nó cho ta, Padmasambhava.

Nguyện nó gặp người xứng đáng – với nghiệp lành tiền định.

Hãy che giấu nó với người không xứng đáng có những tà kiến.

Khi một người nhận thích hợp xuất hiện, hãy ban cho dòng truyền thừa rốt ráo.

Dòng kinh điển có dấu ấn nghiêm ngặt.

Ema, giáo lý cao cả, kỳ diệu này

Tinh túy của terma tâm, được giấu trong vùng đất Ludü,

Được giao phó cho sự giữ gìn của Gӧnpo Nagpo, Palchen, những dakini,

Và cho những dharmapala hung nộ, những hộ pháp và những chúa tể kho tàng.

Hãy giữ gìn nó; hãy chắc chắn rằng các người bảo vệ những giáo lý này!

SAMAYA.  ẤN, ẤN ẤN.

SARVA MANGALAM.

Xem mục lục