Top Book
Chùa Việt
Bài Viết

Sách Đọc (36)


Xem mục lục

Lúc bấy giờ, Thiên Ðế Thích bạch Pháp Huệ Bồ tát rằng:

Thưa Phật tử! Bồ tát sơ phát Bồ đề tâm được bao nhiêu công đức?

Pháp Huệ Bồ tát nói:

Nghĩa đó rất sâu, khó nói, khó biết, khó phân biệt, khó tin hiểu, khó chứng, khó làm, khó thông đạt, khó tư duy, khó đạt lượng, khó thú nhập. Tuy nhiên, thừa oai thần của đức Phật, tôi sẽ nói cho ông.

Nầy Phật tử! Giả sử có người đem tất cả đồ sở
thích cúng dường chúng sanh trong vô số thế giới ở mười phương trọn một kiếp, rồi sau đó dạy họ thọ trì ngũ giới thanh tịnh. Cứ theo ý ông, công đức của người nầy nhiều chăng?

Thiên Ðế thưa:

Công đức của người nầy, trừ Phật ra, không ai có thể lường được.

Pháp Huệ Bồ tát nói:

Nầy Phật tử! Công đức của người nầy đem so với công đức sơ phát tâm của Bồ tát chẳng bằng một phần trăm, một phần ngàn, một phần trăm ngàn, một phần ức, một phần trăm ngàn na do tha ức, một phần số, một phần ca la, một phần toán, một phần dụ, nhẫn đến chẳng bằng một phần ưu ba ni sa đà.

Giả sử có người đem tất cả đồ sở thích cúng dường chúng sanh trong mười vô số thế giới ở mười phương trọn trăm kiếp, rồi sau đó dạy họ đều tu thập thiện. Cúng dường như vậy trọn ngàn kiếp, rồi dạy tứ thiền. Cúng dường như vậy trọn trăm ngàn kiếp, rồi dạy trụ tứ vô lượng tâm. Cúng dường trọn ức kiếp, rồi dạy trụ tứ vô sắc định. Cúng dường trọn trăm ức kiếp, rồi dạy trụ quả Tu đà hoàn. Cúng dường trọn ngàn ức kiếp, rồi dạy trụ quả Tư đà hàm. Cúng dường trọn trăm ngàn ức kiếp, rồi dạy trụ quả A na hàm. Cúng dường trọn na do tha ức kiếp, rồi dạy trụ quả A la hán. Cúng dường trọn trăm ngàn na do tha ức kiếp, rồi dạy trụ Bích chi Phật.

Nầy Phật tử! Cứ theo ý của ông, công đức của người nầy có nhiều chăng?

Thiên Ðế thưa:

Công đức của người nầy, chỉ có Phật là biết được thôi.

Pháp Huệ Bồ tát nói:

Nầy Phật tử! Công đức của người nầy đem so với công đức của Bồ tát sơ phát tâm chẳng bằng một phần trăm, nhẫn đến chẳng bằng một phần ưu ba ni sa đà.

Tại sao thế? Này Phật tử! Tất cả chư Phật lúc sơ phát tâm, chẳng phải chỉ vì đem tất cả đồ sở thích cúng dường chúng sanh trong mười vô số thế giới ở mười phương trải qua trăm kiếp, nhẫn đến trăm ngàn na do tha kiếp mà phát Bồ đề tâm. Cũng chẳng phải chỉ vì giáo hóa những chúng sanh ấy tu ngũ giới, thập thiện, tứ thiền, tứ không, nhẫn đến khiến trụ nơi quả A la hán và Bích chi Phật mà phát Bồ đề tâm. Chánh là vì khiến chủng tánh Như Lai chẳng dứt, vì đầy khắp tất cả thế giới, vì độ thoát tất cả chúng sanh trong tất cả thế giới, vì biết rõ cả sự thành hoại của tất cả thế giới, vì biết rõ chúng sanh cấu tịnh trong tất cả thế giới, vì biết rõ tự tánh thanh tịnh của tất cả thế giới, vì biết rõ sở thích, phiền não, tập khí của tất cả chúng sanh, vì biết rõ sự chết đây sanh kia của tất cả chúng sanh, vì biết rõ căn tánh phương tiện của tất cả chúng sanh, vì biết rõ tâm hành của tất cả chúng sanh, vì trí biết rõ tam thế chúng sanh, vì biết rõ cảnh giới bình đẳng của tất cả Phật, vì những điều trên đây mà phát tâm Vô thượng Bồ đề.

Này Phật tử! Giả sử có người trong khoảng một niệm có thể qua khỏi phương đông vô số thế giới, đi luôn như vậy trọn vô số kiếp, số thế giới của người nầy đã trải qua khó có ai biết được.

Người thứ hai, trong một niệm có thể qua khỏi tất cả thế giới của người thứ nhứt đã trải qua trong vô số kiếp, người nầy cũng đi luôn mãi trọn vô số kiếp.

Cứ lần lượt tuần tự như vậy đến người thứ mười. Chín phương kia cũng đều như vậy. Thế là trong mười phương có cả thảy trăm người. Số thế giới của trăm người nầy đã trải qua còn có thể biết được tế hạn.

Công đức căn lành của Bồ tát sơ phát Vô thượng Bồ đề tâm, không ai có thể biết tế hạn được.

Nầy Phật tử! Tại sao vậy? Vì Bồ tát phát Bồ đề tâm không có tế hạn. Nghĩa là vì muốn biết rõ thập phương tất cả thế giới, muốn biết diệu thế giới tức là thô thế giới và thô tức là diệu, thế giới ngửa tức là thế giới úp và úp tức là ngửa, tiểu thế giới tức là đại thế giới và đại tức là tiểu, thế giới rộng tức là thế giới hẹp và hẹp tức là rộng, một thế giới tức là bất khả thuyết thế giới và bất khả thuyết tức là một, bất khả thuyết thế giới vào trong một thế giới và một vào trong bất khả thuyết, uế thế giới tức là tịnh thế giới và tịnh tức là uế, muốn biết trong đầu một sợi lông tất cả thế giới tánh sai biệt, trong tất cả thế giới một đầu lông một thể tánh, muốn biết trong một thế giới xuất sanh tất cả thế giới, muốn biết tất cả thế giới không thể tánh, muốn dùng một niệm mà biết hết tất cả thế giới rộng lớn mà không chướng ngại. Vì cớ trên đây mà phát tâm Vô thượng Bồ đề.

Lại ví dụ: giả sử có người trong khoảng một niệm có thể biết kiếp số thành hoại trong vô số thế giới ở phương đông, cứ niệm niệm biết như vậy trọn vô số kiếp.

Người thứ hai trong khoảng một niệm có thể biết tất cả kiếp số của người thứ nhứt đã biết trong vô số kiếp, rồi niệm niệm biết như vậy trọn vô số kiếp.

Cứ tuần tự tăng lên đến người thứ mười, chín phương kia cũng như vậy.

Thế là có cả thảy trăm người. Kiếp số thành hoại của tất cả thế giới trong mười phương qua sự hiểu biết của trăm người nầy, còn có thể biết được ngằn mé.

Công đức căn lành của Bồ tát sơ phát tâm không ai có thể biết được ngằn mé.

Tại sao vậy? Vì Bồ tát chẳng phải chỉ vì biết sự thành hoại của bao nhiêu thế giới đó phát tâm Vô thượng Bồ đề. Mà vì muốn biết rõ sự thành hoại của tất cả thế giới không thừa không sót nên phát tâm.

Nghĩa là muốn biết kiếp dài tức là kiếp ngắn, ngắn tức là dài, dài ngắn bình đẳng, một kiếp bình đẳng với vô số kiếp, vô số với một cũng vậy, kiếp có Phật bình đẳng với kiếp không Phật, không với có cũng vậy, trong kiếp một Phật có bất khả thuyết Phật, trong kiếp bất khả thuyết Phật có một Phật, hữu lượng kiếp bình đẳng với vô lượng kiếp, vô lượng kiếp bình đẳng với hữu lượng kiếp, hữu tận kiếp bình đẳng với vô tận kiếp, vô tận với hữu tận cũng vậy, bất khả thuyết kiếp bình đẳng với một niệm, một niệm bình đẳng với bất khả thuyết kiếp, tất cả kiếp vào phi kiếp, phi kiếp vào tất cả kiếp. Vì muốn trong một niệm biết hết kiếp số thành hoại của tất cả thế giới trong ba thời quá khứ, vị lai và hiện tại, nên phát tâm Vô thượng Bồ đề.

Ðây gọi là sơ phát tâm đại thệ trang nghiêm trí thần thông rõ biết tất cả kiếp.

Lại ví dụ: giả sử có người, trong khoảng một niệm có thể biết những tri giải sai biệt của tất cả chúng sanh trong vô số thế giới ở phương đông. Niệm niệm biết rõ như vậy mãn vô số kiếp.

Người thứ hai trong khoảng một niệm có thể biết những tri giải của tất cả chúng sanh mà người thứ nhứt đã biết trọn vô số kiếp, niệm niệm như vậy trọn vô số kiếp. Lần lượt tuần tự đến người thứ mười. Chín phương kia cũng đều như vậy.

Những tri giải riêng biệt của tất cả chúng sanh trong mười phương như vậy, còn có thể biết được ngằn mé.

Công đức căn lành của Bồ tát sơ phát tâm, không ai có thể biết được ngằn mé.

Tại sao vậy? Vì Bồ tát phát tâm chẳng phải vì chỉ muốn biết bao nhiêu tri giải của bao nhiêu chúng sanh đó, mà vì muốn biết những tri giải của các chúng sanh trong tất cả thế giới.

Nghĩa là Bồ tát phát tâm Vô thượng Bồ đề, vì
muốn biết tất cả tri giải sai biệt vô biên, tri giải sai biệt của một chúng sanh bình đẳng với tri giải của vô số chúng sanh, vì muốn được trí phương tiện biết rõ bất khả thuyết tri giải sai biệt, muốn biết rõ mỗi mỗi tri giải sai biệt của tất cả chúng sanh trọn vẹn không thừa sót, muốn biết rõ tri giải thiện, bất thiện, quá khứ, hiện tại, vị lai, muốn biết rõ tri giải tương tợ và chẳng tương tợ, muốn biết rõ tất cả tri giải tức là một tri giải, một tri giải tức là tất cả tri giải, muốn biết được sức tri giải của Như Lai, muốn biết rõ sự sai biệt của hữu thượng giải, vô thượng giải, hữu dư giải, vô dư giải, đẳng giải, bất đẳng giải, hữu y giải, vô y giải, cộng giải, bất cộng giải, hữu biên giải, vô biên giải, sai biệt giải, vô sai biệt giải, thiện giải, bất thiện giải, thế gian giải, xuất thế gian giải, muốn được vô ngại ở nơi tất cả diệu giải, đại giải, vô lượng giải, chánh vị giải, muốn dùng vô lượng phương tiện biết rõ trọn vẹn thập phương tất cả chúng sanh giới, mỗi chúng sanh có nào là tịnh giải, nhiễm giải, quảng giải, lược giải, tế giải, thô giải, muốn biết rõ trọn vẹn thâm mật giải, phương tiện giải, phân biệt giải, tự nhiên giải, tùy nhơn khởi giải, tùy duyên khởi giải.

Vì muốn được như trên đây mà Bồ tát phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Lại ví dụ: giả sử có người trong khoảng một niệm, có thể biết căn tánh sai biệt của tất cả chúng sanh trong vô số thế giới phương đông, niệm niệm biết như vậy trọn vô số kiếp.

Người thứ hai, trong một niệm, có thể rõ biết tất cả sự biết về căn tánh chúng sanh trọn vô số kiếp của người thứ nhứt.

Lần lượt tuần tự đến người thứ mười. Chín phương kia cũng đều như vậy.

Những căn tánh sai biệt của bao nhiêu chúng sanh trong bao nhiêu thế giới của trăm người đó rõ biết trọn vô số kiếp, còn có thể biết được ngằn mé.

Công đức căn lành của Bồ tát sơ phát tâm, không ai có thể biết được ngằn mé.

Tại sao vậy? Vì Bồ tát phát tâm chẳng phải chỉ vì biết bao nhiêu căn tánh đó, mà chánh vì muốn biết rõ trọn vẹn những căn tánh sai biệt của tất cả chúng sanh trong tất cả thế giới. Nói rộng ra, nhẫn đến muốn biết trọn vẹn tất cả lưới căn tánh mà Bồ tát phát tâm Vô thượng Bồ đề.

Lại ví dụ: giả sử có người trong khoảng một niệm có thể biết những chỗ sở thích của những chúng sanh trong vô số thế giới ở phương đông, niệm niệm biết như vậy trọn vô số kiếp. Tuần tự nói rộng đến người thứ mười. Chín phương kia cũng đều như vậy. Chỗ sở thích của thập phương chúng sanh nầy, còn có thể biết được ngằn mé.

Công đức thiện căn của Bồ tát sơ phát tâm, không ai có thể biết được ngằn mé.

Tại sao vậy? Vì Bồ tát phát tâm chẳng phải vì chỉ để biết chừng ấy sở thích của bao nhiêu chúng sanh đó, mà chánh là vì muốn biết tất cả sở thích của tất cả chúng sanh trong tất cả thế giới.

Lại ví dụ: giả sử có người trong khoảng một niệm, có thể biết những phương tiện của những chúng sanh trong vô số thế giới ở phương đông. Tuần tự nói rộng như vậy nhẫn đến người thứ mười. Chín phương kia cũng đều như vậy.

Những loại phương tiện cùng thập phương chúng sanh đó, còn có thể biết được ngằn mé.

Công đức căn lành của Bồ tát sơ phát tâm không ai có thể biết được ngằn mé.

Tại sao vậy? Vì Bồ tát phát tâm chẳng phải vì để biết bao nhiêu phương tiện của thập phương chúng sanh đó, mà chánh là để biết trọn vẹn những phương tiện của tất cả chúng sanh trong tất cả thế giới.

Lại ví dụ: giả sử có người trong khoảng một niệm, có thể biết những tâm sai biệt của những chúng sanh trong vô số thế giới ở phương đông. Nói rộng nhẫn đến những tâm sai biệt của những chúng sanh trong thập phương thế giới, còn có thể biết ngằn mé.

Công đức căn lành của Bồ tát sơ phát tâm, không ai có thể biết được ngằn mé.

Tại sao vậy? Vì Bồ tát phát tâm chẳng phải chỉ vì để biết ngần ấy tâm sai biệt, mà chánh vì để biết trọn vẹn những tâm sai biệt của tất cả chúng sanh trong tất cả thế giới.

Lại ví dụ: giả sử có người trong khoảng một niệm, có thể biết những nghiệp sai biệt của những chúng sanh trong vô số thế giới ở phương đông. Nói rộng nhẫn đến những nghiệp sai biệt của những chúng sanh trong thập phương thế giới, còn có thể biết ngằn mé.

Công đức căn lành của Bồ tát sơ phát tâm, không ai có thể biết được ngằn mé.

Tại sao vậy? Vì Bồ tát phát tâm chẳng phải chỉ vì để biết những nghiệp sai biệt của bao nhiêu chúng sanh đó, mà chánh là vì để biết rõ trọn vẹn những nghiệp sai biệt của tất cả chúng sanh trong tất cả thế giới và cả tam thế.

Lại ví dụ: giả sử có người trong khoảng một niệm, có thể biết những phiền não của chúng sanh trong vô số thế giới ở phương đông. Lần lượt nói rộng đến người thứ mười và chín phương kia, còn có thể biết được ngằn mé.

Công đức căn lành của Bồ tát sơ phát tâm, không ai có thể biết được ngằn mé.

Tại sao vậy? Vì Bồ tát phát tâm chẳng phải chỉ vì để biết những phiền não của bao nhiêu chúng sanh đó, mà chánh vì để biết rõ trọn vẹn những phiền não sai biệt của những chúng sanh trong tất cả thế giới.

Nghĩa là muốn biết rõ trọn vẹn những phiền não nhẹ, nặng, chủng tử hiện hành, tất cả chúng sanh có vô lượng phiền não, các loại sai biệt, các loại giác quán để đối trị sạch tất cả những tạp nhiễm.

Muốn biết trọn vẹn phiền não y tựa vô minh, phiền não tương ưng với ai, để dứt kiết sử phiền não của tất cả loài.

Muốn biết trọn vẹn tham phần, sân phần, si phần và đẳng phần phiền não, để dứt căn bổn phiền não.

Muốn biết trọn vẹn ngã phiền não, ngã sở phiền não, ngã mạn phiền não, để giác ngộ hết tất cả phiền não.

Muốn biết trọn vẹn từ điên đảo phân biệt sanh ra căn bổn phiền não, tùy phiền não, nhơn thân kiến sanh sáu mươi hai kiến chấp, để điều phục tất cả phiền não.

Muốn biết trọn vẹn cái phiền não, chướng phiền não, để phát tâm đại bi, tâm cứu hộ dứt tất cả phiền não khiến tất cả trí tánh thanh tịnh.

Vì muốn được như vậy mà Bồ tát phát tâm Vô thượng Bồ đề.

Lại ví dụ: giả sử có người trong khoảng một niệm đem các thứ thượng vị ẩm thực, y phục, hoa hương, phan lọng, Tăng già lam, cung điện thượng diệu, màn trướng báu, những tòa sư tử trang nghiêm và những diệu bửu cung kính cúng dường vô số chư Phật phương đông và những chúng sanh trong vô số thế giới, luôn trọn vô số kiếp và cũng khuyên những chúng sanh đó đồng cúng dường Phật. Ðến khi chư Phật nhập diệt đều xây tháp cao rộng trang nghiêm để thờ xá lợi và hình tượng của Phật trọn vô số kiếp. Chín phương kia cũng đều như vậy.

Nầy Phật tử! Công đức của người trên đây, theo ý ông, có nhiều chăng?

Thiên Ðế thưa:

Công đức đó chỉ có đức Phật là biết được thôi.

Pháp Huệ Bồ tát nói:

Công đức đó đem sánh với công đức của Bồ tát sơ phát tâm không bằng một phần trăm, nhẫn đến chẳng bằng một phần ưu ba ni sa đà.

Nói rộng như thế tuần tự đến người thứ mười. Công đức cúng dường của tất cả người trên đây cũng không bằng một phần ưu ba ni sa đà đối với công đức của Bồ tát sơ phát tâm.

Tại sao vậy? Vì Bồ tát phát tâm chẳng phải chỉ hạn cúng dường bao nhiêu đức Phật như vậy, mà chính vì để cúng dường thập phương tam thế tất cả chư Phật.

Bồ tát phát tâm nầy rồi, có thể biết tất cả quá khứ chư Phật lúc mới thành Chánh giác đến lúc nhập Niết bàn, có thể tin bao nhiêu thiện căn của tất cả vị lai chư Phật, có thể biết bao nhiêu trí huệ của tất cả hiện tại chư Phật.

Tam thế chư Phật có bao nhiêu công đức, Bồ tát nầy có thể tin được, thọ được, có thể biết, có thể tu, có thể được, có thể chứng, có thể trọn nên, có thể cùng chư Phật bình đẳng một tánh.

Tại sao vậy? Bồ tát nầy vì chẳng dứt Phật chủng mà phát tâm, vì đầy khắp tất cả thế giới, vì độ thoát tất cả chúng sanh, vì biết rõ sự thành hoại của tất cả thế giới, vì biết rõ sự cấu tịnh của tất cả chúng sanh, vì biết rõ ba cõi thanh tịnh của tất cả thế giới, vì biết rõ sở thích, phiền não, tập khí của tất cả chúng sanh, vì biết rõ tất cả chúng sanh chết đây sanh kia, vì biết rõ căn tánh phương tiện của tất cả chúng sanh, vì biết rõ tâm hành của tất cả chúng sanh, vì trí biết rõ tam thế của tất cả chúng sanh.

Vì những điều trên đây mà Bồ tát phát tâm Vô thượng Bồ đề.

Do phát tâm nên thường được tất cả tam thế chư Phật ức niệm, sẽ được Vô thượng Bồ đề. Liền được tất cả tam thế chư Phật ban diệu pháp. Liền cùng tất cả tam thế chư Phật thể tánh bình đẳng. Ðã tu pháp trợ đạo của tất cả tam thế chư Phật. Thành tựu lực vô úy của tất cả tam thế chư Phật. Trang nghiêm Phật pháp bất cộng của tất cả tam thế chư Phật. Ðược trọn vẹn trí huệ thuyết pháp của tất cả tam thế chư Phật.

Tại sao vậy? Vì phát tâm như đây sẽ được thành Phật.

Nên biết người nầy đồng với tam thế chư Phật, bình đẳng với cảnh giới của chư Phật, bình đẳng với công đức của chư Phật, được trí huệ chơn thiệt, một thân cùng vô lượng thân rốt ráo bình đẳng của chư Phật.

Lúc vừa phát tâm liền được thập phương tất cả chư Phật đồng khen ngợi, liền có thể thuyết pháp giáo hóa điều phục chúng sanh trong tất cả thế giới, liền có thể chấn động tất cả thế giới, liền có thể chiếu sáng tất cả thế giới, liền có thể dứt diệt những khổ ác đạo của tất cả thế giới, liền có thể nghiêm tịnh tất cả quốc độ, liền có thể thị hiện thành Phật trong tất cả thế giới, liền có thể khiến tất cả chúng sanh đều được vui mừng, liền có thể vào tất cả pháp giới tánh, liền có thể trì chủng tánh Phật, liền có thể được trí huệ quang minh của tất cả Phật.

Bồ tát sơ phát tâm đây chẳng phải cầu được một ít trong tam thế, như là Phật, Phật pháp, Bồ tát, Bồ tát pháp, Ðộc giác, Độc giác pháp, Thanh văn, Thanh văn pháp, thế gian, thế gian pháp, xuất thế gian, xuất thế gian pháp, chúng sanh, chúng sanh pháp, mà chỉ cầu được Nhứt thiết chủng trí, nơi các pháp giới, tâm không chấp trước.

Lúc bấy giờ, do thần lực của Phật, mười phương đều mười ngàn Phật sát vi trần số thế giới chấn động sáu cách, mưa hoa trời, hương trời, tràng hoa trời, y phục trời, báu trời, đồ trang nghiêm trời, trổi kỹ nhạc trời, phóng quang minh trời và âm thanh trời.

Lúc đó, mười phương đều qua khỏi ngoài mười Phật sát vi trần số thế giới, có mười ngàn Phật sát vi trần số Phật đồng hiệu Pháp Huệ và đều hiện thân ra trước Pháp Huệ Bồ tát mà bảo rằng:

Lành thay! Lành thay! Nầy Pháp Huệ! Nay ông có thể thuyết được pháp đó. Chúng ta ở mười phương, đều mười ngàn Phật sát vi trần số chư Phật cũng thuyết pháp đó.

Lúc ông thuyết pháp đó, có mười ngàn Phật sát vi trần số Bồ tát phát tâm Vô thượng Bồ đề. Chư Phật chúng ta đều thọ ký cho họ: Qua khỏi ngàn bất khả thuyết vô biên kiếp, đồng xuất thế thành Phật trong một kiếp và đồng hiệu Thanh Tịnh Tâm Như Lai, thế giới khác nhau.

Chư Phật chúng ta sẽ hộ trì pháp nầy, khiến chư Bồ tát thời vị lai, người chưa nghe đều được nghe.

Như ở Ta Bà thế giới nầy, trên đảnh Tu Di thuyết pháp như vậy, khiến các chúng sanh nghe pháp thọ hóa, mười phương trăm ngàn ức na do tha vô lượng, vô biên, tận pháp giới hư không giới, trong tất cả thế giới cũng nói pháp nầy giáo hóa chúng sanh. Bồ tát thuyết pháp đồng tên Pháp Huệ. Ðều do thần lực của Phật, nguyện lực của Phật, vì muốn hiển thị Phật pháp, vì dùng trí quang chiếu khắp, vì muốn khai xiển thiệt nghĩa, vì khiến chứng được pháp tánh, vì khiến hội chúng đều hoan hỷ, vì muốn khai thị nhơn Phật pháp, vì được tất cả Phật bình đẳng, vì rõ pháp giới vô nhị, nên thuyết pháp như vậy.

Lúc đó, Pháp Huệ Bồ tát quan sát khắp tất cả chúng hội mười phương thế giới, muốn đều thành tựu các chúng sanh, muốn đều trừ sạch những nghiệp quả báo, muốn đều khai hiển thanh tịnh pháp giới, muốn đều nhổ trừ căn bổn tạp nhiễm, muốn đều tăng trưởng tín giải rộng lớn, muốn đều khiến biết rõ căn tánh vô lượng chúng sanh, muốn đều khiến biết pháp tam thế bình đẳng, muốn đều khiến quan sát Niết bàn giới, muốn tăng trưởng thiện căn thanh tịnh của mình, thừa oai lực của Phật mà nói kệ rằng:

Vì lợi thế gian phát đại tâm

Tâm đó khắp cùng cả mười phương

Chúng sanh, quốc độ pháp tam thế

Phật và Bồ tát biển tối thắng.

Rốt ráo hư không khắp pháp giới

Chỗ có tất cả những thế gian

Như các Phật pháp đều qua đến

Phát tâm như vậy không thối chuyển.

Từ niệm chúng sanh không tạm bỏ

Lìa những não hại khắp nhiêu ích

Quang minh chiếu thế làm sở quy

Thập lực hộ niệm khó nghĩ bàn.

Thập phương quốc độ đều đến vào

Tất cả hình sắc đều thị hiện

Như Phật phước trí rộng vô biên

Tùy thuận tu nhơn không chấp trước.

Có cõi ngửa hoặc nghiêng hoặc úp

Thô diệu rộng lớn vô lượng thứ

Bồ tát một khi phát đại tâm

Ðều qua đến được không chướng ngại.

Bồ tát thắng hạnh bất khả thuyết

Ðều siêng tu tập vô sở trụ

Thấy tất cả Phật lòng mến thích

Khắp vào biển pháp sâu của Phật.

Thương xót ngũ thú các quần sanh

Khiến trừ cấu uế khắp thanh tịnh

Nối thạnh Phật chủng chẳng đoạn tuyệt

Dẹp dứt cung ma không có thừa.

Ðã trụ Như Lai bình đẳng tánh

Khéo tu vi diệu phương tiện đạo

Nơi Phật cảnh giới sanh tín tâm

Ðược Phật quán đảnh tâm không trước.

Nhớ nghĩ báo ơn cho đức Phật

Lòng như kim cương chẳng bị ngăn

Có thể chiếu rõ công hạnh Phật

Tự nhiên tu tập hạnh Bồ đề.

Các loài sai biệt vô lượng tưởng

Nghiệp quả và tâm cũng chẳng một

Nhẫn đến căn tánh các loại khác

Một khi phát tâm đều thấy rõ.

Tâm đó rộng lớn khắp pháp giới

Vô y, vô biến như hư không

Xu hướng Phật trí, không sở thủ

Rõ chắc thiệt tế lìa phân biệt.

Biết tâm chúng sanh không sanh tưởng

Rõ thấu các pháp không pháp tưởng

Dầu khắp phân biệt mà vô biệt

Ức na do cõi đều qua đến.

Vô lượng chư Phật diệu pháp tạng

Tùy thuận quán sát đều vào được

Căn hạnh chúng sanh đều biết cả

Ðến chỗ như vậy là như Phật.

Nguyện lớn thanh tịnh hằng tương ưng

Thích cúng dường Phật không thối chuyển

Trời người thấy đó không nhàm chán

Thường được chư Phật chỗ hộ niệm.

Tâm đó thanh tịnh vô sở y

Dầu quán thâm pháp mà chẳng chấp

Tư duy như vậy vô lượng kiếp

Ở trong tam thế không sở trước.

Tâm đó kiên cố khó chế ngăn

Ðến Phật Bồ đề không chướng ngại

Chí cầu diệu đạo trừ mê hoặc

Ði khắp pháp giới chẳng khổ nhọc.

Biết pháp ngữ ngôn đều tịch diệt

Chỉ vào chơn như tuyệt dị giải

Chư Phật cảnh giới đều thuận quán

Ðạt nơi tam thế tâm vô ngại.

Bồ tát mới phát tâm rộng lớn

Có thể qua khắp mười phương cõi

Pháp môn vô lượng bất khả thuyết

Trí quang chiếu khắp đều sáng tỏ.

Ðại bi rộng độ rất không sánh

Từ tâm cùng khắp đồng hư không

Ma với chúng sanh chẳng phân biệt

Thanh tịnh như vậy đi thế gian.

Thập phương chúng sanh đều an ủy

Tất cả chỗ làm đều chơn thiệt

Hằng dùng tịnh tâm lời chẳng khác

Thường được chư Phật đồng gia hộ.

Quá khứ chỗ có đều ghi nhớ

Vị lai tất cả đều phân biệt

Thập phương thế giới khắp vào trong

Ðể độ chúng sanh khiến ra khỏi.

Bồ tát đầy đủ diệu trí quang

Khéo rõ nhơn duyên không có nghi

Tất cả mê hoặc đều dứt trừ

Như vậy mà đi nơi pháp giới.

Ma vương cung điện đều dẹp phá

Chúng sanh màn lòa đều dứt trừ

Lìa những phân biệt tâm chẳng động

Khéo rõ cảnh giới của Như Lai.

Lưới nghi tam thế đều đã trừ

Ðối với Như Lai sanh tịnh tín

Do tin được thành trí bất động

Do trí thanh tịnh hiểu chơn thiệt.

Vì khiến chúng sanh được xuất ly

Tận thời vị lai khắp lợi ích

Mãi mãi cần khổ tâm chẳng nhàm

Nhẫn đến địa ngục cũng an thọ.

Phước trí vô lượng đều đầy đủ

Chúng sanh căn dục đều rõ biết

Và những nghiệp hạnh đều biết cả

Theo sở thích họ vì thuyết pháp.

Rõ biết tất cả không, vô ngã

Từ niệm chúng sanh thường không bỏ

Dùng một đại bi vi diệu âm

Vào khắp thế gian mà diễn thuyết.

Phóng đại quang minh các màu sắc

Chiếu khắp chúng sanh trừ đen tối

Trong quang Bồ tát ngồi liên hoa

Vì chúng xiển dương pháp thanh tịnh.

Nơi đầu một lông hiện các cõi

Chư đại Bồ tát đều sung mãn

Chúng hội trí huệ sai khác cả

Ðều rõ biết đặng tâm chúng sanh.

Thập phương thế giới bất khả thuyết

Một niệm đi khắp hết tất cả

Lợi ích chúng sanh cúng dường Phật

Nơi chỗ chư Phật hỏi thâm nghĩa.

Nơi chư Như Lai tưởng là cha

Vì lợi chúng sanh tu giác hạnh

Trí huệ thiện xảo thông pháp tạng

Vào nơi thâm trí không sở trước.

Tùy thuận tư duy nói pháp giới

Trải vô lượng kiếp chẳng cùng tận

Trí dầu khéo vào không xứ sở

Không có mỏi nhàm không sở trước.

Sanh trong nhà tam thế chư Phật

Chứng đặng Như Lai diệu pháp thân

Khắp vì quần sanh hiện các sắc

Ví như thuật gia làm tất cả.

Hoặc hiện mới tu hạnh thù thắng

Hoặc hiện sơ sanh và xuất gia

Hoặc hiện dưới cây thành Bồ đề

Hoặc vì chúng sanh hiện nhập diệt.

Bồ tát trụ nơi pháp hy hữu

Là Phật cảnh chẳng phải Nhị thừa

Thân ngữ ý tưởng đều đã trừ

Các thứ tùy nghi đều hiện đặng.

Bồ tát chỗ đặng các Phật pháp

Chúng sanh tư duy phát cuồng loạn

Trí nhập thiệt tế tâm vô ngại

Khắp hiện Như Lai sức tự tại.

Ðây ở thế gian không sánh bằng

Huống là lại thêm hạnh thù thắng

Dầu chưa đầy đủ Nhứt thiết trí

Ðã đặng Như Lai tự tại lực.

Ðã trụ Nhứt thừa đạo rốt ráo

Sâu vào pháp vi diệu tối thượng

Khéo biết chúng sanh thời, phi thời

Vì lợi ích nên hiện thần thông.

Phân thân đầy khắp tất cả cõi

Phóng tịnh quang minh trừ đời tối

Ví như Long vương khởi đại vân

Khắp tuôn mưa mầu đều đầy thấm.

Quán sát chúng sanh như ảo mộng

Do nghiệp lực nên thường lưu chuyển

Ðại bi xót thương đều cứu vớt

Vì nói vô vi tịnh pháp tánh.

Phật lực vô lượng đây cũng vậy

Ví như hư không vô lượng biên

Vì khiến chúng sanh đặng giải thoát

Ức kiếp siêng tu không mỏi nhọc.

Quan sát tư duy diệu công đức

Khéo tu hạnh đệ nhứt vô thượng

Nơi các thắng hạnh luôn chẳng bỏ

Chuyên niệm sanh thành Nhứt thiết trí.

Một thân thị hiện vô lượng thân

Tất cả thế giới đều đầy khắp

Tâm đó thanh tịnh vô phân biệt

Một niệm khó nghĩ, sức như vậy.

Nơi các thế gian chẳng phân biệt

Nơi tất cả pháp không vọng tưởng

Quán sâu các pháp mà chẳng lấy

Hằng cứu chúng sanh không sở độ.

Tất cả thế gian chỉ là tưởng

Ở trong các thứ đều sai khác

Biết cảnh giới tưởng hiểm và sâu

Vì hiện thần thông để độ thoát.

Ví như thuật gia sức tự tại

Bồ tát thần biến cũng như vậy

Thân khắp pháp giới và hư không

Tùy tâm chúng sanh đều đặng thấy.

Năng sở phân biệt lìa cả hai

Tạp nhiễm thanh tịnh không sở thủ

Hoặc phược hoặc giải trí đều quên

Chỉ nguyện khắp ban vui quần chúng.

Tất cả thế gian chỉ tưởng lực

Dùng trí mà vào tâm vô úy

Tư duy các pháp cũng như vậy

Suy cầu tam thế bất khả đắc.

Hay vào quá khứ trọn thời trước

Hay vào vị lai trọn thời sau

Hay vào hiện tại tất cả chỗ

Thường siêng quan sát không chỗ có.

Tùy thuận Niết bàn pháp tịch diệt

Trụ nơi vô tránh, vô sở y

Tâm như thiệt tế không gì sánh

Chuyên hướng Bồ đề trọn chẳng thối.

Tu những thắng hạnh không lui sụt

An trụ Bồ đề chẳng động lay

Phật và Bồ tát cùng thế gian

Cùng tận pháp giới đều sáng tỏ.

Muốn đặng tối thắng đạo đệ nhứt

Là vua giải thoát Nhứt thiết trí

Nên phải mau phát Bồ đề tâm

Hết hẳn hữu lậu lợi quần sanh.

Xu hướng Bồ đề tâm thanh tịnh

Công đức rộng lớn bất khả thuyết

Vì lợi quần sanh nên khen thuật

Phật tử các Ngài nên nghe kỹ.

Vô lượng thế giới đều làm bụi

Trong mỗi hạt bụi vô lượng cõi

Mỗi cõi chư Phật đều vô lượng

Ðều hay thấy rõ không sở thủ.

Khéo biết chúng sanh không sanh tưởng

Khéo biết ngữ ngôn không ngữ tưởng

Nơi các thế giới tâm vô ngại

Ðều khéo biết rõ không sở trước.

Tâm đó rộng lớn như hư không

Việc trong tam thế đều rõ suốt

Tất cả nghi hoặc đều dứt trừ

Chánh quán Phật pháp không sở thủ.

Mười phương vô lượng các quốc độ

Một niệm qua đến lòng vô trước

Liễu đạt thế gian những pháp khổ

Ðều trụ vô sanh chơn thiệt tế.

Vô lượng nan tư chỗ chư Phật

Ðều đến hội đó để lễ Phật

Thường làm thượng thủ hỏi Như Lai

Bồ tát thực hành những nguyện hạnh.

Tâm thường nhớ đến Phật mười phương

Mà không sở y không sở thủ

Hằng khuyên chúng sanh trồng thiện căn

Trang nghiêm quốc độ khiến thanh tịnh.

Tất cả chúng sanh trong ba cõi

Dùng vô ngại nhãn đều quan sát

Bao nhiêu tập tánh những căn giải

Vô lượng vô biên đều thấy rõ.

Chúng sanh sở thích đều rõ biết

Như vậy tùy nghi vì thuyết pháp

Nơi những nhiễm tịnh đều thông đạt

Khiến kia tu tập vào nơi đạo.

Vô lượng vô số những tam muội

Bồ tát một niệm đều vào đặng

Trong đó tưởng trí và sở duyên

Ðều khéo rõ biết đặng tự tại.

Bồ tát đặng trí rộng lớn nầy

Mau đến Bồ đề không sở ngại

Vì muốn lợi ích các quần sanh

Mọi nơi tuyên dương đại nhơn pháp.

Khéo biết thế gian kiếp dài ngắn

Một tháng nửa tháng và ngày đêm

Quốc độ riêng biệt tánh bình đẳng

Thường siêng quán sát chẳng phóng dật.

Ðến khắp mười phương các thế giới

Mà nơi phương xứ không sở thủ

Nghiêm tịnh quốc độ đều không thừa

Mà chẳng phân biệt là nghiêm tịnh.

Chúng sanh thị xứ hoặc phi xứ

Và đến những nghiệp, hoặc, báo khác

Tùy thuận tư duy vào Phật lực

Nơi đây tất cả đều rõ biết.

Tất cả thế gian những căn tánh

Những thứ nghiệp hạnh vào ba cõi

Lợi căn, trung căn cùng hạ căn

Tất cả như vậy đều quan sát.

Tịnh cùng bất tịnh những tri giải

Thắng, liệt và trung đều thấy rõ

Công hạnh chỗ đến của chúng sanh

Ba cõi tương tục đều thuyết đặng.

Thiền định giải thoát các tam muội

Nhiễm tịnh nhơn khởi đều chẳng đồng

Và cùng đời trước khổ vui khác

Tịnh tu Phật lực đều hay thấy.

Chúng sanh nghiệp hoặc nối các loài

Dứt các loài nầy đặng tịch diệt

Những pháp hữu lậu trọn chẳng sanh

Và tập chủng kia đều rõ biết.

Như Lai phiền não đều trừ hết

Ðại trí quang minh chiếu thế gian

Bồ tát ở trong Phật thập lực

Dầu chưa chứng đặng cũng không nghi.

Bồ tát ở trong một chân lông

Niệm khắp mười phương vô lượng cõi

Hoặc có tạp nhiễm hoặc thanh tịnh

Các thứ nghiệp hạnh đều rõ biết.

Trong một vi trần vô lượng cõi

Vô lượng chư Phật và Phật tử

Các cõi riêng khác không tạp loạn

Như một, tất cả đều thấy rõ.

Nơi một chân lông thấy mười phương

Hết hư không giới các thế gian

Chẳng có một nơi không có Phật

Cõi Phật như vậy đều thanh tịnh.

Ở trong chân lông thấy cõi Phật

Lại thấy tất cả các chúng sanh

Tam thế sáu loài đều chẳng đồng

Ngày, đêm, giờ, tháng có phược giải.

Ðại trí như vậy các Bồ tát

Chuyên tâm hướng đến ngôi Pháp Vương

Nơi cảnh Phật trụ thuận tư duy

Mà đặng vô biên đại hoan hỷ.

Bồ tát phân thân vô lượng ức

Cúng dường tất cả chư Như Lai

Thần thông biến hiện thắng vô tỷ

Chỗ Phật sở hành đều trụ đặng.

Với vô lượng Phật đều mến khen

Bao nhiêu pháp tạng đều say nếm

Thấy Phật nghe pháp siêng tu hành

Như uống cam lộ lòng vui đẹp.

Ðã đặng Như Lai thắng tam muội

Khéo vào các pháp trí tăng trưởng

Tín tâm bất động như Tu Di

Làm tạng công đức cho quần sanh.

Từ tâm rộng lớn khắp chúng sanh

Ðều nguyện mau thành Nhứt thiết trí

Mà luôn vô trước không sở y

Lìa các phiền não đặng tự tại.

Trí rộng lớn thương xót chúng sanh

Nhiếp khắp tất cả đồng với mình

Biết không, vô tướng, không chơn thiệt

Mà lòng tu hành không lười trễ.

Bồ tát phát tâm lượng công đức

Ức kiếp ca ngợi không hết đặng

Vì xuất sanh các đức Như Lai

Và quả Thanh văn quả Ðộc giác.

Mười phương quốc độ các chúng sanh

Ban cho an vui vô lượng kiếp

Khuyên trì ngũ giới và thập thiện

Tứ thiền, tứ tâm, các định xứ.

Lại trọn nhiều kiếp ban an vui

Khiến dứt phiền não thành La hán

Những phước đức đó dầu vô lượng

Nhưng chẳng bằng công đức phát tâm.

Lại dạy ức chúng thành Duyên giác

Ðược hạnh vô tránh đạo vi diệu

Ðem đó sánh với Bồ đề tâm

Toán số thí dụ không bằng đặng.

Một niệm qua đặng trần số cõi

Như vậy đi mãi vô lượng kiếp

Số những cõi đó còn tính đặng

Công đức phát tâm chẳng thể biết.

Quá khứ, vị lai và hiện tại

Bao nhiêu kiếp số vô lượng biên

Những kiếp số nầy còn biết đặng

Công đức phát tâm chẳng thể lường.

Do tâm Bồ đề khắp mười phương

Bao nhiêu phân biệt đều biết cả

Một niệm tam thế đều thấu tỏ

Vì lợi ích vô lượng chúng sanh.

Thập phương thế giới những chúng sanh

Ý muốn, tri giải và phương tiện

Ðến hư không giới đều lường đặng

Công đức phát tâm khó lường biết.

Bồ tát chí nguyện khắp mười phương

Từ tâm lợi khắp các quần sanh

Ðều khiến tu hành Phật công đức

Thế nên sức đó không ngằn mé.

Chúng sanh: muốn, hiểu, lòng sở thích

Căn tánh, phương tiện, hạnh riêng biệt

Nơi trong một niệm đều rõ biết

Nhứt thiết trí trí, tâm đồng đẳng.

Tất cả chúng sanh các hoặc nghiệp

Ba cõi tương tục không tạm dứt

Những ngằn mé nầy còn biết đặng

Công đức phát tâm khó nghĩ bàn.

Phát tâm hay lìa nghiệp phiền não

Cúng dường tất cả chư Như Lai

Nghiệp hoặc đã lìa, tương tục dứt

Khắp trong ba đời đặng giải thoát.

Một niệm cúng dường vô biên Phật

Cũng cúng vô số các chúng sanh

Ðều dùng hương hoa và tràng đẹp

Tràng phan lọng báu y phục tốt.

Thức ngon tòa báu chỗ kinh hành

Các thứ cung điện đều nghiêm tốt

Tỳ Lô Giá Na diệu bửu châu

Như ý ma ni phát sáng chói.

Như vậy niệm niệm đem cúng dường

Trọn vô lượng kiếp bất khả thuyết

Người đó phước tụ dầu lại nhiều

Chẳng bằng phát tâm công đức lớn.

Ðã nói bao nhiêu những ví dụ

Không có bằng đặng Bồ đề tâm

Bởi vì tam thế chư Như Lai

Ðều từ phát tâm nầy mà có.

Phát tâm vô ngại không chừng ngằn

Muốn cầu lượng đó không thể đặng

Nhứt thiết trí trí, nguyện tất thành

Bao nhiêu chúng sanh đều độ trọn.

Phát tâm rộng lớn đồng hư không

Sanh những công đức đồng pháp giới

Công hạnh phổ biến không khác: “Như”

Trọn lìa chấp trước bình đẳng: “Phật”.

Tất cả pháp môn đều vào cả

Tất cả quốc độ đều qua đặng

Tất cả trí cảnh đều thông đạt

Tất cả công đức đều thành tựu.

Tất cả năng xả luôn tương tục

Tịnh các giới phẩm không sở trước

Ðầy đủ vô thượng công đức lớn

Thường siêng tinh tấn bất thối chuyển.

Vào thâm thiền định thường tư duy

Trí huệ rộng lớn đồng tương ưng

Ðây là bực Bồ tát tối thắng

Xuất sanh tất cả đạo Phổ Hiền.

Tam thế tất cả chư Như Lai

Đều hộ niệm hàng sơ phát tâm

Ðều dùng tam muội đà la ni

Thần thông biến hóa đồng trang nghiêm.

Mười phương chúng sanh vô biên lượng

Thế giới hư không cũng như vậy

Phát tâm vô lượng hơn số kia

Do đây hay sanh tất cả Phật.

Bồ đề tâm là gốc thập lực

Cũng là gốc tứ biện vô úy

Và mười tám Phật pháp bất cộng

Tất cả đều từ phát tâm đặng.

Chư Phật thân sắc tướng đoan nghiêm

Nhẫn đến diệu pháp thân bình đẳng

Trí huệ vô trước đáng cúng dường

Ðều do phát tâm mà đặng có.

Tất cả Ðộc giác, Thanh văn thừa

Sắc giới, Tứ thiền, tam muội lạc

Và Vô Sắc giới, Tứ định xứ

Ðều do phát tâm làm cội gốc.

Tất cả trời người tự tại vui

Nhẫn đến các loài các thứ vui

Tinh tấn, định, huệ, căn, lực thảy

Tất cả đều do sơ phát tâm.

Bởi do phát khởi tâm rộng lớn

Nên hay tu hành lục độ hạnh

Khuyên dạy chúng sanh hành chánh hạnh

Ở trong tam giới thọ an vui.

Trụ Phật trí vô ngại thiệt nghĩa

Bao nhiêu diệu hạnh đều khai mở

Hay khiến vô lượng các chúng sanh

Ðều dứt hoặc nghiệp hướng Niết bàn.

Trí huệ sáng chói như tịnh nhựt

Các hạnh đầy đủ như trăng tròn

Công đức luôn đầy như biển cả

Không nhơ không ngại đồng hư không.

Khắp phát vô biên nguyện công đức

Ðều ban vui tất cả chúng sanh

Tận thuở vị lai y nguyện hạnh

Thường siêng tu tập độ chúng sanh.

Vô lượng đại nguyện khó nghĩ bàn

Nguyện khiến chúng sanh đều thanh tịnh

Không, vô tướng, vô nguyện, vô y

Do vì nguyện lực đều hiển rõ.

Rõ pháp tự tánh như hư không

Tất cả tịch diệt đều bình đẳng

Pháp môn vô số bất khả thuyết

Vì chúng sanh nói không sở trước.

Thập phương thế giới chư Như Lai

Ðều đồng tán thán sơ phát tâm

Tâm nầy vô lượng đức trang nghiêm

Ðến đặng bờ kia đồng với Phật.

Như số chúng sanh ngần ấy kiếp

Nói công đức đó chẳng thể hết

Bởi ở nhà lớn của Như Lai

Các pháp thế gian không dụ đặng.

Muốn biết tất cả các Phật pháp

Phải nên mau phát Bồ đề tâm

Tâm nầy hơn hết trong công đức

Tất đặng Như Lai vô ngại trí.

Chúng sanh tâm hành đếm biết đặng

Quốc độ vi trần cũng đếm đặng

Ngằn mé hư không có thể lường

Phát tâm công đức không lường đặng.

Xuất sanh tam thế tất cả Phật

Thành tựu thế gian tất cả vui

Tăng trưởng tất cả thắng công đức

Dứt hẳn tất cả các nghi hoặc.

Khai thị tất cả diệu cảnh giới

Trừ hết tất cả các chướng ngại

Thành tựu tất cả cõi thanh tịnh

Xuất sanh tất cả trí Như Lai.

Muốn thấy thập phương tất cả Phật

Muốn ban vô tận công đức tạng

Muốn diệt chúng sanh tất cả khổ

Phải nên mau phát Bồ đề tâm.

Xem mục lục