Tin Tức (680)


TÍN HÀNH NGUYỆN - PHÁP HIỀN Cư Sĩ

1,335

TÍN

Sở dĩ tất cả những gì Phật dạy được kết tập, gọi là Kinh(8) – theo truyền thống

Hoa dịch – là vì mỗi một thành tố của những Pháp ngôn ấy đều có thể dẫn ta ra khỏi

những vũ trụ khổ đau và rốt ráo đạt tới cứu cánh thực tại. Trên phương diện phổ

niệm, mỗi một kinh ngôn đều có thể xem như là một giáo pháp tu hành. Và, xét trên

phương diện cá biệt, thì mỗi một thuật ngữ in hình tâm chứng của Phật vốn hàm

ngôn những cảnh giới triết học thâm thúy và cao siêu. Thâm thúy và cao siêu, bởi vì

tự thân của từng và chuỗi những thuật ngữ ấy chứa đựng các hệ thống nhận thức

luận xuất thế và vùng cảm thụ siêu hào quang thể (meta-halo-feeling).

Ở đây, bài viết này nhắm vào ba phạm trù TÍN HÀNH NGUYỆN mang tính khách

quan nhằm thâm nhập hành trạng của bậc đại nhân TÂY DU tầm đạo, mở đường cho

giáo pháp khai hóa tại trời Nam, Tổ sư môn của người viết - Nhẫn Tế thiền sư và hồi

ký TÂY DU PHẬT QUỐC của Ngài, và bài viết hoàn toàn ít liên hệ đến ba toà bảo tháp,

TÍN HÀNH NGUYỆN của Phật giáo Tịnh Độ tông.

Do vì, bài viết vốn là giao diện giữa Tổ sư và trò, cho nên nó quy vào tính chủ

quan nhiều hơn. Nói cách khác, bài viết thể hiện từ cơ sở “tập khí” của người viết hơn

là lý giải một pháp tu nào đó của bậc thầy mình cũng như phương diện lịch sử của nó.

Trong đời sống thường ngày, ta vốn thờ ơ với những gì ta bắt gặp chung quanh, bởi

vì chúng quá quen thuộc, đến độ mà ta chẳng cần phải vận dụng tới một chút ý thức

nào trong những hành vi của mình. Chẳng hạn, mỗi sáng ta thức dậy, làm vệ sinh, đốt

nhang lễ Phật, thậm chí tụng kinh…trong mỗi một hành vi như vậy, có thể ta ít khi nào

tự thức trên và trong chính chúng. Xét về phương diện phân tâm học, mỗi một hành vi

phi tự thức như thế, không phải là vô thức mà là thói quen của một nhận thức lười biếng

vốn ngủ quên bên dưới những hành vi này. Trong một số trường hợp, ta vẫn lầm tưởng

rằng, ta là một sinh vật được ban cho một khả năng trực quan thống kê phi thường (9)

mà không cần thiết phải vận dụng đến tư duy phân tích làm chi, y như thể rằng,

nó phải xuất hiện một cách tự nhiên như thể là ta nắm được quyền kiểm soát tính

năng đặc biệt thông tuệ này và trong một vài trường hợp ta đánh đồng trạng thái

trực quan đó với niềm tin. Nghĩa là ngay cả niềm tin về một tôn giáo nào đó mà ta

đang theo đuổi vẫn bị phủ lấy một lớp mù sương của thói quen ý thức ẩn mình – thói

quen không tự thức. Và, chung quanh những hành vi và cả niềm tin của ta sẽ sẵn

sàng phản ứng cùng những quán tính ngôn ngữ của chúng để bảo vệ tập quán mờ

mịt này, nếu như ta bị ai đó phê phán. Trong một chừng mực, phản ứng tự vệ luôn đi

cùng cái Ngã, thậm chí dù được mệnh danh là cái ngã của tôn giáo. Đặc biệt hơn, khi

một hành vi đã hoàn thành, khi tự thức, ta hay hỏi, để làm gì? Do đâu? Thói quen đề

ra một mục đích, nhớ lại (tự thức) cho một hành vi đã hoàn thành, có khuynh hướng

Quả hơn là Nhân.

Phật giáo không xem kế hoạch, hoặc kết quả là quan trọng mà Giáo pháp Phật

dạy ta tỉnh thức tại đây và bây giờ. Đó mới là kế hoạch và kết quả mỹ mãn nhất.

Trong rất nhiều bối cảnh, con người đã huy động cả một cỗ máy chiến tranh

để chứng minh cho nguyên nhân đệ nhất: con gà và, hoặc cái trứng. Chính xác hơn

là nguyên nhân đệ nhất. Trong trường hợp này, Phật giáo của một số truyền thống,

chẳng hạn Thiền Tông đã xem lập ngôn là mối họa khó lường.

Ý thức con người quả là tuyệt vời, bởi vì nó có thể tự biết chính nó. Không ai thấy

được cái lưng của mình, nhưng ý thức thì có thể, Duy Thức tông gọi trạng thái đó là

Chứng tự chứng phần. Ý thức tự thức – ký ức – đã là tuyệt vời rồi, thế nhưng, thực tại

chỉ có thể là thực tại, khi nào được ý thức vươn tới. Nghĩa là, thực tại là thành viên của

ý thức, tất nhiên, không ai có thể đạt được hay thành tựu một thực tại toàn diện cả.

Do vậy, Einstein cho rằng, “Loài người là một thành phần của cái toàn thể, một

thành phần bị giới hạn trong không gian và thời gian, được chúng ta gọi là “tính phổ

quát”. Anh ta tự thể nghiệm chính mình, tư tưởng mình và những cảm giác của mình,

như một cái gì đó thoát ra khỏi phần còn lại, tức là một loại ảo tưởng của thức quang

học của mình. Ý thức này, là nhà tù của chúng ta, nhốt chúng ta lại bằng những tham

dục cá nhân và tạo hiệu ứng cho một vài kẻ quanh mình. Nhiệm vụ của ta là phải tự giải

thoát khỏi nhà tù này, bằng cách mở rộng vòng tay yêu thương với mọi tạo vật và toàn

bộ thiên nhiên trong nét tuyệt vời của nó. Tuy không ai có thể đạt đến điều này, thế nhưng

sự cố gắng cho một chiến thắng như vậy trong tự thân của nó lại là một bộ phận của giải

thoát và nền tảng cho sự thanh bình nội tại.” (10)

Ý thức không thể dựng thực tại bất động vĩnh viễn, thế nhưng chỗ nào nó đi tới,

thì chỗ đó là thực tại. Đây cũng là lý do Phật dạy, “nhất thiết duy tâm tạo.”

Một đời sống không tự thức là một đời sống phi thực, ảo hóa. Phật giáo gọi là

sống say chết mộng (túy sinh mộng tử).

Trong kinh Pháp Hoa, Phật dạy, ‘Tin là mẹ của mọi loại công đức.”

Vậy TIN (Tín - 信) là gì?

Bất cứ một lộ trình lý giải nào, thì nhà luận lý đều phải y trên ngôn ngữ, nhất là

ngữ nghĩa học; và ngữ nghĩa học phải truy đến từ nguyên của đối tượng mà nhà luận

lý muốn miêu tả hay chứng minh. Khi chạm đến thuật ngữ Phật giáo, thì người ta luôn

đứng trước hai hệ thống ngữ nghĩa học về (tôn giáo): hệ thống ngữ nghĩa học Phật

giáo Ấn Độ và hệ thống ngữ nghĩa học Trung Hoa. Tới đây, thì nhà luận học phải buộc

mình trên bàn phím của bản tổng phổ cho cả hai và người ta sẽ rút ra được những

thăng giáng lịch sử và cảm nghiệm về nó từ viễn cảnh từ nguyên.

Ngữ nguyên học của Trung Hoa, xem Tín sanh ra từ ngôn ngữ, hay nói khác hơn

– do luận giải hay do luận chứng mà người ta tin. Bằng cớ là Tín bao gồm nhân (人)

và ngôn (言). Hình ảnh TÍN của Trung Hoa cho ta biết hiện nay, văn hóa Trung Hoa đã

được hầu hết những nhà học giả lớn thế giới này quan tâm ; nét độc lập, thuần tuý và

những trầm mặc thâm sâu của nền văn hóa này, lấn lướt hẳn văn minh Tây-Âu. Ở ngữ

nguyên của Phạn văn, tín là (śraddhā). Đây là một từ phái sinh từ hai động từ hoặc

vị ngữ śrā và dhā. Srā là trui rèn, nung chín; còn dhā có nghĩa là thiết lập, dựng nên...

Xét về từ nguyên của hai ngôn ngữ Hoa và Ấn, ta thấy tín có vẻ tương đồng. Tuy rằng

ở mặt tích cực thì tín của Phạn văn kiên cố, thâm tín hơn Hoa văn. Vì ở đây, tín, phải

qua quá trình trui-rèn bao hàm cả luận giải và lý chứng, cụ thể hóa một vấn đề trừu

tượng. Do vậy, văn hóa Ấn Độ khó lĩnh hội hơn và, nhất là đối với khía cạnh «thích nói»

của loài người, thì quá trình trui rèn cụ thể ít ai chấp nhận. Người ta thích nói nhiều

hơn làm. Với Ấn Độ thì không.

Tuy nhiên, trong Phật giáo, Tín có hai mặt: trí tín và tín trí (giải tín và tín giải). Trí-

tín có nghĩa là tin trước rồi luận chứng sau - giải-tín; còn Tín-trí thì luận chứng trước

rồi tin sau – tín-giải.

Tín giải Là gì?

Như đã nói, Trí-tín, có nghĩa tin rồi lý chứng hay tin rồi luận. Điều này làm ta dễ

lầm lẫn với hiệu ứng hào quang mà ta sẽ đề cập đến. Tuy nhiên, niềm tin về tôn giáo

có hơi khác biệt với niềm tin của thế gian. Trong Phật giáo, đối với Tông Duy thức, thì

Tin mà không cần lý giải vẫn có thể giải được.

Tông Duy Thức đề ra học thuyết Chủng Tử (bīja). Học thuyết này cho biết rằng,

bất kể hoạt động nào, dù là vật chất (vật lý) hay tinh thần (tâm thức) đều sinh ra từ

chủng tử và kết quả của mọi hoạt động này cũng sẽ trở thành là chủng tử. Chủng tử

ở đây, giống như năng lượng hay lượng tử. Nó tồn tại dưới dạng vật chất siêu nhiên

và được lưu giữ nơi tâm thức của chúng ta. Nếu như cái lưu giữ ấy không phải là tâm

tạng vô hình vô bóng, thì ta làm sao mà cất chứa vô số hình thái niệm tưởng của

mình. Vậy thì, mọi hành vi của chúng ta đều hình thành từ nơi nhân của quá khứ hay

chủng tử sở huân - sự tích lũy lượng tử hay năng lượng. Sự hoạt động nào thành tựu

thì hoạt động đó hình thành một năng lượng mới gọi là tân huân. Do vậy, tân huân

và sở huân là hiệu ứng nhân quả của chủng tử, làm nên dòng bộc lưu của tâm thức,

làm nên hệ di truyền của nhân loại trong vũ trụ của chính tân huân và sở huân này. Và

sau hết tân huân và sở huân, trên khái niệm vừa nêu là NGHIỆP CẢM của chúng ta.

Nếu tân huân và sở huân thuộc tịnh nghiệp A Di Dà, thì ta đắc sinh Tịnh Độ và

nếu ngược lại thì di truyền của ta là di truyền của thế giới này; thay vì là di truyền hay

chủng tử Phật. Tuy vậy, tất cả chúng ta, theo Phật giáo đều có chủng tử Phật, vì nếu

ta y theo lời Phật dạy, thì ta sẽ có thể thành Phật như Phật.

Vậy, theo tông Duy Thức, Niết Bàn của Phật là một dạng vật chất siêu việt, còn

Tánh Không cũng là một liên hệ siêu vật chất, mà là vật chất.

Trong một bản kinh, người ta nói rằng khi Ngài Cấp Cô Độc nghe đến danh hiệu

Phật, Ngài liền rúng động và thao thức suốt cả đêm, không chờ đến bình minh Ngài

đã được thần minh dẫn đường kiến Phật. Đoạn kinh này nhiếp về phép ẩn dụ - chỉ

cho thiện nghiệp quá khứ, sở huân - được tích tập – trong tàng thức của Ngài, rồi

qua vô số kiếp, đến giờ nghe đến tôn hiệu Phật, các chủng tử thiện này hiện hành,

khiến cho Cấp Cô Độc lên đường gặp Phật mà không cần phải lý giải vì sao mà mình

lại rúng động và tôn kính như vậy đối với một nhân vật mà Ngài chưa từng biết đến.

Như vậy thì, theo Tông Duy Thức, chẳng có gì là tự nhiên nhi nhiên cả. Mọi thứ

đều có nguyên nhân và kết quả của chúng. Nhân và kết quả này là do ta kết tập bằng

những hoạt động của mình và chúng ta « thừa tự » bằng chính những hành vi ấy. Vũ

trụ cũng vậy, nó hoạt động theo chu kỳ nghiệp của nó và hoàn toàn tương ứng với

Nghiệp hay hoạt động của chúng ta. Chúng ta hoạt động, nói theo triết học, là hoạt

động theo ý hướng tính nào, thì thế giới mà ta gọi là khách quan này sẽ ứng hiện như

là ý hướng tính ấy. Sự mặc định đã cho in tuồng như là định mệnh của mỗi chúng

ta, có nhiễm-tịnh song hành. Vũ trụ mà ta đang sống, chính là vũ trụ của kết quả ý

hướng tính đó. Và, tất nhiên, sự hình thành ấy vẫn thuộc về thế giới của vật chất,

thậm chí là siêu vật chất, thế nhưng chúng có thể chuyển hóa theo hướng tích cực

nào đó, mà trên hết là chuyển hóa theo những pháp tu của Phật giáo. Do vậy, số

mệnh hay thiên mệnh không phải là hằng hữu, bất biến và hoàn toàn phi tất định.

Tóm lại, Trí-tín hay Tín-trí là nhất thể, còn ngôn ngữ tư biện chỉ là cái đến sau, để

ta dễ dàng chấp nhận mà thôi.

Từ chỗ này, những gì mà ta gọi trước mặt là tương lai, thật ra nó chỉ ở sau lưng

của ta. Nếu như ta không tự tỉnh thức, thì cả đời mình, ta chỉ sống bằng quá khứ mà

thôi.

Trong khái niệm về Tín trí vừa nêu, khế hợp với giáo pháp Tứ Bất Y của Phật: y

pháp bất y nhân. Pháp ngữ này dạy rằng, ta dựa vào pháp để tu hành nghiệm chứng,

rồi mới xác nhận pháp đó là ưu việt, thù thắng, đáng tin, đưa tới an lạc  ; không

nhất thiết là vì pháp đó do Phật thuyết mà ta vội tin ngay – ta không tin pháp qua

Phật hay bất cứ ai. Chẳng hạn, khi nghe người ta nói anh chàng ca sỹ nào đó là ông

hoàng nhạc Rock, ta cũng phải nói theo đó là ông hoàng nhạc Rock, nếu ta không

công nhận điều đó, hóa ra ta là người lạc hậu sao. Phật giáo theo kiểu đó, thì chỉ là

một Phật giáo hình thức mà thôi. Để chỉ cho thái độ ấy, Kahnemen, giải Nobel 2002,

gọi là halo effect (hiệu ứng hào quang) ; còn Einstein gọi nó là optical delusion of

consciousness (ảo giác quang học của ý thức) và, Phật giáo gọi trạng thái đó là cảm

thọ - thức của ta xét vạn hữu thường bằng cảm thọ ngã - của mình. Chính trạng thái

«cả tin» từ cái «ngã tưởng» hướng hạ như vậy đã đánh lừa ta và luôn nhấn chìm ta vào

bể khổ. Nói theo Kahnemen, một diễn giả nào đó hảo tướng, có vẻ rất tự tin khi bước

lên diễn đàn, thì thính giả liền có cảm tình ngay với bài phát biểu ấy, bất luận nó hay

dở hoặc tư cách của người đó như thế nào. Thật thế, cảm thọ theo khuynh hướng

đám đông như vậy sẽ là bẫy rập của chúng ta. Nó ở bên trong chớ chẳng ở bên ngoài.

Do vậy tự thức là bước ban đầu tu tập của Thiền Vipaśyanā hay được mệnh danh

là Thiền Minh Sát Tuệ. Hành giả tu pháp thiền quán này, hằng ngày có thể nhớ được

hàng tỷ hoạt động thân, khẩu và ý của mình – cơ sở tiến vào thực tại tối hậu và thần

thông về những kiếp quá khứ và tương lai.

Và lộ trình Tín-trí này làm chiếc tàu vượt đại dương đưa bậc đại nhân là Nhẫn

Tế thiền sư nhập đất Phật, ngay trong đoạn đầu tiên của NHẬT KÝ, «Ngày giờ thấm

thoát, phút đã qua năm Ất Hợi (1935), tháng hai, ngày mười chín, dương lịch là 1er Avril

1935. Nghĩ rằng : tiền lo cũng đủ, tham học cũng vừa thông thông. Nay cũng nên nhất

định, bèn làm đơn trình quan Chủ-tỉnh, xin giấy xuất dương. Sự tích Tây Du Phật Quốc

sơ dẫn từ đây. »

Trong đoạn mở đầu này, ta thấy có hai ý thú quan trọng, đó là «tham học cũng

vừa thông thông,» và «Nay cũng nên nhất định.»

Hai đoạn hành ngôn trên, cho phép ta hiểu tổ rằng: Tín giải của Ngài đã viên

mãn, cho nên nhất định viễn hành.

Thật vậy, những ai đã viên thành tín giải, thì HÀNH sẽ là một tiến trình tất yếu và

hiện thực luôn ở tại đây và bây giờ.

HÀNH

Trong đời sống tu hành, bất kể là tại gia hay xuất gia, thì ba Pháp Bảo là Tín Hành

Nguyện là cơ cấu nhất thể đưa tới quả vị Bồ-đề và, nhất là đối với Tịnh Độ tông, Tín

Hành Nguyện là bộ khung, cỗ xe lớn đưa hành giả về cõi nước A-Di-Đà Phật.

Ở đây, do âm đọc cho thuận tai, nên HÀNH, đã được đọc là HẠNH. Tuy nhiên,

Hạnh và Hành khác nhau rất xa .

HẠNH, theo Câu Xá luận, chỉ cho Diệu Hạnh, tức là các hoạt động mang tính từ

thiện, các thiện sự nhằm đưa đến may mắn, hạnh phúc... Hạnh, vì có tính giới hạn

của nó, cho nên Phật giáo, không cho nó là cứu cánh hay nguyên lý đưa đến trí tuệ

giải thoát. Hạnh này, thường mang đến sự hài lòng của giác quan, do vậy, nó có tính

chất nguy hiểm vì thường gắn cùng hay đi sau đó là cái ngã của vị kỷ, tham dục và mê

mờ. Tuy nhiên không có thiện hạnh, thì không có hành vô nhiễm. Cả hai như là thế giới

vi mô và vĩ mô, nghĩa là các thế giới có hoạt động, có sự sống và cuối cùng là đưa tới

những cấu trúc. Về mặt nhận thức, chúng có vẻ tách biệt, thế nhưng, với công phu tu

tập, thì diệu hạnh, lại là nấc thang dẫn đến HÀNH. Hoạt động của các chủng tử diệu

hạnh mà có sức gia trì thì nó nhất quán với chủng tử HÀNH.

Vì lẽ đó các chư Tăng hay khải phát vô số thiện sự hữu hạn cho chúng sinh thực

hiện, vừa mang lại hiệu quả rộng và hẹp cho chính mình và cho muôn loài.

Chẳng hạn, Tổ sư chúng ta là Hòa thượng Nhẫn Tế, lên đường về đất Phật mà cô

Diệu Nhẫn, ở Lái Thiêu mang xe đến, đưa tổ đi, thì đấy là diệu hạnh, còn Tổ khai sơn

của chúng ta lên đường tìm về đất Phật, thì mới đúng là HÀNH (saṃskāra/行). Hành

này mang tính vô hạn, chứa cả nguyên lý thế gian và siêu thế, tức là Hành đó, mang

yếu tố giải thoát.

HÀNH, ở đây, tức là hành thâm bát Nhã Ba La Mật Đa (āryā va lokitesvaraboddhisattvo

gaṃbhīrāyāṃ prajñāpāramītāyāṃ caryāṃ caramāṇo vyavalokayati sma – Quán Tự Tại

bồ tát HÀNH thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời chiếu kiến...)

Theo tiếng Phạn, đoạn kinh trên được dịch từng chữ ra tiếng Việt, thì nó có nghĩa

là: (Quán Tự Tại Bồ tát thực hành sự tu tập – tu hành – trong Tuệ giác Ba La Mật thâm

sâu và Ngài đã thấy...).

Hành vi vyavalokayati sma của Bồ tát, được Huyền Tráng dịch là chiếu kiến – tham

chiếu - tức là phân tích và so sánh đối chiếu.

Trên phương diện ngữ nguyên của Phạn văn, HÀNH (saṃskāra / caryāṃ) phái

sinh từ động từ saṃ-kṛ hoặc car, có nghĩa là đặt chung lại với nhau (to put together)

hay hợp tạo (join together) hoặc tổng thể hóa (compose). Saṃskāra còn có một

nghĩa quan trọng nữa: chuẩn bị (prepare), tịnh hóa, tinh lọc (refine)... và, car có nghĩa

là thực hiện hay dấn bước tương đương với Hán ngữ 行. Vậy thì ở đây, HÀNH, là đem

tất cả những tín giải, giải tín, công phu tu tập đặt chung lại với nhau làm động cơ lên

đường về xứ Phật, như đoạn văn sau đây, được Tổ sư tuyên bố :

Gió êm, biển lặng bóng trăng lồng,

Đáy nước, bầu trời, một Hóa-công.

Đuốc nguyệt, đèn sao trên dưới tỏ,

Thiên, Long hội yến tiễn bần-tăng.

Kệ rồi, xây lưng, sắp xuống hầm, trực ngó một lớp lính sơn-đá, nằm ngủ trên bong

và khách Ấn-độ, một đôi người sắp lớp, kẻ ngang, người dọc ngáy ro ro. Tôi dừng bước,

nhìn đó mà nghĩ rằng: «Kiếp con người đến bao nhiêu đó là cùng. Ngày thức, như kiếp

sống, bôn ba tranh cạnh, bỉ thử lấn xô, hồ, cáo cấu xé, bất quá bảo tồn cái ngã và ngã

sở, nuôi sống xác thân. Đêm ngủ, như giấc chết tạm, xả rồi mọi sự, ngã ấy bất quá bản

thân, cũng quên, cũng bỏ. Kẻ nghịch, đến giết cũng không hay không biết. Hà tất ngã sở,

vợ con, nhà cửa, của tiền, vân vân...

Tuy thân còn tại thế, mà trong giấc ngủ, đủ rồi buông bỏ; sự mất còn, phú đó cho

rủi-may. Huống chi là trong giấc ngủ ngàn thu của xác thịt... Một mình nghĩ đến đó, một

mình thở ra, rồi thẳng xuống phòng; thấy đồng hồ đã quá 3 giờ.»

Trong Phật giáo, ta vẫn thường nghe chuỗi thuật ngữ, từ bi và trí tuệ, chớ người

ta không nói trí tuệ và từ bi, tại sao vậy ? Bởi vì, trí sinh ra từ đại bi, thì trí ấy sẽ tạo

nên nhiều phương tiện thiện xảo đưa tới giải thoát, còn bi sinh ra từ trí, thì bi ấy, có

khi là bi vị ngã. Cũng vậy, khi ta nói, giáo pháp Phật là cỗ xe lớn (bất luận là Tiểu hay

Đại Thừa), là vì đây là một cỗ xe không có hoặc không dẫn đến «tai nạn giao thông».

Thật thế, khi ta thực tu bất cứ giáo pháp nào của Phật, thì cứu cánh của nó sẽ là

an lành, bởi vì, người ta nói, đức Phật sinh ra từ Đại bi.

Ở đây, phát xuất từ TÍN, HÀNH mà khai tổ đã phát đại bi tâm và HÀNH của Quán

Thế Âm Bồ-tát, như ta biết, đó là HÀNH của Trí trụ trong Bi.

Trong Phật giáo HÀNH là như vậy - biến một mơ ước, một lý tưởng, một khái

niệm thành hiện thực vi diệu; hoạt động đó gọi là tu hành. Tu (修), do ngữ nguyên

bhūभू, mà ta có bhāvanaभावन, ngụ chỉ cho hành giả thực tại hóa một khái niệm, hay

một ý tưởng  ; nói cách khác, tu, theo Phạn ngữ, có nghĩa là ta biến một cái gì đó

thuộc về thế giới trừu tượng, thành một vật thể có thực, lợi lạc cho muôn loài ; bởi

vì bhāvanaभावन có nghĩa là thực tại hóa. Chẳng hạn, Niết-bàn được đức Phật tuyên

thuyết, là cái mà ta có thể đạt tới. Do vậy, Niết bàn thực sự là vật chất, nhưng mà một

loại vật chất tối tinh vi – siêu vật chất – chính là ý này. Thêm nữa, nếu Niết-bàn Phật

là một cái gì đó mơ hồ, bất thực, thì chẳng có ai dám theo, thậm chí chẳng có ai dám

bỏ công tu hành làm chi cho mệt.

Đối với một Phật tử, Niết-bàn là cứu cánh tối hậu mà họ cần phải đạt đến. Do

vậy, trong Đại Tỳ Bà Sa, quyển bốn, dạy: «Có người hỏi rằng, Tu có nghĩa là gì ? Đáp :

Bao quát hết gọi là tu. Trui rèn liên tục gọi là tu. Xông ướp gọi là tu. Học (pháp) gọi là tu.

Luôn thanh tịnh gọi là tu. Trong chuỗi tu tập này, ta nên biết rằng, hiện tại, tu tập được

hiện thực hóa (sở hiển), gọi là tu. Tương lai, tu tập thành tựu, gọi là tu. Lại nữa, tích luỹ

(tập) gọi là tu. Tương lai, đắc (thành tựu) gọi là tu. Hơn thế, hiện tại, thụ dụng gọi là tu.

Tương lai dẫn phát gọi là tu. Lại nữa, hiện tại thông suốt mọi sự gọi là tu (dụ như người

làm tạp vụ trong tự viện). Tương lai phát triển nguyện ước gọi là tu. Lại nữa, hiện tại cái

thân giới hạn này gọi là tu. Tương lai, đắc tự tại gọi là tu. Lại nữa, cái trước mặt gọi là tu.

Tương lai, thành tựu gọi là tu.(11)

Vượt lên trên tất cả, bản văn SỰ TÍCH TÂY DU PHẬT QUỐC, là một bản văn ẩn và

ấn dấu tâm bồ-đề trong đại bi kỳ vĩ của một HÀNH trạng từ TÍN NGUYỆN SÂU XA của

Sơ tổ, như đoạn văn sau đây:

«Nghĩ vì, bần tăng lắm nhờ Phật lực, xuôi cho huỷnh đem đi Tây Tạng, muôn điều

xuôi xếp, lại đặng nhập Long-thiền đảnh lễ Lama Quốc Vương, đặng vào các tự hành

hương, đặng gần Quan tứ trụ, thong thả vào ra, phố phường biết mặt, không trở ngại

một điều chi, không bị nhục ném đá quăng gạch như người Anglais kia tự thuật trốn đi

Lhassa cực khổ thân hình, tốn bạc ngàn mà làm đầy tớ cho cho kẻ tùng nhơn Hindou,

mướn làm hướng đạo. Cực lực mà đến lúc tới Lhassa thì chỉ dừng bước đặng có một

ngày, rồi sáng ra phải theo vòng binh xuất ngoại. Nghĩ vậy, bần đạo so lại thân này hèn

mọn, nhờ Phật lực nên đặng vua quan dân-giả, tăng tục đều hỷ kiến, cho phép các chùa

hành hương, khắp nơi thăm viếng. Thì dầu cho tốn hao chút ít thật chẳng phiền, vui

lòng nhịn ăn, nhịn mặc để tiền cúng dường mà cầu phúc cho Đàn-na và xử sự cùng

người thi ân cho mình, dường ấy mới sạch nghiệp hậu lai, mới giũ trần bất nhiễm.

Có câu : Nhất trần bất nhiễm hà tham hà thọ.»

Sở dĩ tôi nói Sơ tổ của chúng ta là bậc đại nhân, kỳ vĩ của một HÀNH trạng, xuất

phát từ TÍN NGUYỆN SÂU XA, là vì đọc trọn vẹn bản văn, ta chưa từng thấy Ngài đề

cập đến tâm chứng sở chứng của mình như thế nào, mà cơ hồ như toàn bộ bản văn

tưởng như thể là ghi chép lại một hành trình TÂY DU PHẬT QUỐC. Thế nhưng, với

một chút trầm mặc nghĩ suy, ta sẽ thấy rằng ẩn chứa bên dưới chính là việc thể ngộ

vô song về đạo pháp của Ngài. Bởi vì, sự thể ngộ ấy, một cách thực tiễn là Ngài đã

nhập vào những hoạt động của chư Thánh nơi Tây Tạng và cuối cùng, là Ngài đắc

Pháp Danh, như đoạn văn trên mô tả một cách rạch ròi. Và, theo tôi cái ẩn dấu, cái

điềm đạm thanh thoát, tính nhẹ nhàng vô chấp trong lối văn tự thuật tự nhiên như

thế, nếu chẳng phải là một tâm chứng, một khải ngộ tuyệt vời, được thúc đẩy bằng

TÍN NGUYỆN SÂU XA, thì nó chẳng thể được như thế.

NGUYỆN

Tâm thức chúng ta vốn vô cùng thuần khiết, cho nên nó rất dễ bị bôi lem hay

nhiễm ô. Hình ảnh thuần tịnh này, y như những người từ các vùng vệ sinh về, họ hay

bị lây nhiễm và thường nhuốm bệnh - sạch dễ nhiễm hơn là ô trược. Tính thanh tịnh

này của tâm thức lại là một nguồn lợi vô cùng cho tu tập. Bởi vì, bản chất của nhiễm

ô chỉ là một loại bệnh mà thôi, chắc chắn nó không phải là định mệnh của đời ta mà

định mệnh của đời ta chính là sự thuần tuý của tâm từ lúc ta chưa sinh ra đời. Chỉ cần

loại bỏ lớp sơn huyễn hóa đó thì ngay lập tức ta trở về với cái chân thường, cái bổn

lai lúc cha mẹ chưa sinh ta ra.

Do vậy, một số thuật ngữ xem chừng như quá rắc rối của Phật giáo, như phiền

não, ô nhiễm, đọa lạc, luân hồi v.v... hoàn toàn không phải là những gì vốn gắn liền

với đời sống của ta, chúng là những cái do ta «chiêu cảm» mà thôi. Vì chưa rõ bản

chất của chúng, cho nên ta thường xem chúng như là định mệnh của mình – sanh là

khổ, tử là khổ. Chư Phật và các Đại Bồ tát ra đời chỉ có một NGUYỆN duy nhất là gỡ

hết chuỗi duyên sinh như thế vốn gây khổ lụy cho chúng sinh không biết bao nhiêu

đời kiếp mà thôi.

NGUYỆN làm cho chúng sinh thành Phật và, NGUYỆN làm cho một vị Phật mãi

là chúng sinh.

NGUYỆN làm Quán Thế Âm Bồ tát mãi làm thân Bồ tát.

Do NGUYỆN này mà chúng sinh niệm Phật, Phật đi vào trong tâm tưởng họ và

nhờ NGUYỆN này mà chúng sinh nhập vào tính tạng Như Lai.

Ở đây, NGUYỆN, là một đặc chất của

Phật giáo, nhất là Phật giáo Đại thừa. Sở dĩ Phật gọi là Phật, Bồ tát thành Phật là do

NGUYỆN này.

Nếu xét về toàn bộ tôn giáo trên thế giới, thì tôn giáo nào cũng có Nguyện cả.

Thế nhưng, mỗi ước nguyện của các tôn giáo trên thế giới này, chỉ giới hạn trên sự

thoát khổ, sự cứu chuộc hay đem lại thanh bình cho thế giới mà thôi.

Đối với Phật giáo, NGUYỆN độ chúng sinh thoát khổ, là NGUYỆN thành Phật...

NGUYỆN thành Phật là NGUYỆN độ hết thảy chúng sinh khỏi mê đồ. Cả hai khái

niệm ấy gắn chặt cùng nhau như là một lời vàng đá sơn minh hải thệ.

Bao giờ tất cả chúng sinh thành Phật thì ta mới thành Phật, hoặc « hư không hữu

tận, ngã NGUYỆN vô cùng». Đấy là NGUYỆN của Phật giáo.

Như đã nói, tâm thức vốn thuần tịnh, cho nên chúng sinh là bình đẳng. Vì là bình

đẳng, cho nên ai tu cũng đều thành Phật. Nói cách khác, ai tu cũng đều được giải

thoát cả. Cho nên Phật giáo là một tôn giáo của Đại Bình Đẳng.

NGUYỆN vốn vô ngôn, nhưng do tập khí chúng sinh mà NGUYỆN thành lời.

NGUYỆN vốn thành lời, vì thế giới vốn duyên sinh.

NGUYỆN đến độ VÔ NGUYỆN như trong kinh Kim Cang, đức Phật thuở tiền thân

NGUYỆN độ vị vua tàn ác đã róc thịt xương Ngài.

Như đã nói tâm thức chúng ta vốn tinh ròng thuần khiết, cho nên nó rất dễ bị

nhiễm ô, vì vậy, TÍN, HÀNH và trên hết là NGUYỆN, sẽ là một chất liệu y học để mọi

yếu tố gây bệnh bị diệt trừ.

Vì NGUYỆN vốn vô ngôn, cho nên ta đọc từ đầu đến cuối của bản văn TÂY DU

PHẬT QUỐC, ta không thấy bất cứ đoạn nào nói về NGUYỆN cả. Tuy nhiên, nếu ta

để ý đến trang 294 đến trang 295, hoặc từ 297 - 299 thậm chí từ trang đầu tiên đến

trang cuối cùng của SỰ TÍCH, ta sẽ thấy, đại nguyện của Sơ tổ ta bàn bạc phổ hóa

khắp nơi.

TÍN HÀNH NGUYỆN, thật vậy, nếu ta nhìn theo chiều thẳng, thì mỗi một phạm

trù đều có một thứ minh triết đơn. Nếu như ta nhìn chúng theo hàng dọc, thì mỗi

một phạm trù sẽ giao nhau như thế giới của Hoa nghiêm phức thể đồng thời tương

tức và nếu như ta nhìn từ trên xuống, thì ba phạm trù này là nhất tướng, hiện ra con

đường giải phóng định nghiệp của chúng sinh và đưa người tác nguyện về xứ Phật,

thành Phật.

Cũng vậy, TÍN HÀNH NGUYỆN của Sơ tổ ta, xét từ SỰ TÍCH TÂY DU PHẬT QUỐC,

là một chuỗi nhất thể ẩn mình dưới những công hạnh thường ngày của bất cứ vị tăng

nào. Tuy nhiên, vẻ thanh thoát của nó, tính nhiệm mầu của nó, có lẽ ta phải đi qua

hàng bao nhiêu kiếp mới có thể chạm được.

Nói như vậy, có nghĩa là SỰ TÍCH TÂY DU PHẬT QUỐC sẽ là một thông điệp

muôn đời cho những ai muốn tìm đường giải thoát cho mình và cho tất cả chúng

sinh. Và, tất nhiên, hiệu ứng đó sẽ thành là một dòng truyền thừa bất tận.

CHÚ-THÍCH

8 Theo Phạn văn, sū tra सूत्र là nguyên lý đo lường, hay là tuyến tính trí tuệ. Ý nghĩa này chỉ cho sự liên hệ

đến phân tích, suy nghiệm, và sau đó là dẫn vào trí tuệ hơn là hiểu theo nghĩa KINH (經) của Trung Hoa.

Trong tiếng Do Thái, KINH là ETZ HAYIM , cũng chỉ cho loại trí tuệ tuyến tính này.

9 Thinking Fast and Slow, p. 1-10.

10 THE MIND’S OWN PHYSICIAN P. 55.

11 大毗婆沙論一百六十三卷四頁云:問:何故名修?答:遍修故名修。數習故名修。熏故名修。

學故名修。令常淨故名修。應知此中,現在、習修所顯;未來、得修所顯。復次現在、習故名

修。未來、得故名修。復次現在、受用故名修。未來、引發故名修。復次現在、辦事故名修。

未來、與欲故名修。復次現在、在身中故名修。未來、得自在故名修。復次現在、現前故名

修。未來、成就故名修。

Nguyện, ngữ nguyên là Praṇidhānaप्रणिधान, được Monier Williams dịch: sự

trầm mặc tôn giáo thâm thúy (profound religious meditation) hay là sự dâng hiến

đời mình cho một lý tưởng cao xa nào đó.

Pháp Hiền cư sỹ

1,335

Nhiếp ảnh Việt và “đường ra biển lớn”

Nhiếp ảnh Việt và “đường ra biển lớn”Ghi danh trong các giải thưởng World Press Photo 2013 đến Sony World Photography 2013 và Smithsonian Photo Contest, nhiếp ảnh Việt Nam đang dần

16,379
CHÂN KHÔNG DIỆU HỮU.

Viên ngọc như ý chính là cái tâm mình mà tất cả những hình tướng nó chiếu hiện ra đây, chính là cái như ý của mình, như hồi nãy thầy nói

585
Năm giới là quyền lợi của mỗi con người

Năm giới là quyền lợi của mỗi con ngườiMục đích chính yếu của pháp luật là bảo vệ quyền lợi của mỗi con người. Sự trừng phạt của pháp luật là trừng

19,006
GIÁ TRỊ CON NGƯỜI

Giá trị của một người cần được thấy nơi cái gì nó cho chứ không phải nơi cái nó có thể nhận. _Albert Einstein🌞 Giá trị hay sự xứng đáng của một

1,084
Đạt Lai Lạt Ma truyền Đại giới

Đạt Lai Lạt Ma truyền Đại giớiDharamsala, India, March 15th 2010 – Hôm 15/03 Đức Đạt Lai Lạt Ma đã truyền giới cho một số sư thầy như những tu sĩ cụ

16,425
Top Bài Viết
Quan Hệ Thầy Trò
Niệm Tự Bạch

QUAN HỆ THẦY TRÒ Theo Tinh thần Kinh Kế thừa Chánh pháp Thầy, vầng mây bậc, thong dong, núi cao biển rộng Con, cánh nhạn chiều, chân trời sải cánh, dõi theo Thầy,

33,205
Giữ giới là lựa chọn tự do
Phật học Ứng Dụng

Giữ giới là lựa chọn tự do  Giới luật của Phật giáo có nghĩa là: “Anh đừng tự làm thương tổn mình, anh đừng tự làm hại mình”. 1. Tự do của lệ thuộc

32,652
Đạo Phật là gì?
Niệm Tự Bạch

Đạo Phật là gì Lama Zopa and Lama Yeshe Khi bạn tìm hiểu về đạo Phật tức là bạn đang tìm hiểu về con người thật của mình, về bản chất của tâm trí

32,541
Vô minh bẩm sinh & Vô minh văn hóa
Tìm Hiểu & Học và Hành

Vô minh bẩm sinh & Vô minh văn hóa(VHPG) Mọi kinh nghiệm của chúng ta, kể cả giấc mộng, khởi lên từ vô minh. Đây là một tuyên bố làm hoảng hốt

32,307
Chùa Việt
Sách Đọc