TRẦN NHÂN TÔNG (1258-1308)

TRẦN NHÂN TÔNG (1258-1308)

Trần Nhân Tông là con đầu Trần Thánh Tông, sinh ngày 11 tháng Mười một năm Mậu ngọ (1258), lên làm vua từ năm Kỷ mão (1279). Niên hiệu là Thiệu Bảo ( 1279-1284) và Trùng Hưng (1285-1293).

Lúc còn trẻ có nhiều tên gọi : Khâm, Phật Kim, và Nhật Tôn. Sau khi mất thụy hiệu là Nhân Tông.

Trần Nhân Tông là một trong những ông vua yêu nước và anh hùng. Ông đã có những chiến công lẫy lừng ở hai trong ba cuộc Kháng chiến chống quân Nguyên-Mông. Là người nổi tiếng là khoan hòa và nhân ái. Dưới triều đại ông, hai cuộc hội nghị nổi tiếng được ghi vào sử sách là hội nghị các tướng lĩnh ở Bình-than và hội nghị với các bô lão ở Diên-hồng để bàn mưu kế tỏ quyết tâm chống giặc. Ông đã chỉ huy Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải và các tướng lãnh để đẩy lui quân Nguyên-Mông.

Trần Nhân Tông còn là một nhà văn hóa ,ông là người dùng chữ Nôm đầu tiên ( tức là tiếng Việt, thay vì tiếng Hán, trong thơ văn và chiếu chỉ) , nhà thơ xuất sắc ở thế kỷ XIII. Ông đã sáng lập ra dòng Thiền Trúc Lâm ở Việt-nam, đáp ứng một nhu cầu sinh hoạt tinh thần cho người Việt đương thời.

Vào năm 1293, Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con và nhận tước vị Thái thượng hoàng. Năm 1298, ông chính thức xuất gia và đi thuyết Pháp các nơi, chu du khắp đất nước, vào đến tận kinh đô nước Chiêm-thành rồi mới trở về lên tu ở núi Yên-tử, lấy pháp hiệu là Hương Vân Đại đầu đà hoặc gọi là Trúc lâm đại đầu đà, được người đương thời xưng tôn là Giác hoàng Điều ngự. Ông mất ngày 3 tháng Mười một năm Mậu-thân (1308) tại am Ngọa-vân trên núi Yên-tử.

Sau đây là 3 hội trong 10 hội của Cư Trần Lạc Đạo Phú.

TÍNH SÁNG

HỘI THỨ NHẤT

Mình ngồi thành thị;
Nết dụng sơn lâm.
Muôn nghiệp lặng an nhàn thể tính;
Nửa ngày rồi tự tại thân tâm.
Tham ái nguồn dừng,
chẳng còn nhớ châu yêu ngọc quý;
Thị phi tiếng lặng,
được dầu nghe yến thốt oanh ngâm.
Chơi nước biếc, ẩn non xanh,
nhân gian có nhiều người đắc ý;
Biết đào hồng, hay liễu lục,
thiên hạ năng mấy chủ tri âm.
Nguyệt bạc vừng xanh,
soi mọi chỗ thiên hà lai láng;
Liễu mềm hoa tốt,
ngất quần sinh tuệ nhật sâm lâm.
Lo hoán cốt, ước phi thăng,
đan thần mới phục;
Nhắm trường sinh, về thượng giới,
thuốc thỏ còn đam.
Sách Dịch xem chơi,
yêu tính sáng yêu hơn châu báu;
Kinh nhàn đọc dấu,
trọng long rồi trọng nữa hoàng kim.

HỘI THỨ HAI

Biết vậy!
Miễn được lòng rồi;
Chẳng còn phép khác.
Gìn tính sáng tính mới hầu an;
Nén niềm vọng, niềm dừng chẳng thác.
Dứt trừ nhân ngã, thì ra tướng thực kim cương;
Dứt hết tham sân, mới lảu lòng màu viên giác.
Tịnh độ là lòng trong sạch,
chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương;
Di Đà là tính sáng soi,
mựa(chớ) phải nhọc tìm về Cực lạc.
Xét thân tâm, rèn tính thức,
há rằng mong quả báo phô khoe;
Cầm giới hạnh, địch vô thường,
nào có sá cầu danh bán chác.
Ăn rau ăn trái,
nghiệp miệng chẳng hiềm thuở đắng cay;
Vận giấy vận sồi(vải xấu), thân căn có ngại chi đen bạc.
Nhược chỉnh vui bề đạo đức,
nửa gian lều quý nửa thiên cung;
Dầu hay mến thuở nhân nghì,
ba phiến ngói yêu hơn lầu gác.

HỘI THỨ BA

Nếu mà cốc(biết),
Tội ắt đã không.
Phép học lại thông.
Gìn tính sáng, mựa lạc tà đạo;
Thửa mình học, cho phải chính tông.
Chỉn(chỉ) bụt là lòng, xá (hãy) ướm hỏi đòi cơ Mã tổ;
Vong tài đối sắc, ắt tìm cho phải thói Bàng công.
Áng tư tài, tính sáng chẳng tham,
há vì ở Cánh Diều Yên Tử;
Rần thanh sắc niềm dừng chẳng chuyển,
lọ chi ngồi am Sạn non Đông.
Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết tấc
Sơn lâm chẳng cốc, họa kia thực cả đồ công.
Nguyền mong thân cận minh sư,
quả bồ đề một đêm mà chín;
Phúc gặp tình cờ tri thức,
hoa ưu đàm mấy kiếp đơm bông.

Trích “ Cư Trần Lạc Đạo Phú”

Top Bài Viết

Top Music

Top Book Mp3

Top Music Album

 
© Copyright 2009 - 2018 anphat.org - Chịu trách nhiệm nội dung: Thị Đức bienman0811@yahoo.com - Hỗ trợ kỹ thuật votamthoai@gmail.com