Quan niệm của Phật giáo về cuộc đời và hạnh phúc

 

Quan niệm của Phật giáo về cuộc đời và hạnh phúc 


Cũng cùng một đời sống, cùng hít thở không khí, cùng ăn uống ngủ nghỉ, cùng một sinh hoạt của cuộc sống con người, thế mà chúng ta thấy có một sự khác biệt lớn lao giữa một người sống được đạo Phật và một người thường tục. Người sống được đạo Phật thì mãn nguyện, không lo sầu, thảnh thơi, thanh tịnh, tự do và an lạc:

 

Này ông, tâm không khổ
Với người không kỳ vọng
Mọi sợ hãi không còn
Với người kiết sử đoạn
Nhờ đoạn nhân sanh hữu
Pháp được thấy như thật
Ðối chết, không sợ hãi
Nhờ gánh nặng đặt xuống
Ðạo Phật ta khéo hành
Con đường khéo tu tập
Ta không có sợ chết
Khi gốc lão, bệnh diệt
Bờ kia đến, không thủ
Việc làm xong, sạch trong
Bằng lòng, thọ mạng diệt
Như thoát lò sát sanh
Pháp tánh đạt, tối thượng
Ở đời, không sở hữu
Như thoát ngôi nhà cháy
Sống chết không sầu muộn
Quá khứ, ta không có
Tương lai hiện tại, không
Các hành không thực hữu
Ở đây, than khóc gì?
Thanh tịnh pháp sanh khởi
Thanh tịnh hành tương tục
Bậc thấy được như thật
Không sợ hãi, thưa ngài.


(Trưởng lão Adhimutta)

Trong khi đó, thì cũng cùng một trời đất ấy, đất nước gió lữa ấy, mà người bình phàm thì luôn luôn tương tục mọi điều phiền não, bất loại nguyện, lo sợ, khổ đau, than khóc.

Sự khác biệt lớn lao ấy có thể nói là sự khác biệt giữa sanh tử và Niết bàn. Cũng cùng một đời sống, cũng cùng những nguyên liệu dưỡng chất trần gian, mà người thì hưởng thọ Niết bàn an lạc, người thì hưởng thọ sanh tử khổ đau. Khởi điểm cùng truy tìm cuộc đời chân thật, cùng truy tìm hạnh phúc, mà người thì đạt đến an vui vĩnh cửu, người thì loay hoay với món nợ khổ đau, đó là do sự đúng sai trong cách đặt vấn đề về cuộc sống, do sự đúng sai trong quan niệm về hạnh phúc. Ðức Phật đề cập đến 3 loại quan niệm sai lầm (tà kiến). Ðó là tri giác sai lầm, suy tư sai lầm và kiến thức sai lầm. Chính do sự sai lầm này dẫn dắt con người đến với khổ đau.

Chúng ta thấy muôn loài đều đi tìm hạnh phúc. Ðạo Phật cũng thế, cùng chung với mọi người, đạo Phật đi tìm hạnh phúc. Và nếu dùng chữ tu hành theo cái nghĩa để chỉ cuộc đi tìm hạnh phúc, thực hiện hạnh phúc, thì quả thật, cả nhân loại không ai mà không tu hành. Người thì tu hành thực hiện tiền tài, người thì tu hành thực hiện dục lạc, người thì tu hành thực hiện danh vọng, người thì tu hành thực hiện trí thức ... là những thứ mà người đời cho là hạnh phúc. Nhưng tiếc thay, vì không thấy trước tất cả những cái đó đều vô thường, vô ngã; tất cả những thứ đó đều vô nghĩa trước sự vận hành không ngừng nghỉ của cuộc đời, nghĩa là sự vận hành không ngừng nghỉ của cái chết, cho nên khổ đau, tiếc hận, không thể nắm giữ là điều tất yếu. Chúng ta nhớ lại, đức Phật Thích Ca đã từ bỏ mọi thứ (những thứ mà Ngài có hơn người đời rất nhiều kể về số lượng lẫn chất lượng) không phải vì Ngài từ bỏ hạnh phúc để đi tìm khổ hạnh (nếu nghĩ đạo Phật là sự chối bỏ hạnh phúc, tìm kiếm khổ hạnh thì chắc là đạo Phật đã không còn đến ngày nay; trái lại đạo Phật tích cực rốt ráo, là đạo diệt khổ, thực hiện an vui vĩnh cửu) mà vì Ngài thấy rằng những thứ hạnh phúc mà Ngài đang có chỉ là hạnh phúc tạm bợ đặt căn bản trên sự vô thường và vô ngã của thế gian, bởi thế Ngài bỏ tất cả để tu hành, thực hiện cái hạnh phúc tối thượng và vĩnh cửu, gọi là Niết bàn. Sự từ bỏ của đức Phật là một bài học vô giá cho thế gian, cho mỗi một thân phận con người, rằng: Hạnh phúc thì không có ở kia, ở nơi những sự vật rỗng không và tiêu hoại, mà chỉ có ở đây, trong sự thực hiện cái An Vui không còn bị điều kiện, cái mục đích tối thượng của đời người mà chúng ta có thể gọi là gì tùy theo sở thích, khuynh hướng, căn cơ: Niết bàn, Pháp thân, tánh giác, Bi Trí toàn mãn, Phật tánh, khuôn mặt xưa nay ...

Trở lại với 3 sự sai lầm ở trên, tri giác sai lầm, suy tư sai lầm và kiến thức sai lầm thì kinh điển thường đề cập đến 4 phương diện của cái thấy sai lầm: 

 

Vô thường mà cho là Thường
Bất toại nguyện, khổ mà cho là tọai nguyện, vui
Vô ngã mà cho là ngã
Bất tịnh, xấu dơ mà cho là thanh tịnh, đẹp sạch.

Do chạy đuổi theo cái thấy sai lầm đó mà có sanh tử khổ đau. Thế gian đã đặt vấn đề sai, rồi không biết giải quyết vấn đề hay giải quyết sai, từ đó duyên khởi ra một chuỗi mắt xích sai lầm vô tận. Vì không thấy được bất toại nguyện, Khổ, Không, Vô thường, Vô ngã cho nên đi tìm Vui trong cái Khổ, đi tìm cái có trong cái không có, đi tìm cái thường còn trong cái niệm niệm sanh diệt, đi tìm cái ngã trong chỗ không thể nào có ngã, bèn đuổi bắt ảo vọng, rốt cuộc chỉ thấy có khổ, rỗng không, hoại diệt và bất an.

Trong khi đạo Phật thì giản dị mà sâu sắc vô cùng: ta cảm thấy đau khổ, bất an, buồn chán ư? (Khổ đế). Phải đi tìm nguyên nhân thực sự của cái khổ đó (Tập đế). Và khi thấy rõ nguyên nhân của nỗi khổ, nỗi khổ liền tan, vì không còn đất để mọc rễ. Khi thấy được nguyên nhân của khổ, thì không ai tiếp tục tự làm mình khổ, khi đã thấy cái nóng, cái bỏng là do tự mình lấy lữa châm mình thì không ai tiếp tục châm đốt mình nữa cả (Diệt đế). Quá trình giải quyết nỗi khổ, nỗi đau bấy giờ đã rõ ràng, tùy ta có thực hiện và thực hiện đến mức nào hay không (Ðạo đế).

Khổ, bất toại nguyện, không làm cách gì có thể thỏa mãn, vô ích (như kinh Lăng Nghiêm nói là làm sao có thể nấu cát thành cơm; hay kinh Viên Giác nói là làm sao có thể ngồi chờ hoa đốm kết thành trái), thì đã làm người, ai cũng từng phải cảm nghiệm thấy. Nhưng nhìn thấy nỗi khổ, bất toại nguyện ở nơi bản chất của chúng chớ không hời hợt nơi hiện tượng bề mặt thì ít người thấy. Có lẽ ít trường phái triết lý nào tiếp cận được với chân lý thứ nhất của đạo Phật là Khổ đế bằng phong trào triết học hiện sinh ở châu Âu khoảng giữa thế kỷ 20.

Bằng cảm quan tinh tế của các nhà văn, bằng sự suy tư sâu sắc của các triết gia, và bằng một sự đồng cảm tế nhị, triết học hiện sinh nhìn ra tính cách khổ đế của thân phận con người; bị ném ra ngơ ngác giữa đời sống, ngẫu nhiên, hoàn cảnh giới hạn, hữu hạn tính, cuộc đời là sự hướng về cái chết, sự cô đơn không thể chia sẻ, sự bất định và mong manh của kiếp người đến độ vô ích ... Ðời người cũng vô nghĩa đến độ khó chịu đựng như huyền thoại Sysiphe: suốt đời lăn tảng đá lên núi cao, tảng đá sẽ rớt xuống trở lại và rồi lại lăn lên tiếp để rồi lại rớt xuống, phải chăng đó là từng kiếp đời thất bại không thể giải thoát của con người. Vì không thấy được Tập đế, nguyên nhân của mọi phiền não, khổ đau, của hữu hạn và thất bại ở trên, và sự giải quyết rốt ráo cho thân phận con người là Diệt đế, nên các nhà hiện sinh tiến tới chọn một giải pháp sai lầm, lấy đó làm ý nghĩa cho cuộc đời. Khi thấy cuộc đời có làm gì cũng giới hạn giữa hai bờ sanh tử, khi thấy cuộc đời hữu hạn và vô ích đến độ phi lý, họ đành cho con người một quyền hạn càng nhỏ và mong manh hơn khuôn khổ của kiếp người, đó là sự nổi loạn, sự chọn lựa để biểu lộ tự do. Sự tự do trong cuộc đời hữu hạn chật hẹp vì vọng tưởng vô minh đó ắt cũng phải là một tự do nhỏ hẹp và buồn rầu. Ðó là hình ảnh của người anh hùng buồn rầu hành động để chỉ thấy hành động là vô ích trong cuốn Thân phận con ngườí của André Malraux. Ðó là khi thấy trần gian này chỉ là một chốn lưu đày (như chàng cùng tử xa xứ trong kinh Pháp Hoa), nhưng không biết quê nhà ở đâu, đành phải ngậm ngùi chấp nhận cuộc sống lưu đày là quê nhà (tác phẩm Lưu Ðày và Quê Nhà của A. Camus). Thật khác xa với kinh nghiệm của Ðại thừa trong cùng một lời nói: Sanh tử tức Niết bàn. Ở đây sanh tử tức Niết bàn của Ðại thừa là thấy được thực tướng của sanh tử là Niết bàn, khi ấy, giả tướng sanh tử bèn tiêu mất, chỉ còn thực tướng Niết bàn đi đâu cũng là Quê Nhà.

Chúng ta thấy rằng triết học hiện sinh đã giúp con người phản tỉnh nhìn lại thân phận hữu hạn của mình với những vấn đề muôn đời của nó, đặt con người trước nỗi cô đơn và trống rỗng khi đối diện với chính mình, đặt con người trước mặt cái chết không thể trốn tránh, nhìn lại tính cách phù phiếm của mọi sự thủ hữu. Có thể nói họ đã tiếp cận được chân lý đầu tiên của đạo Phật là Khổ đế. Nhưng họ không thể đi xa hơn để thấy được nguyên nhân của khổ, tức là Tập đế, nên không thể giải quyết vấn đề cho thân phận con người (Diệt đế và Ðạo đế). Do đó mà triết lý của họ trở thành bi quan, bế tắc. Bởi vì phản tỉnh để thấy được khổ, nhưng không giải quyết được khổ thì càng khổ hơn và không riêng gì triết lý hiện sinh mà cả văn chương, văn học nhân loại cũng chỉ luẩn quẩn trong vòng khổ đế.

Phải nói rằng có rất nhiều người, xưa cũng như nay, chỉ nhìn thấy Phật giáo ở giai đoạn Khổ đế này, cho nên có ý nghĩa rất sai lầm rằng Phật giáo là bi quan, yếm thế, là xuất thế, hư vô. Nếu chỉ dừng ở Khổ đế như triết học hiện sinh thì đạo Phật đã không là đạo Phật và không còn là một nguồn sống cho loài người cho tới ngày nay. Ðạo Phật thì tích cực rốt ráo, vì không chỉ nêu lên thân phận trói buộc của con người, mà còn tìm ra nguyên nhân của sự trói buộc, chặt đứt trói buộc để giải phóng thật sự con người bằng một con đường tất yếu. Có lẽ vì thế mà triết lý hiện sinh với những thủ lãnh trí thức và uy tín hàng đầu của văn hóa Tây phương chỉ nở rộ được trong vài thập niên giữa thế kỷ 20 và khi đạo Phật đã có mặt thật sự ở Tây phương, thì phong trào hiện sinh ở châu Âu và thế hệ Beatle ở Bắc Mỹ đã tàn lụi nhanh chóng.

Nếu dùng danh từ hiện sinh để chỉ sự nhấn mạnh vào cuộc sống hiện tại, đến sự cụ thể thực dụng của cái đang hiện tiền, không mơ tưởng hão huyền ở một giải pháp nơi một đời nào khác, một nơi nào khác, không phóng ảnh ra một thần linh ban ơn nào khác, thì phải nói không có một thứ hiện sinh nào hơn đạo Phật, cái hiện sinh của người đã diệt khổ, chánh niệm vào hiện tại, hiện tại lạc thú: 

 

Không hối tiếc quá khứ
Không chờ đợi tương lai
Sống vĩnh viễn hiện tại
Nên sắc thân sáng đẹp


(Tương ưng I, 6)

Ðó là cái hiện sinh "Niết bàn hiện tiền" của Lục Tổ Huệ Năng: "Cứ theo lời ông nói, tức là ngoài sắc thân riêng có Pháp thân, lìa sanh diệt để cầu tịch diệt (Niết bàn), lại suy luận Niết bàn thường lạc cho là có thân thọ dụng. Ðây là lầm chấp sanh tử, mê theo cái vui trần gian. Nay ông nên biết, Phật vì tất cả người mê nhận thân tướng năm uẩn là của mình, phân biệt đủ thứ pháp cho là tướng ngoại trần, ưa sanh, ghét tử, niệm niệm đổi dời, không biết là mộng huyễn hư giả, uổng chịu luân hồi, lấy Niết bàn thường lạc đổi thành tướng khổ, trọn kiếp tìm cầu. Phật vì thương những người mê ấy, chỉ dạy Niết bàn chơn lạc, trong sát na không có tướng sanh, trong sát na không có tướng diệt, lại không có sanh diệt nào để có thể diệt, ấy là Tịch Diệt Hiện Tiền. Chính ngay khi hiện tiền, mới gọi là thường lạc. Lạc ấy không có người thọ, cũng không có người chẳng thọ, há nói rằng Niết bàn ngăn cấm các pháp hay sao?"

Nguyễn thế Đăng

(NSGN, 12/96) 

  • Tứ trí nói lên sự trọn vẹn của cái thấy giải thoát từ lúc thể nghiệm nó và trên đó tu hành tấn tới, hiểu được tứ trí, chúng ta -nhất là những người tu hành đã nhận ra bản tâm, đã có sự thay đổi lớn trong thực hành sẽ nhận biết chúng ta còn phải thực hành nhiều hơn nữa. Xem ra cái thấy Pháp thân hay nhận ra tâm giải thoát là chưa đủ, mà còn nhiều công hạnh và thực hành nó thuần thục thể hiện qua tứ trí)..

    Tánh Hải ghi, đăng trên Fb' Nick Chiêm Hà Hải

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 210
  • (Trí là lìa tướng, thấu thoát các tướng, bi là tức tất cả các tướng, bao trùm tất cả các tướng, làm một với tất cả các tướng, trí và bi là hạnh của một Bồ Tát)..

    Tánh Hải ghi, đăng trên Fb' Nick Chiêm Hà Hải

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 197
  • (Ưa thích vô vi là thói quen thu vén vốn có của mình, ai cũng muốn được yên ổn an toàn, vì họ nghĩ tới mình là số một. Bài pháp này nói lên sự thật đó, cho nên kinh Duy Ma Cật có câu: “Không trụ vô vi, không hết hữu vi” để nói lên hạnh của Bồ Tát khác với chúng ta chỉ ưa thích vô vi thiếu tấm lòng của một chiến sĩ dấn thân)..

    Tánh Hải ghi, đăng trên Fb' Nick Chiêm Hà Hải

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 182
  • (Xưa nay chúng ta hiểu lầm và chia chẽ từ bi, và thấy khác nhau giữa ái kiến và từ bi mà không hiểu từ bi là tình thương, mới đầu là thương theo cái nghĩa là lòng nhân như từ bi là biểu hiện tình mẫu tử của động vật, tình đồng loại của loài sống bầy đàn, và thấp nhất là từ bi của cây rừng sống với nhau, bài giảng này cho chúng ta một cái nhìn xuyên suốt của từ bi từ thấp cho đến cao.
    Và từ bi mang tính sinh vật khi đã phát triển hết mức, thì chính từ bi vô ngã lại tiếp tục để cho người nào có tâm từ rộng hơn cống hiến nhiều hơn, phá vở sự nhỏ hẹp của từ bi ái kiến, rộng hơn là từ bi vô ngã hay từ bi của một vị Bồ Tát)..

    Tánh Hải ghi, đăng trên Fb' Nick Chiêm Hà Hải

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 169
  • (“Trí tuệ là độ sáng của mặt trời, từ bi là mang ánh sáng đó đi ra xa”, đây là một sự thật, có trí tuệ có từ bi và hoạt động vì người thì lúc đó trí tuệ sẽ mở rộng ra, đó là công hạnh của một Bồ Tát, công hạnh đó vừa bổ túc cho trí huệ vừa làm lợi lạc cho mọi người)..

    Tánh Hải ghi, đăng trên Fb' Nick Chiêm Hà Hải

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 175
  • (Bố thí như ngọn đèn là sự tỏa sáng của trí tuệ và từ bi, các hoạt động bố thí khác của tâm là làm sao phát hiện, đánh thức ánh sáng trí tuệ và từ bi này của nguồn tâm, nó là nguồn vô tận vượt thời gian và không gian, cho nên nó bố thí không dứt không dừng nghỉ cho dù có hay không có ai thọ thí hay không)..

    Tánh Hải ghi, đăng trên Fb' Nick Chiêm Hà Hải

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 178
  • Tánh Hải ghi, đăng trên Fb' Nick Chiêm Hà Hả (17 Jan 2018)

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 187
  • (Chúng ta đang sống đây là cuộc sống biểu hiện trên hai chân lý, chân lý tương đối là các hoạt động hình tướng biểu hiện muôn màu muôn việc của cuộc sống, và chân lý tuyệt đối là khả năng nhận biết tất cả những hoạt động kia, nó là người quan sát bất động, nó luôn luôn có mặt cho dù chúng ta có nhận biết điều đó hay không. Bài pháp này đánh thức chúng ta một sự thật. Chúng ta tin chúng ta quán sát, chúng ta tin sâu chúng ta sẽ thấy liền, bởi vì hai chân lý này lúc nào cũng bày hiện nơi cuộc sống ngay tại đây và bây giờ của chúng ta.
    Mời các bạn cùng thưởng thức!)..

    Tánh Hải ghi, đăng trên Fb' Nick Chiêm Hà Hải

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 175
  • (Trong bài giảng này có ba mức độ mà một người tu phải thực hành: trước là kinh nghiệm qua, rồi sau đó lần lần sống được với kinh nghiệm đó.
    Thứ nhất, phải thấy được tâm vô niệm, vô tâm hay tánh Không.
    Thứ hai phải thấy tư tưởng, và tâm phân biệt khởi lên từ nguồn tâm vô niệm này (đang khi sanh tức vô sanh)..

    Tánh Hải ghi, đăng trên Fb' Nick Chiêm Hà Hải

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 181
  • (Bản tánh của tham, sân, si là Như Lai Tạng, là giải thoát, cuộc đời này nhìn thấy cái khổ bày ra đó chẳng qua là hiện tướng của bình đẳng từ Như Lai Tạng. Đọc bài giảng để chúng ta tin và khám phá cho được cội nguồn của cuộc sống này)..

    Tánh Hải ghi, đăng trên Fb' Nick Chiêm Hà Hải

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 175
  • (Các vị Bồ tát giúp đỡ vô số chúng sanh có hiệu quả, có lợi ích là vì sao? Vì các ngài sống bằng tâm vô niệm, tâm không phân biệt. (Căn bản trí, và vô sai biệt Trí). Tâm bình đẳng, nền tảng của nó là không phân biệt hay vô niệm, đây là tâm mà chúng ta những người tu hành phải làm sao chứng nghiệm nó và sống được với nó trong cuộc đời tu hành của mình, từ tâm vô niệm, không phân biệt đó, chúng ta mới mong giúp ích và làm lợi lạc cho người khác được) .

    Tánh Hải ghi, đăng trên Fb' Nick Chiêm Hà Hải

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 149
  • (Vì chấp thân và tâm là thật cho nên tu hành là phải xa lìa nó để thấy tâm Vô niệm như thế nào, nhưng Vô niệm không phải chỉ là không còn dính mắc vào các niệm tưởng khi nó khởi sanh nữa, mà Vô Niệm phải thấu suốt được khi niệm sanh là cũng sanh từ tâm Vô niệm không phân biệt này. Cho nên dòng chảy của sự tu hành là: ban đầu là lìa niệm nhưng khi đã biết được tâm Vô Niệm thì Tâm lúc này tức tất cả niệm, tức tất cả tướng, tánh giác hợp nhất với các hình tướng, cho nên sanh tức vô sanh với chúng ta là một công án, nó phải được mở ra trong công phu tu tập của mỗi người, ai làm chưa được thì cố tu hành để phát hiện ra nơi tâm)..

    Tánh Hải ghi, đăng trên Fb' Nick Chiêm Hà Hải

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 153
  • (Bài giảng này, thầy dạy sâu hơn về người quan sát, đặc biệt thầy khai thị về người chấp ngã, con người luôn luôn bị thức thứ Bảy chỉ huy, mà thức thứ Bảy thì có bệnh: ngã si, ngã ái, ngã mạn, ngã kiến. Còn người quan sát thật sự là người đứng ngoài con người chấp ngã này, người quan sát là người giải thoát. Mời các bạn, thật hấp dẫn!)..

    Tánh Hải ghi, đăng trên Fb' Nick Chiêm Hà Hải

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 119
  • (Thầy dạy: chúng ta chưa biết tụng kinh là gì Tụng kinh là thả dòng nước tâm của mình vào biển đại nguyện của các Đại Bồ Tát, biển Tâm của Phật. Tụng kinh là làm cho tâm mình tương ưng với tâm của các bậc giải thoát biểu hiện qua lời kinh. Tụng kinh là thức tỉnh tiềm năng sẵn có của mình tương ưng với tiềm năng của các bậc giác ngộ diễn đạt trong kinh. Tụng kinh là giới, giới sinh định, định sinh huệ, khi huệ phát sinh, tự mình sẽ hiểu những câu kinh sâu xa mà không cần qua ý thức bình thường để hiểu. Tụng kinh như là thiền định, để tâm thức chúng ta diễn ra: cảm ứng đạo giao nan tư nghì. Tóm lại, tụng kinh có rất nhiều hiệu nghiệm, nếu mình biết được ý nghĩa của nó mà dụng công trong khi trì tụng, lợi ích với người trì tụng rất lớn!)..

    Tánh Hải ghi, đăng trên Fb' Nick Chiêm Hà Hải

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 167
  • (Đây là bài thầy giảng một câu trong kinh Hoa Nghiêm, bài giảng khá cao. Những ai tu hành đã cảm nhận được tâm giải thoát phần nào, nhưng nếu không được khai thị của người đi trước có kinh nghiệm, họ cũng thấy thế giới sống này chưa hoàn toàn giải thoát. Chúng ta phải thật nghiêm túc để hiểu vấn đề mà thầy đã giảng, không khéo chúng ta dễ bị thiên chấp, mà có những hành động bất chấp nhân quả thì không tốt, mời các bạn cùng thưởng thức!)..

    Tánh Hải ghi, đăng trên Fb' Nick Chiêm Hà Hải

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 147
  • (Phép lạ mà thầy dạy là sự thay đổi tâm thức chúng ta trong tu hành, khi bạn tu hành tha thiết thành thật, mạnh mẽ, thì tâm bớt đi che chướng và sự giải thoát hiển bày, khi làm quen với tâm giải thoát này mỗi mỗi trạng thái tâm lúc nào cũng mới mẻ, cảnh vật xung quanh mới mẻ, người tu tự thọ dụng cho nên nó là phép lạ! Biết vậy, theo lời chỉ dạy, chúng ta cố gắng thực hành để nếm phép lạ của Phật pháp.)..

    Tánh Hải ghi, đăng trên Fb' Nick Chiêm Hà Hải

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 138
  • (Con đường để nhận ra Tánh Giác, rất đơn giản và thẳng tắt, khi chúng ta thực hành theo sự chỉ dạy thẳng tắt này, chưa thực hành thành công vì chúng ta chưa đủ niềm tin, và thực hành chưa tập trung đủ lực. Muốn khám phá Tánh giác, chỉ nhìn vào sự phát sinh của một tư tưởng, thấy được ở đâu nó phát sanh là chạm mặt với Tánh giác, hay chỉ thắc mắc xem từ đâu mà mắt ta có thể thấy, cái gì là nguồn sinh ra cái thấy này? Thật đơn giản và thẳng tắt, nhưng tại sao chúng ta làm không được?
    Bài pháp trực chỉ này cống hiến các bạn cuối năm nay. Món ăn ngày Tết rất ngon nhưng cũng khó ăn, mời các bạn thưởng thức!)..

    Tánh Hải ghi, đăng trên Fb' Nick Chiêm Hà Hải

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 157
  • (Tin và thực hành. Lời dạy của thầy thật thẳng tắt và có người không thể hiểu được. Biết vọng là biết cho đến nguồn tâm sinh ra vọng, nguồn tâm giải thoát thành ra vọng sinh cũng giải thoát. Thật tuyệt vời! chúng ta có tin và thực hành cho tới nơi không? Mời các bạn!)..

    Tánh Hải ghi, đăng trên Fb' Nick Chiêm Hà Hải

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 155
  • (Tất cả chúng ta tu hành dù tu pháp nào ban đầu cũng dựa vào phương tiện, cụ thể như: tu thiền, tu trì chú, tu niệm Phật… nhưng chúng ta phải biết tất cả những phương tiện nào được ứng dụng đều bắt nguồn từ pháp tánh, do đó công phu tu tập trên phương tiện ứng dụng của chúng ta là để trở về nguồn pháp tánh, nguồn của phương tiện, và khi chúng ta chứng ngộ được cội nguồn của pháp, lúc đó mọi phương tiện chính là pháp tánh, chúng ta sẽ tu hành mọi lúc mọi nơi, bởi vì lúc đó phương tiện chính là cứu cánh, thể và dụng hợp nhất, tất cả pháp đều là Phật pháp. Mời các bạn thưởng thức.) ..

    Tánh Hải ghi, đăng trên Fb' Nick Chiêm Hà Hải

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 133
  • (Kinh Lăng Nghiêm dạy: Như Lai Tạng thì trùm khắp pháp giới, tùy theo nghiệp của chúng sanh mà ứng hiện ra tất cả các hình tướng, đó là nguyên lý, vì vậy biết vọng là chúng ta theo đó mà truy tìm nơi xuất phát một tư tưởng, truy tới nguồn tâm là Như Lai Tạng, chứng thực nguồn tâm là giải thoát, chúng ta sẽ thấy tư tưởng, hay vọng tưởng tự giải thoát như chính nguồn tâm sinh ra nó.
    Đây là một cách khai thị thực hành trực tiếp, chúng ta có niềm tin thì theo đó mà thực hành. Lời dạy thật thẳng tắt và đơn giản nhưng không tin không thực hành thì không thể cảm nhận được. Mời các bạn) .

    Tánh Hải ghi, đăng trên Fb' Nick Chiêm Hà Hải

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 134

Top Bài Viết

Top Music

Top Book Mp3

Top Music Album

 
© Copyright 2009 - 2020 anphat.org - Chịu trách nhiệm nội dung: Thị Đức bienman0811@yahoo.com - Hỗ trợ kỹ thuật votamthoai@gmail.com