Chùa Tây Tạng và Mật Tông Tây Tạng

Trãi qua hàng bao nhiêu thế kỷ, Tây Tạng vẫn là một vùng đất huyền bí đối với phần còn lại của thế giới.
Năm 1904, quân đội Anh đã tấn công vào Tây Tạng vì lo sợ sự ảnh hưởng của Nga tại đất nước này. Họ thẳng tay bắn giết dân lành và các nhà sư vô tội để buộc chính quyền nơi đây phải giao thương với họ. Sau đó ít lâu, thấy thời tiết quá khắc nghiệt, tài nguyên lại không có gì đáng khai thác hay buôn bán nên người Anh  kéo quân về, sau khi đã ký với người Trung Hoa một hiệp ước nhìn nhận Hoàng Đế Trung Hoa có chủ quyền với quốc gia này. Sự kiện đó đã mở màn cho những thảm hoạ và quang vinh cho Phật giáo Tây Tạng về sau.
Từ đây, người Tây Tạng lại càng có cuộc sống khép kín và các dân tộc khác ít có cơ hội để tìm hiểu họ.
Thế nhưng, họ càng biệt lập, người Tây phương lại càng bị kích thích phải nghiên cứu về họ nhiều hơn. Các nhà học giả khởi sự tìm học và giới thiệu Tây Tạng với thế giới qua các tác phẩm sáng tác hoặc dịch thuật. Một số người muốn đích thân đến tận vùng đất này, “mục sở thị” để có thể hiểu biết một cách tường tận và chính xác hơn.
 Vào đầu thế kỷ 20, nhà văn Heirich Harrer phải đi bộ vài năm mới tới được Tây Tạng để sống và viết cho thế giới cuốn tiểu thuyết “Bảy năm ở Tibet”. Sau này đạo diễn Jean-Jacquest Annaud và diễn viên lừng danh Brad Pitt đã dựng thành phim cùng tên. Bộ phim làm người xem xúc động sâu xa và không khỏi xót thương cho thân phận của một dân tộc hiếu hoà, sùng đạo mà lại bị súng đạn của thế giới văn minh tàn sát không thương xót.
 Nổi tiếng nhất trong số này phải kể đến bà Alexandra David-Neel (1868-1969), người Pháp. Bà là phóng viên chuyên viết về châu Á và đạo Phật cho các báo và tạp chí của Anh và Pháp. Bà đã đi nhiều nơi trên thế giới, từ Âu châu cho đến Bắc Phi. Vào năm 1911, bà bắt đầu đến Ấn Độ, Nepal, Sikkim để chuẩn bị thực hiện cuộc hành trình quan trọng nhất của đời bà: Tây Tạng. Bà tiếp tục nghiên cứu đạo Phật và học tiếng Tây Tạng. Trong bảy năm sau đó bà du hành đến các vùng đất xa xôi nhất của Trung Hoa, lúc này đang là thời kỳ nội chiến nên đôi lúc bà lâm vào những  tình cảnh rất là nguy hiểm. Đến năm 1924, lúc đã 56 tuổi, không thể chờ đợi lâu hơn, David-Neel quyết định hoá trang thành một người hành khất xấu xí và bắt đầu vượt biên giới Tây Tạng. Bà đến được thủ đô Lhasa nổi tiếng mà không ai có thể nhận ra đó là một người châu Âu. David-Neel tiếp tục chịu đựng nhiều thử thách khủng khiếp nữa trước khi trở về Pháp vào năm 1926. Sau đó bà bỏ ra nhiều năm để viết lại những gì đã trãi nghiệm trên đất nước xa xăm ấy. Bà tiếp tục công việc của mình và chỉ dừng lại khi đã qua đời, lúc chỉ còn cách 7 tuần nữa là đúng sinh nhật lần thứ 101 của bà.
Cách chuyến đi của người phụ nữ tuyệt vời này khoảng 10 năm, từ một vùng đất có tên là Thủ Dầu Một ở Việt Nam, một nhà sư đã lặng lẽ một thân một mình ra đi về miền đất linh thiêng ấy.
Nhà sư đó là ngài Minh Tịnh ( 18888-1941), sinh ngày Rằm tháng bảy năm Kỷ Sửu (1888), tại làng An Thạnh thuộc Búng-Lái Thiêu, tỉnh Bình Dương, trong một gia đình khá giả. Hồi thơ ấu Ngài thọ quy y với Hoà Thượng trụ trì Chùa Sắc Tứ Thiên Tôn( Búng) được đặt pháp danh Nhẫn Tế. Sau ngài thọ giới cụ túc với tổ sư Huệ Đăng ở Thiên Thai-Bà Rịa và có pháp hiệu là Minh Tịnh. Vì vậy nên người ta gọi Ngài là Nhẫn Tê’thiền sư, hay có khi lại là Minh Tịnh Thiền sư.
Vào ngày 17 tháng 4 năm 1935, Ngài xuống bến nhà Rồng, bắt đầu cuộc hành trình vạn dặm về xứ Phật. Đến Ấn Độ, Ngài được các vị Lạt ma từ Tây Tạng qua đón rước về Tây Tạng. Ngài đến Lhasa vào tháng 6 năm 1936, tại đây Ngài cầu pháp với Lama quốc vương. Trên đường đi, Ngài tận dụng cơ hội đến chiêm bái nhiều Phật tích và chùa chiền nổi tiếng. Trong một dịp như thế, Ngài đã thỉnh được ít xá lợi Phật hết sức quý báo, điều không phải ai cũng  làm được.
Sau khi đạt thành chí nguyện, Ngài trở về nước vào ngày 30 tháng 6 năm 1937. Lúc đầu Ngài lập chùa Thiên Chơn ( phía sau chợ Búng, thuộc xã An Thạnh ), về sau do có người cúng dường, Ngài cho  xây dựng một ngôi chùa mới có tên là Tây Tạng ở cạnh đường Thích Quảng Đức, thuộc làng Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một. Chùa nằm trên một ngọn đồi nhỏ rợp bóng những tàng cổ thụ xanh mát, góp phần tạo cho nơi đây thêm vẻ tôn nghiêm, tĩnh mịch. Cách khu chợ nhộn nhịp ở thị xã không bao xa, thế nhưng khi chậm bước theo lối đi quanh co lượn theo ngọn đồi để lên chùa, khách mộ đạo có cảm giác như đang bước theo đường núi lên một ngôi chùa cổ của thời xa xưa, tâm hồn chìm đắm trong bầu không khí tâm linh thanh tịnh, siêu thoát.
Từ đó, ngôi chùa này ngày càng thu hút đông tín đồ đến tu học hay lễ bái. Toạ lạc trên một vùng đất nổi tiếng có nhiều ngôi nhà xưa và chùa cổ hàng đầu trên đất Nam bộ, ngày nay đây là ngôi chùa gây được  sự chú ý của khách thập phương xa gần hàng đầu của tỉnh.
Vào năm 2004, một vị Lạt Ma phái áo đỏ người Tây Tạng (đang là giáo sư tại một trường đại học Phật giáo lớn cuả Ấn Độ) làm cuộc hành trình ngược lại, từ Aán Độ đã tìm cách lặn lội sang đến tận tỉnh Bình Dương  để chiêm bái ngôi chùa Tây Tạng. Trong buổi gặp gở diễn ra vài tiếng đồng hồ, ông được cho xem nhiều hình ảnh ghi dấu chuyến đi của Ngài Minh Tịnh thưở xưa và cuốn nhật ký của Ngài. Vị Lạt Ma cho biết rằng không hiểu vì sao mà từ lâu ông đã bị thôi thúc trong tâm phải tìm đến ngôi chùa này, và đến ngày hôm đó ông mới được toại nguyện.
Những sự kiện nêu trên khiến một số học giả, các nhà nghiên cứu văn hoá và tôn giáo quan tâm tìm hiểu chùa Tây Tạng. Để lí giải cho hiện tượng trên, theo tôi có đôi điều cần làm sáng tỏ. Xứ Tây Tạng có những đặc điểm gì mà hôm  nay ngày càng thu hút sự chú ý của nhiều người như thế, đặc biệt là giới trí thức khoa học ưu tú củaTây phương? Và vì sao mà Ngài Minh Tịnh phải cất công khó nhọc để thực hiện chuyến đi xa xôi gian khổ ấy?

Lược sử Mật Tông Tây Tạng:
Toàn bộ phía nam của Tây Tạng nằm trên dãy Hymalaya, trong đó có nhiều ngọn núi cao nhất thế giới như Everest (8850m), Namzha (7756m)... Đây cũng là nơi bắt nguồn của nhiều con sông lớn và rất dài trên lục địa châu Á như sông Aán, sông Hằng, sông Mekong, sông Trường Giang, sông Hoàng Hà. Nằm ở độ cao trung bình 4875m so với mặt nước biển nên  người ta đã mô tả đất nước này là “nóc nhà của thế giới”, nơi mà núi, mây và băng tuyết quanh năm như hoà quyện vào nhau.
Dường như người Tây Tạng đã di cư vào khu vực thung lũng sông Hoàng Hà và ở chung với các nhóm dân du mục Trung Á, Thổ Nhĩ Kỳ ...từ thưở xa xưa.Theo truyền thuyết, vị vua cai quản đầu tiên của lảnh thổ này đã đến từ Aán Độ trong bối cảnh chiến tranh kéo dài như đã được mô tả trong bộ đại sử thi Mahabharata ( gần 100.00 khổ thơ).
Thuyết thứ hai, đượm nhiều nét thần thoại hơn, cho rằng vào khoảng 400 năm trước Dương Lịch, có vị thần đã leo một cái thang dài thả từ trên Trời để xuống trần và trở thành vị vua đầu tiên cai trị đất nước này, Ngài có tên là Nyatri Sangpo. Truyền đến đời thứ 9, vua Pudegungyal cho phổ biến đạo Bôn, một tôn giáo thờ từ thần Thiện đến thần Aùc, chủ yếu cầu xin sự trợ giúp của thế lực siêu nhiên để thoả mãn những ước muốn và tham vọng trần thế. Đây là một đạo phù thủy có nhiều điểm tương đồng với những nhà phù thuật Ba Tư , trộn lẫn với niềm tin của phái Bái Vật giáo, thường sử dụng bùa chú, cúng tế..
 Sử Tây-Tạng còn ghi chép rằng vào năm 137 trước CN, Phật giáo đã bắt đầu được truyền bá đến đây. Nhưng với căn trí yếu kém và ảnh hưởng của đạo Bôn còn mạnh nên dân chúng khi ấy thờ ơ với đạo Phật, tuy vậy lúc này cũng  đã kịp để xây dựng nên ngôi chùa đầu tiên. Kế đó vào năm 371 sau DL, một số tăng lữ truyền giáo khác lại vào Tây Tạng, lần  này cũng chưa có kết quả khả quan , dân tin đạo hãy còn ít.
Ngày xưa Tây Tạng được chia thành các tiểu quốc, đến thế kỷ thứ 6  thì vua Gnamri Srong-brtsan ( Luân Tán Lộng Nang) đã thống nhất các tiểu quốc lại thành một quốc gia duy nhất. Đến thế kỷ thứ 7 sau Công nguyên, dân tộc Tây Tạng trở nên hùng mạnh. Dưới triều vua Srong-brtsan-sgam-bo (Tùng Tán Can Bố,617-651), đất nước này bành trướng ra đến Nepal, xâm chiếm nhiều vùng khác ở phía Bắc Ấnn Độ, Miến Điện, thậm chí còn tạo được mối bang giao qua hôn nhân với công chúa triều đaị nhà Đường. Họ tấn công vào biên giới Trung quốc, du nhập các kỹ thuật canh nông tiên tiến của quốc gia này.
 Chính từ đây, sự phát triển của Phật giáo đã thâm nhập vào xã hội Tây Tạng. Nhà vua cử nhiều học giả, sử gia sang Ấnn Độ học ngôn ngữ Sanskrit để san định thành chữ viết Tây Tạng, dịch kinh sách, xây chùa chiền, truyền bá đạo trong dân gian. Các tu viện Phật giáo to lớn nối tiếp được xây dựng, trở thành  trung tâm tu học và đã đào tạo được rất nhiều cao tăng đắc đạo.
Năm 1641, Nhà vua Mông Cổ Altan Khan phong cho phương trượng thứ 5  của trường phái Gelugpa ( Hoàng giáo) là Đạt-lai Lạt-ma, nguyên nghĩa là “Đạo sư với trí tuệ như biển cả”. Ngài trở thành người lãnh đạo chính trị và tinh thần của Tây Tạng. Từ đó, các vị Đạt lai Lạt ma kế tiếp nhau nắm quyền cai trị Tây Tạng và đồng thời là vị lãnh đạo cao nhất về tôn giáo ở quốc gia. Trãi qua 13 thế kỷ vàng son, Phật giáo trở thành quốc giáo của xứ sở này. Ngày nay dù có một ít người theo Hồi giáo, Kitô giáo và Hindu, đa số dân Tây Tạng vẫn theo tôn giáo truyền thống là Lạt Ma giáo. Đây là một nhánh của đạo Phật, với hình thức phát triển cao nhất là Phật giáo Mật tông.
Vị Đạt –lai Lạt-ma hiện nay, Tenzin Gyatso là vị thứ 14, sinh năm 1933, lên ngôi năm 1940. Năm 1951, Trung Hoa xâm chiếm Tây Tạng và chính thức sáp nhập quốc gia này vào lãnh thổ của mình. Từ đây Tây Tạng trở thành vùng tự trị  tương đương cấp tỉnh thuộc Trung Quốc. Sau cuộc vùng lên của nhân dân Tây Tạng chống lại Trung Quốc bất thành vào năm 1959, ngài Đạt lai Lạt ma rời sang Ấn Độ, và từ đó lưu vong khắp nơi trên thế giới. Ngài đã từng được trao giải Nobel Hoà Bình, và cùng với thiền sư Nhất Hạnh của  Việt Nam, được xem là hai người châu Á có công rất lớn trong việc truyền bá Phật giáo ra khắp nơi trên thế giới hiện nay.
Một trong những sự kiện quan trọng đáng ghi nhớ nhất trong quá trình phát triển Phật giáo Tây Tạng diễn ra vào thế kỷ 8, khi vua Trisong Detsen (755_797) cho thỉnh vị cao tăng Ấn Độ là Ngài Padmasambhava sang hoằng pháp. Người Tây Tạng gọi ông là Guru Rimpoche ( vị Đạo Sư Quí Báu )hay Padmajungne ( Liên Hoa Sanh), Mahasiddhas ( Đại Sư Toàn Năng). Vào năm 750, Ngài cho thành lập một tu viện gần Lhasa. Với sự hiện diện của Ngài , đạo Phật được truyền bá khắp nơi. Ngài được xem là vị tổ sư của Phật giáo Mật tông ( Exoteric) khi từ Aán Độ đã đem theo tất cả kinh Mật tông bằng tiếng Phạn theo cùng,vì vậy mà hiện nay chỉ có Tây Tạng là có đủ tất cả các kinh điển của tông phái này. Ngài đã dịch kinh sách ấy ra tiếng Tây Tạng và truyền dạy giáo lý Mật tông cho 25 người đệ tử, trong đó có cả nhà vua , và sự truyền thừa đó vẩn tiếp tục cho đến ngày nay.
Tây Tạng từ đó được xem là thánh địa của Mật tông, một giáo phái luôn ẩn chứa điều gì đó hấp dẩn mọi người dù thực sự ít ai biết nhiều về nó.


Cổng Chùa Tây Tạng-Bình Dương
Giới thiệu về Mật Tông :
Hồi còn tại thế Phật chia làm hai thừa kinh điển: Tiểu thừa và Đại thừa. Về sau có những người như học giả Ấn Độ Tripitakamala chia giáo lý đức Phật ra làm ba: Tiểu thừa, Đại thừa Hiển giáo và Đại thừa Mật giáo.
Đại Thừa Mật giáo thường gọi là Mật Tông, hay Chơn Ngôn tông, tiếng Phạn gọi là Tantra (Lời dạy chơn thật, mầu nhiệm, bí mật). Vị giáo chủ bí mật của Mật tông là Đức Đại Nhật Như Lai, chuyển danh là Đại-Tỳ-Lô-Giá-Na-Phật ( Phạn ngữ MAHAVAROCANA). Ứng thân của Ngài là Đức Phật Thích Ca ở tại cõi Ta Bà, tức thế giới mà ta đang sống. Sau khi thành đạo vào ngày thứ bảy, Ngài đã vì Ngài Kim-Cang Tát-Đoả và các vị Đại Bồ Tát ở mười phương thế giới khác đến tập hội mà thuyết giảng giáo pháp bí mật. Đó chính là  khởi nguyên của Mật tông. Ngài Kim Cang sau đó đã chép lại thành hai bộ kinh là Đại-Nhật và Kim-Cang-Đảnh, mỗi bộ có khoảng mười vạn bài tụng. Ngài Bồ Tát Kim Cang Tát Đoả vì vậy được xem là vị Sơ tổ của tông phái này.
Viện Đại học Nalanda là trường đại học Phật giáo đầu tiên và lớn nhất ở Aán Độ, được vua nước Magadha là Shakraditya thành lập vào thế kỷ thứ hai. Đây là nơi giảng dạy và tu tập của các luận sư nổi tiếng như Long Thọ,Thánh Thiên,Vô Trước, Thế Thiên.. Lúc đông nhất nơi đây có đến mười ngàn học viên. Các khách phương xa như Huyền Trang, Pháp Hiển, Nghĩa Tịnh đều ghé nơi đây tu học. Trường này kéo dài được 1000 năm thì bị tín đồ Hồi giáo phá huỷ vào thế kỷ 12, 13. (Vào năm 1351, ở Tây Tạng người ta xây dựng một học viện khác cũng có tên là Nalanda để tưởng nhớ tu viện này). Từ đây các vị cao tăng ra đi hoằng pháp khắp nơi, góp phần lan truyền đạo Phật đến các nước khác trên thế giới.
Ngài Kim Cang Bồ Tát truyền pháp cho Ngài Long Thọ( NaGarjona 150-250 dl), một người miền Nam Ấn Độ. Ngài Long Thọ đã thuyết giảng triết lý Trung Quán. Mật tông cũng như các tông phái Đại thừa khác đều đặt cơ sở trên lập trường Tánh Không của Ngài, vì vậy Ngài được xem là bực thầy của 8 tông phái đại thừa, trong đó có cả Mật tông. Mật giáo sau đó đã sớm được phổ biến về hướng Bắc để sang Tây Tạng, Trung Hoa và Nhật bản. Về hướng Nam để qua mấy xứ Tích-Lan, Miến-Điện, Nam-Dương, Cao-Miên, Lào...
Ở Tây Tạng có chín phái Phật giáo theo giáo huấn của Tiểu thừa, Đại thừa và Kim Cương thừa, trong số này có bốn tông phái chính như sau:
1/ Nyingmapa: được khai sáng bởi Ngài Padmasambhava. Những vị Lạt ma buổi đầu và các đệ tử của họ theo giáo phái này gọi là phái Mũ Đỏ hay Hồng phái ( Red Hat sect). Các giáo sĩ đạo Bon (thường gọi là Black Hat sect _phái Mũ Đen)đã chống trả lại quyết liệt ảnh hưởng của tông phái này, và trong cả thế kỷ tôn giáo mới đã bị đàn áp quyết liệt.
2/ Kagyupa (Hồng phái): Do Marpa Chokyl Lodoe khai sáng vào đầu thế kỷ thứ 10 sau TL. Ngài đã truyền 6 pháp Thiền quán về Mật tông và Đại Thủ Ấn cho Ngài Marpa, và Ngài Marpa truyền lại cho Milarepa (1040-1123), vị này có hàng ngàn đệ tử, từ đó tông phái này phát triển mạnh mẽ và truyền thừa liên tục mãi cho đến ngày nay.
3/ Kadampa (Hồng phái): Năm 1042, một nhà cải cách tên là Atisa (984-1054), một vị tăng người Ấn đến Tây Tạng thống nhất giới tăng lữ, phục hưng đạo đức bằng cách thiết lập các môn qui và cố gắng loại bỏ những vết tích lễ bái của đạo Bon ra khỏi tôn giáo, lập nên giáo phái Kadampa. Ngài Atisa đã cho dịch ra rất nhiều kinh Mật tông từ tiếng Phạn sang tiếng Tây Tạng và truyền dạy giáo lý cho rất nhiều đệ tử.
4/ Gelugpa: còn gọi là phái Mũ vàng (Hoàng phái). Từ thế kỷ thứ 13 ( 1270 đến 1340 ), vua Mông Cổ Kublai Khan đã trao quyền cai trị cho các tăng lữ Tây Tạng. Trong những năm này, nạn tham nhũng,  hối lộ và sự suy thoái đaọ đức trong xã hội đã gây nên sự bất bình trong công luận. Cuối cùng, một nhà cải cách vĩ đại xuất hiện, vị Lạt ma Tsong-kha-pa ( 1357-1419).
Ông tái tổ chức lại xã hội, lập lại kỷ cương phép nước, đặt ra nhiều điều luật nghiêm khắc. Ông đã xây nhiều tu viện lớn như Drepung (1416), Sera (1419) cùng ba tu viện lớn ở Lhasa có thể chứa đến 10.000 người. Công cuộc cải cách này đã lập nên một tông phái mới gọi là giáo phái Gelukpa ( Virtuous ), thường được gọi là giáo phái Mũ vàng ( Yellow Hat sect ). Giáo phái này nhanh chóng được truyền bá khắp nơi, ảnh hưởng lan xa đến tận Mông Cổ.
Trong bốn tông phái kể trên thì chỉ có tông phái Gelupa, phái mũ vàng (Geluk) là các vị xuất gia còn các tông phái Nyingmapa, Kagyupa, Sakyapa- gọi chung phái mũ đỏ (Karma Kagyu)thì đa số là các vị cư sĩ tại gia, vì vậy mà rất nhiều người không hiểu nói là các sư Tây Tạng thường phạm giới luật Sa di khi có vợ con và nếp sống giống như người thế tục.
Mỗi một tông phái đều có phương pháp tu hành khác nhau nhưng tất cả các tông phái đều cùng thực hành 4 bậc Mật tông đó là:
 1/ Hành động ( Action tantra): các hoạt động bên ngoài giữ phần chính, do vậy còn gọi là Lễ bái mật tông.
2/ Thực hành ( Performance tantra ): Hoạt động bên ngoài và thiền định bên trong được thực hành đồng đều. Còn gọi Nghi thức mật tông.
3/ Du già ( Yoda tantrta ): Thiền định bên trong giữ phần chính. Còn gọi Thiền Quán mật tông.
4/ Nghi quỹ du già tối thượng ( Non-dual tantra ): hành giả thực hành một pháp môn không giống với bất cứ pháp môn nào khác. Tối Thượng Mật tông hay Nghi Quỹ Du Già tối thượng là pháp cần thiết để khắc phục những chướng ngại cực vi tế cho sự toàn giác.
Ở tại Việt Nam khi nói đến Mật tông là nói đến hai loại Mật tông đầu đó là  Lễ Bái Mật tông và Nghi Thức Mật tông. Chư tăng và Phật tử Việt Nam sở dĩ không có tin việc tu hành theo Mật tông trong một đời mà có thể thành Phật là bởi vì không có ai hiểu biết thấu triệt về Thiền Quán Mật tông và Tối Thượng Mật tông.
Mật tông, về mặt giáo lý có hai phần là Hiển giáo và Mật giáo:
Hiển Giáo: là tất cả giáo lý Tiểu thừa, Đaị thừa, và tất cả các Kinh, Luật, Luận của họ.
Mật giáo: Triết lý và phương pháp hành trì của Mật tông căn bản vẫn xây dựng theo tiến trình Giới Định Huệ, cũng cần phải tu tập các hạnh bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ ( thường gọi sáu phép Ba La Mật) như tất cả mọi đường lối tu tập khác của Hiển giáo.
Tuy nhiên Mật tông đặt nặng về Gia Trì Lực của chư Phật Bổn Tôn nên hay có nhiều sự thần thông biến hóa, nhiều phương pháp tu tập không giống các tông phái khác như :Thiền Quán Tưởng Đức Phật Bổn Tôn, phương pháp tạo đồ hình Mạn Đà La, phương pháp Tự Thọ Quán Đảnh, phương pháp Hàng Phục Thiên Long Quỷ Thần... Hai bộ kinh quan trọng hơn hết là: kinh Đại Nhật và kinh Kim Cang Đảnh.Nếu kể thêm ba bộ kinh Tô Tất Địa, Du Ký và Yếu lược niệm tụng thì có 5 bộ kinh Mật tôn căn bản. Ngoài ra hằng trăm bộ kinh khác của Mật giáo cũng đã được đúc kết cả ngàn năm nay, tuy thế ít phổ biến về giáo thuyết mà lại nói nhiều về phương cách thực hành các oai lực của thần chú.
 Các kinh về Thiền quán Mật tông và Tối thượng Mật tông thì chỉ có trong Đại Tạng Kinh Tây Tạng mà thôi chứ không có trong kinh điển Hán.Ngay cả khi Ngài Huyền Trang thỉnh kinh Phật từ Aán Độ về thì cũng chỉ đem về một số lượng rất là ít ỏi so với hàng ngàn bộ kinh Mật tông bằng tiếng Tây Tạng và tiếng Phạn hiện vẫn được gìn giữ rất cẩn thận trong các tu viện Tây Tạng.
Các phương pháp hành trì quan trọng của Mật tông là phép niệm thần chú , phép bắt Aán và thiết lập Man-da-la (Tạng ngữ là Kyilkhor) theo đúng nghi thức cũng như các lần Quán-đỉnh. Hầu hết các phương pháp tu luyện đều đặt căn bản trên sự tụng niệm, lập đi lập lại nhiều lần các câu thần chú. Mật chú thường đưoc giấu kín vì không thích hợp với tâm tánh của nhiều người, những người có động cơ không trong sạch sẽ làm tổn hại đến mình và người khác nếu họ thực hành những phép này.
Tin tưởng vào sự đắc qủa trong một kiếp là đặc điểm riêng của các tông Đại thừa. Thế nhưng trong khi khẩu quyết của Thiền là “tức tâm tức Phật”, tâm người chính là Phật, Mật tông chủ trương “tức thân thành Phật”, thân này nếu xa lìa hết ngã chướng thì không khác gì thân Phật.
Sự khác biệt giữa hai phái Đại thừa Hiển và Mật còn ở phương pháp, đó là đặc điểm Thần linh quán của Mật giáo. Trái ngược với Thiền “an trú tính Không”, tát cả là không, Mật tông lại vận dụng trí tưởng tượng tới mức tối đa trong phép quán tưởng. Thần linh quán được cho là phương pháp trọn vẹn có khả năng đem lại Phật quả nhanh nhất. Trong pháp môn này, hành giả thiền quán rõ rệt hình ảnh một vị thần hộ mạng cho mình, ví dụ nữ thần Tara hay Quán Thế Âm Bồ Tát. Đây là đặc tính của Mật thừa không có trong kinh điển Đại thừa.
Mật tông là lối tu hành cao nhất và cam go nhất. Cần phải có trí huệ thượng thừa mới có thể lãnh hội hết ý nghĩa thậm thâm của kinh điển Mật giáo, vì một số kinh văn chỉ biệt truyền cho vài đệ tử hội đủ căn cơ thích hợp nên bao giờ cũng có những đoạn văn cực kỳ tinh tế và rất khó nhận biết nếu như chúng không được diễn giải đầy đủ. Đó là lý do vì sao  Mật tông không được truyền bá rộng rãi.

Mật Tông tại Việt Nam:
Bắc tông ở Việt Nam có ba phái chính là Thiền tông, Tịnh Độ tông và Mật tông. Riêng tại Việt Nam sau triều đại Đinh Lê Lý Trần các chùa không có ai đắc truyền về Mật giáo, nên không có sư đệâ tương truyền. Các chùa đâu đâu vào lúc bốn giờ sáng cũng có trì tụng khoá bảng của Mật giáo như Đại Bi và Thập chú và hơn nữa trong các thời kinh sáng, trưa, tối...các sư ở Việt nam cũng như Nhật Bản đều có trì tụng chú Đại Bi để khởi đầu các thời kinh. Chú này được rút ra trong kinh “Thiên Thủ Thiên Nhãn Đại Bi Tâm Đàlani”, một bản kinh chú lớn của Mật giáo được tín đồ Phật tử tụng niệm. Thế nhưng khi hỏi về Mật tông gần như không ai hiểu rõ. Thậm chí như phái Trúc-lâm Yên-tử tuy chịu ảnh hưởng của Mật tông nhiều cũng vẫn giữ sắc thái Thiền tông sâu đậm. Vết tích còn lại của Mật tông ngày nay là một ít Linh phù treo nơi các chùa cổ, những câu chú trong kinh sách và những tượng Phổ Hiền, A Di Đà, Quán Thế Âm, Địa Tạng, Văn Thù, Phổ Hiền, Đại Nhật Quang...thờ chung với các tông khác. Riêng ở Huế thì còn một ít truyền thống với nghi thức thiết lập Trai đàn chẩn tế đúng theo phương pháp Mật tông.
Bác sĩ Maillie (trong tạp chí La pensee bouddhique, Janvier 1955) cho biết ông đã từng mua được một quyển sách nhỏ trong một tiệm bán đồ cổ ở Chợ Lớn có tựa là “ Mchodrten” của Mật tông viết bằng chữ Tây Tạng. Sự kiện này chứng tỏ rằng Mật tông có thể đã được truyền đến Việt Nam bằng kinh điển do các nhà sư Trung Hoa đem lại.
Ở Việt Nam cho đến nay có một số vị chuyên về Mật như Thượng Toạ Thích Viên Đức, từng tu luyện và dịch thuật rất nhiều kinh sách Mật, trong đó có phần thụôc bộ Đại Tạng Kinh Trung Hoa.
Kế đến là Hoà Thượng Thích Phổ Ứng tại Linh quang Tịnh xá ở đường Nguyễn Khoái, Khánh Hội, mỗi ngày thường chữa trị bệnh cho người khác...
Trước 75, giáo sư Đại học Vạn Hạnh Ngô Trọng Anh, nguyên Bộ Trưởng Bộ Công Chánh đã trình bày đề tài về Mật tông tại Viện Đại học Vạn Hạnh vào ngày 4-6-1967, với chủ đề” Mật-Tông Phật-giáo dưới mắt người Tây-phương” cho thấy giáo sư là người đã dày công nghiên cứu và có vốn hiểu biết khá uyên bác về lãnh vực này...
Như đã trình bày, Mật tông được tin tưởng là phương pháp tu hành có hiệu quả nhanh chóng nhưng cần phải được sự hướng dẫn trực tiếp và riêng biệt của một vị thầy đã chứng ngộ, nếu chỉ dựa vào kinh sách mà tu có thể gặp nhiều chướng ngại nguy hiểm đến tính mạng. Hơn nữa kinh sách bí truyền về Mật tông không dễ chi tìm được. Đó là lý do vì sao Mật tông dù đã được truyền bá đi nhiều quốc gia từ xa xưa nhưng chỉ có Tây Tạng là nơi tông phái này gặp đủ nhân duyên để phát triển.
Thế kỷ 20 mở ra một hướng nhìn khác về tôn giáo này với phần còn lại của thế giới. Ở Việt Nam ngày càng có nhiều sách được viết và dịch về Mật tông. Nhiều người dọ dẫm thử tu theo pháp môn này, thế nhưng các kinh sách chỉ đủ thoả mãn cho lãnh vực tri thức, còn sử dụng để tu tập thì chưa ai dám thâm tín đủ để đem cả sinh mệnh mình ra mà giao hoàn toàn cho sách vở.
Chính vì vậy, sự kiện nhà sư Minh Tịnh đã lặn lội sang đến tận Tây Tạng và tu tập một thời gian dài với sự hướng dẫn trực tiếp của các đại sư Tây Tạng gợi lên niềm hy vọng cho những người đam mê với pháp môn huyền bí này trong nước. Nhiều người từ nơi xa xôi đã tìm đến đây với ước mong khám phá được điều gì đó mới mẻ. Những người khác, thì cảm thấy hứng khởi để nghiên cứu và sáng tác về ngôi chùa này. Từ những năm 50,  Bình Nguyên Lộc đã viết một truyện ngắn có tựa đề “Nắng chiều”, nhà sư Minh Tịnh được hư cấu thành nhân vật chính trong truyện.
Đến chùa Tây Tạng, từ kiến trúc đến cách bày biện tượng, tranh ảnh cũng như việc sử dụng các bùa  chú trong nghi thức phóng sanh, quy y  hay tẫn liệm cho thấy ảnh hưởng rõ nét cuả Mật tông Tây Tạng. Thế nhưng nếu tìm hiểu sâu thêm, dường như dấu vết của Mật tông Tây Tạng cũng chỉ có ngần ấy.
Đến nay nhà sư Minh Tịnh còn lưu lại nhiều hình ảnh trong một quyển nhật ký ghi chép chuyến đi Tây Tạng của ông, có thể xem như một Tây Tạng ký. Thứ hai là quyển Lăng Nghiêm Tông Thông do Ngài dịch lại từ bản tiếng Hán từ năm 1944 đến 1950 thì hoàn tất. Đây là một trong những quyển kinh sách quan trọng của Đại thừa, thường được giảng dạy cho tăng chúng tại chùa cho đến nay. Trong phần tiểu sử của Ngài in trong sách này có đoạn:
“ Sau một trăm ngày ở Tây Tạng, Ngài được Đại Thượng Toạ Lama Quốc Vương ngự ý ban cho pháp danh THUBTEN OSALL LAMA và ấn chứng sở đắc Pháp Giáo Ngoại Biệt Truyền, Bất Lập Văn Tự, Trực Chỉ Chơn Tâm Kiến Tánh Lập Địa Thành Phật tại  triều đình nước Tây Tạng”
( Lăng Nghiêm Tông Thông tr.8, xb. 1997)
Nội dung của phần tiểu sử này được chính chúng đệ tử đời thứ ba của Tây Tạng viết ra thể hiện khá rõ tính chất Thiền tông  của nhà chùa, có lẽ là căn cứ đáng tin và là sự xác định khá rõ ràng, dứt khoát về pháp môn tu tập của chùa, tránh đi những sự ngộ nhận hay suy diễn sai lạc khác.
Gần đây có đôi ba bài viết giới thiệu về ngôi chùa độc đáo này đăng trên tập san Khoa Học Lịch Sử Bình Dương của các nhà nghiên cứu có uy tín, cung cấp rất nhiều tư liệu hữu ích về chùa Tây Tạng và vị Sư tổ sáng lập. Tuy nhiên do nhận thấy có vài điểm mâu thuẫn lẫn nhau trong các bài viết này, tôi xin được nhân đây trao đổi thêm vài điều như sau:
Trong bài : “Chùa Tây Tạng-dấu ấn Phật giáo Mật tông ở Việt Nam”, tác giả Tiến sĩ Trần Hồng Liên viết:
“Qua cách bài trí tượng thờ, người xem còn có thể hiểu hơn về sự thâm nhập khá sâu sắc của Phật giáo Trung quốc vào Tây Tạng dưới nhiều triều đại liên tiếp của Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh...để cho những pho tượng của Bồ Đề Đạt Ma, của tranh Lục Tổ Huệ Năng, của Quan Thánh Đế Quân...đã có mặt trong chùa Tây Tạng.”
 ( tr.32)
Đây là luận điểm chính yếu của bài víêt, tác giả dựa vào đây làm cơ sở phân tích, lý giải về tính chất đặc biệt của ngôi chùa:” Sự đan xen, giao hoà văn hoá trong ngôi chùa Tây Tạng đã gíới thiệu ba luồng văn hoá của Phật giáo Tây Tạng, Phật giáo Việt Nam và Phật giáo Hoa tông...”
Đọc lại lịch sử Phật giáo, ta biết rằng từ Ấn Độ, các cao tăng đã đi truyền dạy những pháp môn khác nhau ở nhiều quốc gia châu Á. Theo thời gian, tuỳ thuộc bối cảnh văn hoá, xã hội, tính chất của từng dân tộc, có những pháp môn đã sớm được đón nhận và phát triển bền vững, ngược lại cũng có những tông phái chỉ sau một thời gian thì mai một dần.
Nếu như Thiền tông khi gặp một nền tảng văn hoá Nho, Lão như rồng mây gặp hội, thì Mật tông đã chóng suy tàn tại các quốc gia này mà trở thành quốc giáo ở vùng đất mà đạo Bôn với tính chất huyền thuật cổ truyền lại rất thích hợp với nó . Do vậy chúng ta nhận thấy không có cơ sở để cho rằng Phật giáo đã được “thâm nhập sâu sắc vào Tây Tạng từ Trung quốc” mà theo hướng ngược lại, chính từ Tây Tạng, Mật tông đã từng có thời kỳ gieo rắc ảnh hưởng tại Trung quốc thì hợp lý hơn.
 Về phương diện lịch sử ta biết rằng Mật tông được truyền vào Trung Quốc vào thế kỷ thứ 7 sau Tây lịch, khởi đầu với ba vị cao tăng Ấn Độ là:
Thiên Vô Úy ( 637-735), Kim Cang Trí (663-723), Bất- Không Kim Cương( 705-774).
Bất Không là quốc sư của ba triều vua: Huyền tôn, Túc tôn, Đại Tôn. Ông dịch cả thảy 110 bộ kinh, gồm 143 quyển, trong đó có bộ quan trọng nhất là Kim Cang Đảnh. Sau khi sư mất thì Mật tông suy tàn vì không có vị đạo sư nào từ Aán Độ đến nữa. Trường phái này được đại sư Không Hải đưa qua Nhật dưới tên gọi là Chơn Ngôn tông, ngài là môn đệ đời thứ hai của Bất Không.
Trong thể loại truyện kiếm hiệp, ta thấy có rất nhiều vị cao tăng Tây Tạng đến Trung Nguyên, thường được mô tả là có võ công cao cường và quái dị, giới võ lâm rất nể phục họ. Về mặt lịch sử, có thể kể một vài trường hợp như sau:
Karma Pakshi (1204-1283) được mời đến Mông Cổ bởi Hoàng tử Mongka Khan. Khi ở Trung Hoa, trong một vài dịp Ngài đã biểu lộ năng lực thần thông để phụ trợ cho công việc hoằng pháp. Phái Karma Kagyu dưới sự lãnh đạo của các vị Gyalwa Karmapa có một lịch sử lâu dài và rực rỡ, trãi rộng từ  Ladakh đến Trung Hoa.Vị Karmapa thứ năm Dezhin Shegpa (1384-1415) từng là Quốc sư của vua trung Hoa.
Chính vì những điểm này, bài viết của tác giả Hồng Liên gây cho chúng tôi ít nhiều thắc mắc cũng là điều dễ hiểu.
 Ở một đoạn khác, bà Hồng Liên viết:
“ Bên cạnh đó, nét riêng của kiến trúc tháp tổ trong vườn chuà, thể hiện qua tháp của Hoà Thượng Minh Tịnh, là một ngọn tháp lục giác, theo phong cách tháp tổ thường có ở Việt Nam.Tháp được trang trí bằng hai thứ chữ Phạn và Hán”
Về điểm này, tác giả Huệ Thông lại trình bày khác đi :
“ Thiền sư Minh Tịnh viên tịch vào ngày 17-5-1951 (năm Tân Mão), thọ 63 tuổi, đồ chúng lập tháp thờ trong khuôn viên chùa Thiên Chơn.”
(tr.32)
Tại khuôn viên chùa Tây Tạng hiện nay, ở trước sân phía trái chùa có một ngôi tháp là nơi an nghỉ của một người đệ tử của Ngài Minh Tịnh, phía tay phải có một ngôi tháp khác mới xây vài năm nay chưa chôn cất ai. Như vậy có thể tác giả Hồng Liên đã nhầm lẫn chăng?
 Cũng liên quan đến vị sư này, trong tập san số 1, tác giả Nguyễn Hiếu Học viết: “Có người xem ngài như một “Tiểu Huyền Trang” của TDM, của Việt Nam.”( tr.47)
 Huệ Thông đã phủ nhận quan điểm này:
“ Không thể so sánh với nhà học giả uyên thâm cả về đạo học lẫn thế học của Trần Huyền Trang đời Đường Trung Hoa sang Tây Thiên Trúc thỉnh kinh.”(tr.11, tập san số 2)
Vào thời điểm bộ phim Tây Du Ký được chiếu lần đầu trên truyền hình với sự diễn xuất tuyệt vời của Lục Tiểu Linh Đồng đã gây nên cơn sốt lôi cuốn hàng triệu khán giả nước ta. Ngay vào thời điểm này, một tờ báo đã trích đăng một phần các trang nhật ký của Ngài Minh Tịnh, cho thấy rằng giữa hai chuyến đi có nhiều điểm dễ làm người ta liên tưởng đến nhau.  Chuyến đi của Ngài còn làm chúng ta nhớ đến cuộc hành trình của các nhà sư Trung quốc thời xưa như Pháp Hiển, Nghĩa Tịnh...Mỗi người một cảnh ngộ, một mục đích riêng nhưng tất cả đều làm người đời bái phục và ngưỡng mộ ý chí bất khuất kiên cường, khả năng chịu đựng khó nhọc phi thường của họ.
Nếu như Đại học giả Huyền Trang đã thành công khi thỉnh được rất nhiều kinh sách đem về Trung quốc và chính Ngài lại bỏ ra nhiều năm ròng rã dịch các kinh này ra chữ Hán để truyền bá Phật pháp vào Trung quốc. Ngài Minh Tịnh, với đại nguyện tầm sư học đạo đã được vinh hạnh chấp thuận ở lại tu học ngay tại Tây Tạng. Cũng may mắn hơn bà David-Neel phải cải trang làm một người hành khất, sư được đón rước khá long trọng bởi chính vua quan và tể tướng của xứ sở này.
Chúng ta không hiểu vì sao Huệ Thông lại phủ nhận mạnh mẽ sự so sánh này. Có thể chính vì mục đích chuyến đi của hai nhân vật này theo sự lý giải của tác giả là hoàn toàn khác nhau:
 Huệ Thông:“ Trong quan niệm của hầu hết những người tu theo đạo Phật đều có một ước nguyện là một lần trong đời được đến chiêm bái Phật tích ( từ động tâm) nơi ra đời và hành đạo của đức Phật Thích Ca.” (tr.11)
Ít nhất một lần trong đời phải hành hương về Thánh Địa là một điều luật bắt buộc cho tất cả tín đồ Hồi giáo đã được quy định rõ ràng trong sách luật của tôn giáo này. Với Phật giáo, trong Tam Tạng kinh điển của họ chúng ta sẽ không tìm thấy một câu nói nào tương tự về việc “một lần trong đời được đến chiêm bái Phật tích”. Đâu là mục đích thực sự của chuyến đi hết sức gian khổ này? Các đệ tử chùa Tây Tạng trả lời như sau:
“ Trải qua thời gian, phần lớn là tự tu, thấy không thoả mãn chí nguyện, Ngài lên đường đi Ấn Độ tầm sư học đạo.”
(Lăng Nghiêm Tông Thông tr.7, xb. 1997)
Nếu chỉ chiêm bái Phật tích, sau khi đến Nepal Ngài có thể mãn nguyện trở về,thế nhưng:
“Tháng tư năm Aát Hợi (1935), Ngài  đến Aán Độ. Trong thời gian trên đất Aán, Ngài tuỳ thuận phong tục, đắp y theo xứ Srilanka. Ở Ấn Độ, Ngài cũng không thấy thoả mãn, lại muốn sang Tây Tạng học hỏi”
( Lăng Nghiêm Tông Thông tr.7, xb. 1997)
Truyền thống du phương tầm sư học đạo đã có từ lâu đời trong kinh điển Phật giáo. Trong kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài Đồng Tử  đã đến hỏi đạo đến 48 vị Thiện Tri Thức ở khắp bốn phương trời. Đọc lịch sử Thiền tông ( bộ Thìên Luận của Suzuki chẳng hạn)ta thấy rằng ra đi tầm sư học đạo thuộc về sinh hoạt thường lệ và có tính truyền thống của các thiền giả. Nếu xét chuyến đi của Ngài Minh Tịnh ở phương diện này, ta thấy giữa Ngài và Huyền Trang có những tương đồng rất đáng kể trên nhiều phương diện, sự so sánh hai người này với nhau một cách bình đẳng là điều không có gì “ không thể so sánh” như Huệ Thông đã mạnh mẽ phủ nhận như thế.
Ở một đoạn khác, ngài Huệ Thông lại viết như sau:
 “ Hoà Thượng từng kêu gọi trong giới Phật giáo phải dồn hết sức mình tham gia vào cụôc kháng chiến. Ngài nói:” Khi nào còn chiến tranh thì một viên ngói, một viên gạch cũng không đưoc xây chùa...”
( Minh Tịnh, vị thiền sư đất Thủ Dầu Một và cuộc hành trình Tây Trúc tr.12.)
Trước năm 1975, đất nước lâm vào cảnh chiến tranh khói lửa. Lúc này do ngưỡng mộ chùa, một số người giàu có phát tâm cúng dường tiền bạc để xây dựng lại chùa, trong số này có bà Bảy Lìn là một thương gia gìau có nổi tiếng nhất của tỉnh Bình Dương thời đó. Trước các đề nghị này Ngài MinhTịnh đều từ chối, do dự tri được những diễn biến của tình hình đất nước. Khi chết, Ngài còn để lại di huấn rằng: “Ngày nào còn chiến tranh thì một viên ngói của chùa có hư cũng không được sửa”. Đến năm 1992, trong bài diễn văn đọc  nhân dịp buổi lễ khởi công xây dựng chùa  mới, chúng đệ tử của chùa đã nhắc lại di huấn của Tổ sư. Sự việc là vậy, không hiểu vì sao tác giả Huệ Thông lại trích dẩn và lý giải khác xa với nội dung câu nói trên như thế.
Rất có thể Ngài Minh Tịnh đã nói hai câu khác nhau vào hai thời điểm và hoàn cảnh khác nhau. Nếu thế rất mong tác giả Huệ Thông trình bày cụ thể và rõ ràng hơn.
Viết về chùa Tây Tạng là một đề tài lý thú và xứng đáng để nhọc công, thế nên bài viết này hy vọng góp phần nhỏ vào loạt bài quí gía của các tác giả kể trên, ước mong có thể giúp cho những người quan tâm có thêm tư liệu để tìm hiểu về ngôi chùa này ở một góc nhìn khác.
Những sai sót của bài viết là điều khó tránh khỏi, rất mong được sự lượng thứ và chỉ bảo của các bậc tri thức gần xa.
Trãi qua hàng bao nhiêu thế kỷ, Tây Tạng vẫn là một vùng đất huyền bí đối với phần còn lại của thế giới.
Năm 1904, quân đội Anh đã tấn công vào Tây Tạng vì lo sợ sự ảnh hưởng của Nga tại đất nước này. Họ thẳng tay bắn giết dân lành và các nhà sư vô tội để buộc chính quyền nơi đây phải giao thương với họ. Sau đó ít lâu, thấy thời tiết quá khắc nghiệt, tài nguyên lại không có gì đáng khai thác hay buôn bán nên người Anh  kéo quân về, sau khi đã ký với người Trung Hoa một hiệp ước nhìn nhận Hoàng Đế Trung Hoa có chủ quyền với quốc gia này. Sự kiện đó đã mở màn cho những thảm hoạ và quang vinh cho Phật giáo Tây Tạng về sau.
Từ đây, người Tây Tạng lại càng có cuộc sống khép kín và các dân tộc khác ít có cơ hội để tìm hiểu họ.
Thế nhưng, họ càng biệt lập, người Tây phương lại càng bị kích thích phải nghiên cứu về họ nhiều hơn. Các nhà học giả khởi sự tìm học và giới thiệu Tây Tạng với thế giới qua các tác phẩm sáng tác hoặc dịch thuật. Một số người muốn đích thân đến tận vùng đất này, “mục sở thị” để có thể hiểu biết một cách tường tận và chính xác hơn.
 Vào đầu thế kỷ 20, nhà văn Heirich Harrer phải đi bộ vài năm mới tới được Tây Tạng để sống và viết cho thế giới cuốn tiểu thuyết “Bảy năm ở Tibet”. Sau này đạo diễn Jean-Jacquest Annaud và diễn viên lừng danh Brad Pitt đã dựng thành phim cùng tên. Bộ phim làm người xem xúc động sâu xa và không khỏi xót thương cho thân phận của một dân tộc hiếu hoà, sùng đạo mà lại bị súng đạn của thế giới văn minh tàn sát không thương xót.
 Nổi tiếng nhất trong số này phải kể đến bà Alexandra David-Neel (1868-1969), người Pháp. Bà là phóng viên chuyên viết về châu Á và đạo Phật cho các báo và tạp chí của Anh và Pháp. Bà đã đi nhiều nơi trên thế giới, từ Âu châu cho đến Bắc Phi. Vào năm 1911, bà bắt đầu đến Ấn Độ, Nepal, Sikkim để chuẩn bị thực hiện cuộc hành trình quan trọng nhất của đời bà: Tây Tạng. Bà tiếp tục nghiên cứu đạo Phật và học tiếng Tây Tạng. Trong bảy năm sau đó bà du hành đến các vùng đất xa xôi nhất của Trung Hoa, lúc này đang là thời kỳ nội chiến nên đôi lúc bà lâm vào những  tình cảnh rất là nguy hiểm. Đến năm 1924, lúc đã 56 tuổi, không thể chờ đợi lâu hơn, David-Neel quyết định hoá trang thành một người hành khất xấu xí và bắt đầu vượt biên giới Tây Tạng. Bà đến được thủ đô Lhasa nổi tiếng mà không ai có thể nhận ra đó là một người châu Âu. David-Neel tiếp tục chịu đựng nhiều thử thách khủng khiếp nữa trước khi trở về Pháp vào năm 1926. Sau đó bà bỏ ra nhiều năm để viết lại những gì đã trãi nghiệm trên đất nước xa xăm ấy. Bà tiếp tục công việc của mình và chỉ dừng lại khi đã qua đời, lúc chỉ còn cách 7 tuần nữa là đúng sinh nhật lần thứ 101 của bà.
Cách chuyến đi của người phụ nữ tuyệt vời này khoảng 10 năm, từ một vùng đất có tên là Thủ Dầu Một ở Việt Nam, một nhà sư đã lặng lẽ một thân một mình ra đi về miền đất linh thiêng ấy.
Nhà sư đó là ngài Minh Tịnh ( 18888-1941), sinh ngày Rằm tháng bảy năm Kỷ Sửu (1888), tại làng An Thạnh thuộc Búng-Lái Thiêu, tỉnh Bình Dương, trong một gia đình khá giả. Hồi thơ ấu Ngài thọ quy y với Hoà Thượng trụ trì Chùa Sắc Tứ Thiên Tôn( Búng) được đặt pháp danh Nhẫn Tế. Sau ngài thọ giới cụ túc với tổ sư Huệ Đăng ở Thiên Thai-Bà Rịa và có pháp hiệu là Minh Tịnh. Vì vậy nên người ta gọi Ngài là Nhẫn Tê’thiền sư, hay có khi lại là Minh Tịnh Thiền sư.
Vào ngày 17 tháng 4 năm 1935, Ngài xuống bến nhà Rồng, bắt đầu cuộc hành trình vạn dặm về xứ Phật. Đến Ấn Độ, Ngài được các vị Lạt ma từ Tây Tạng qua đón rước về Tây Tạng. Ngài đến Lhasa vào tháng 6 năm 1936, tại đây Ngài cầu pháp với Lama quốc vương. Trên đường đi, Ngài tận dụng cơ hội đến chiêm bái nhiều Phật tích và chùa chiền nổi tiếng. Trong một dịp như thế, Ngài đã thỉnh được ít xá lợi Phật hết sức quý báo, điều không phải ai cũng  làm được.
Sau khi đạt thành chí nguyện, Ngài trở về nước vào ngày 30 tháng 6 năm 1937. Lúc đầu Ngài lập chùa Thiên Chơn ( phía sau chợ Búng, thuộc xã An Thạnh ), về sau do có người cúng dường, Ngài cho  xây dựng một ngôi chùa mới có tên là Tây Tạng ở cạnh đường Thích Quảng Đức, thuộc làng Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một. Chùa nằm trên một ngọn đồi nhỏ rợp bóng những tàng cổ thụ xanh mát, góp phần tạo cho nơi đây thêm vẻ tôn nghiêm, tĩnh mịch. Cách khu chợ nhộn nhịp ở thị xã không bao xa, thế nhưng khi chậm bước theo lối đi quanh co lượn theo ngọn đồi để lên chùa, khách mộ đạo có cảm giác như đang bước theo đường núi lên một ngôi chùa cổ của thời xa xưa, tâm hồn chìm đắm trong bầu không khí tâm linh thanh tịnh, siêu thoát.
Từ đó, ngôi chùa này ngày càng thu hút đông tín đồ đến tu học hay lễ bái. Toạ lạc trên một vùng đất nổi tiếng có nhiều ngôi nhà xưa và chùa cổ hàng đầu trên đất Nam bộ, ngày nay đây là ngôi chùa gây được  sự chú ý của khách thập phương xa gần hàng đầu của tỉnh.
Vào năm 2004, một vị Lạt Ma phái áo đỏ người Tây Tạng (đang là giáo sư tại một trường đại học Phật giáo lớn cuả Ấn Độ) làm cuộc hành trình ngược lại, từ Aán Độ đã tìm cách lặn lội sang đến tận tỉnh Bình Dương  để chiêm bái ngôi chùa Tây Tạng. Trong buổi gặp gở diễn ra vài tiếng đồng hồ, ông được cho xem nhiều hình ảnh ghi dấu chuyến đi của Ngài Minh Tịnh thưở xưa và cuốn nhật ký của Ngài. Vị Lạt Ma cho biết rằng không hiểu vì sao mà từ lâu ông đã bị thôi thúc trong tâm phải tìm đến ngôi chùa này, và đến ngày hôm đó ông mới được toại nguyện.
Những sự kiện nêu trên khiến một số học giả, các nhà nghiên cứu văn hoá và tôn giáo quan tâm tìm hiểu chùa Tây Tạng. Để lí giải cho hiện tượng trên, theo tôi có đôi điều cần làm sáng tỏ. Xứ Tây Tạng có những đặc điểm gì mà hôm  nay ngày càng thu hút sự chú ý của nhiều người như thế, đặc biệt là giới trí thức khoa học ưu tú củaTây phương? Và vì sao mà Ngài Minh Tịnh phải cất công khó nhọc để thực hiện chuyến đi xa xôi gian khổ ấy?

Lược sử Mật Tông Tây Tạng:
Toàn bộ phía nam của Tây Tạng nằm trên dãy Hymalaya, trong đó có nhiều ngọn núi cao nhất thế giới như Everest (8850m), Namzha (7756m)... Đây cũng là nơi bắt nguồn của nhiều con sông lớn và rất dài trên lục địa châu Á như sông Aán, sông Hằng, sông Mekong, sông Trường Giang, sông Hoàng Hà. Nằm ở độ cao trung bình 4875m so với mặt nước biển nên  người ta đã mô tả đất nước này là “nóc nhà của thế giới”, nơi mà núi, mây và băng tuyết quanh năm như hoà quyện vào nhau.
Dường như người Tây Tạng đã di cư vào khu vực thung lũng sông Hoàng Hà và ở chung với các nhóm dân du mục Trung Á, Thổ Nhĩ Kỳ ...từ thưở xa xưa.Theo truyền thuyết, vị vua cai quản đầu tiên của lảnh thổ này đã đến từ Aán Độ trong bối cảnh chiến tranh kéo dài như đã được mô tả trong bộ đại sử thi Mahabharata ( gần 100.00 khổ thơ).
Thuyết thứ hai, đượm nhiều nét thần thoại hơn, cho rằng vào khoảng 400 năm trước Dương Lịch, có vị thần đã leo một cái thang dài thả từ trên Trời để xuống trần và trở thành vị vua đầu tiên cai trị đất nước này, Ngài có tên là Nyatri Sangpo. Truyền đến đời thứ 9, vua Pudegungyal cho phổ biến đạo Bôn, một tôn giáo thờ từ thần Thiện đến thần Aùc, chủ yếu cầu xin sự trợ giúp của thế lực siêu nhiên để thoả mãn những ước muốn và tham vọng trần thế. Đây là một đạo phù thủy có nhiều điểm tương đồng với những nhà phù thuật Ba Tư , trộn lẫn với niềm tin của phái Bái Vật giáo, thường sử dụng bùa chú, cúng tế..
 Sử Tây-Tạng còn ghi chép rằng vào năm 137 trước CN, Phật giáo đã bắt đầu được truyền bá đến đây. Nhưng với căn trí yếu kém và ảnh hưởng của đạo Bôn còn mạnh nên dân chúng khi ấy thờ ơ với đạo Phật, tuy vậy lúc này cũng  đã kịp để xây dựng nên ngôi chùa đầu tiên. Kế đó vào năm 371 sau DL, một số tăng lữ truyền giáo khác lại vào Tây Tạng, lần  này cũng chưa có kết quả khả quan , dân tin đạo hãy còn ít.
Ngày xưa Tây Tạng được chia thành các tiểu quốc, đến thế kỷ thứ 6  thì vua Gnamri Srong-brtsan ( Luân Tán Lộng Nang) đã thống nhất các tiểu quốc lại thành một quốc gia duy nhất. Đến thế kỷ thứ 7 sau Công nguyên, dân tộc Tây Tạng trở nên hùng mạnh. Dưới triều vua Srong-brtsan-sgam-bo (Tùng Tán Can Bố,617-651), đất nước này bành trướng ra đến Nepal, xâm chiếm nhiều vùng khác ở phía Bắc Ấnn Độ, Miến Điện, thậm chí còn tạo được mối bang giao qua hôn nhân với công chúa triều đaị nhà Đường. Họ tấn công vào biên giới Trung quốc, du nhập các kỹ thuật canh nông tiên tiến của quốc gia này.
 Chính từ đây, sự phát triển của Phật giáo đã thâm nhập vào xã hội Tây Tạng. Nhà vua cử nhiều học giả, sử gia sang Ấnn Độ học ngôn ngữ Sanskrit để san định thành chữ viết Tây Tạng, dịch kinh sách, xây chùa chiền, truyền bá đạo trong dân gian. Các tu viện Phật giáo to lớn nối tiếp được xây dựng, trở thành  trung tâm tu học và đã đào tạo được rất nhiều cao tăng đắc đạo.
Năm 1641, Nhà vua Mông Cổ Altan Khan phong cho phương trượng thứ 5  của trường phái Gelugpa ( Hoàng giáo) là Đạt-lai Lạt-ma, nguyên nghĩa là “Đạo sư với trí tuệ như biển cả”. Ngài trở thành người lãnh đạo chính trị và tinh thần của Tây Tạng. Từ đó, các vị Đạt lai Lạt ma kế tiếp nhau nắm quyền cai trị Tây Tạng và đồng thời là vị lãnh đạo cao nhất về tôn giáo ở quốc gia. Trãi qua 13 thế kỷ vàng son, Phật giáo trở thành quốc giáo của xứ sở này. Ngày nay dù có một ít người theo Hồi giáo, Kitô giáo và Hindu, đa số dân Tây Tạng vẫn theo tôn giáo truyền thống là Lạt Ma giáo. Đây là một nhánh của đạo Phật, với hình thức phát triển cao nhất là Phật giáo Mật tông.
Vị Đạt –lai Lạt-ma hiện nay, Tenzin Gyatso là vị thứ 14, sinh năm 1933, lên ngôi năm 1940. Năm 1951, Trung Hoa xâm chiếm Tây Tạng và chính thức sáp nhập quốc gia này vào lãnh thổ của mình. Từ đây Tây Tạng trở thành vùng tự trị  tương đương cấp tỉnh thuộc Trung Quốc. Sau cuộc vùng lên của nhân dân Tây Tạng chống lại Trung Quốc bất thành vào năm 1959, ngài Đạt lai Lạt ma rời sang Ấn Độ, và từ đó lưu vong khắp nơi trên thế giới. Ngài đã từng được trao giải Nobel Hoà Bình, và cùng với thiền sư Nhất Hạnh của  Việt Nam, được xem là hai người châu Á có công rất lớn trong việc truyền bá Phật giáo ra khắp nơi trên thế giới hiện nay.
Một trong những sự kiện quan trọng đáng ghi nhớ nhất trong quá trình phát triển Phật giáo Tây Tạng diễn ra vào thế kỷ 8, khi vua Trisong Detsen (755_797) cho thỉnh vị cao tăng Ấn Độ là Ngài Padmasambhava sang hoằng pháp. Người Tây Tạng gọi ông là Guru Rimpoche ( vị Đạo Sư Quí Báu )hay Padmajungne ( Liên Hoa Sanh), Mahasiddhas ( Đại Sư Toàn Năng). Vào năm 750, Ngài cho thành lập một tu viện gần Lhasa. Với sự hiện diện của Ngài , đạo Phật được truyền bá khắp nơi. Ngài được xem là vị tổ sư của Phật giáo Mật tông ( Exoteric) khi từ Aán Độ đã đem theo tất cả kinh Mật tông bằng tiếng Phạn theo cùng,vì vậy mà hiện nay chỉ có Tây Tạng là có đủ tất cả các kinh điển của tông phái này. Ngài đã dịch kinh sách ấy ra tiếng Tây Tạng và truyền dạy giáo lý Mật tông cho 25 người đệ tử, trong đó có cả nhà vua , và sự truyền thừa đó vẩn tiếp tục cho đến ngày nay.
Tây Tạng từ đó được xem là thánh địa của Mật tông, một giáo phái luôn ẩn chứa điều gì đó hấp dẩn mọi người dù thực sự ít ai biết nhiều về nó.


Cổng Chùa Tây Tạng-Bình Dương

Giới thiệu về Mật Tông :
Hồi còn tại thế Phật chia làm hai thừa kinh điển: Tiểu thừa và Đại thừa. Về sau có những người như học giả Ấn Độ Tripitakamala chia giáo lý đức Phật ra làm ba: Tiểu thừa, Đại thừa Hiển giáo và Đại thừa Mật giáo.
Đại Thừa Mật giáo thường gọi là Mật Tông, hay Chơn Ngôn tông, tiếng Phạn gọi là Tantra (Lời dạy chơn thật, mầu nhiệm, bí mật). Vị giáo chủ bí mật của Mật tông là Đức Đại Nhật Như Lai, chuyển danh là Đại-Tỳ-Lô-Giá-Na-Phật ( Phạn ngữ MAHAVAROCANA). Ứng thân của Ngài là Đức Phật Thích Ca ở tại cõi Ta Bà, tức thế giới mà ta đang sống. Sau khi thành đạo vào ngày thứ bảy, Ngài đã vì Ngài Kim-Cang Tát-Đoả và các vị Đại Bồ Tát ở mười phương thế giới khác đến tập hội mà thuyết giảng giáo pháp bí mật. Đó chính là  khởi nguyên của Mật tông. Ngài Kim Cang sau đó đã chép lại thành hai bộ kinh là Đại-Nhật và Kim-Cang-Đảnh, mỗi bộ có khoảng mười vạn bài tụng. Ngài Bồ Tát Kim Cang Tát Đoả vì vậy được xem là vị Sơ tổ của tông phái này.
Viện Đại học Nalanda là trường đại học Phật giáo đầu tiên và lớn nhất ở Aán Độ, được vua nước Magadha là Shakraditya thành lập vào thế kỷ thứ hai. Đây là nơi giảng dạy và tu tập của các luận sư nổi tiếng như Long Thọ,Thánh Thiên,Vô Trước, Thế Thiên.. Lúc đông nhất nơi đây có đến mười ngàn học viên. Các khách phương xa như Huyền Trang, Pháp Hiển, Nghĩa Tịnh đều ghé nơi đây tu học. Trường này kéo dài được 1000 năm thì bị tín đồ Hồi giáo phá huỷ vào thế kỷ 12, 13. (Vào năm 1351, ở Tây Tạng người ta xây dựng một học viện khác cũng có tên là Nalanda để tưởng nhớ tu viện này). Từ đây các vị cao tăng ra đi hoằng pháp khắp nơi, góp phần lan truyền đạo Phật đến các nước khác trên thế giới.
Ngài Kim Cang Bồ Tát truyền pháp cho Ngài Long Thọ( NaGarjona 150-250 dl), một người miền Nam Ấn Độ. Ngài Long Thọ đã thuyết giảng triết lý Trung Quán. Mật tông cũng như các tông phái Đại thừa khác đều đặt cơ sở trên lập trường Tánh Không của Ngài, vì vậy Ngài được xem là bực thầy của 8 tông phái đại thừa, trong đó có cả Mật tông. Mật giáo sau đó đã sớm được phổ biến về hướng Bắc để sang Tây Tạng, Trung Hoa và Nhật bản. Về hướng Nam để qua mấy xứ Tích-Lan, Miến-Điện, Nam-Dương, Cao-Miên, Lào...
Ở Tây Tạng có chín phái Phật giáo theo giáo huấn của Tiểu thừa, Đại thừa và Kim Cương thừa, trong số này có bốn tông phái chính như sau:
1/ Nyingmapa: được khai sáng bởi Ngài Padmasambhava. Những vị Lạt ma buổi đầu và các đệ tử của họ theo giáo phái này gọi là phái Mũ Đỏ hay Hồng phái ( Red Hat sect). Các giáo sĩ đạo Bon (thường gọi là Black Hat sect _phái Mũ Đen)đã chống trả lại quyết liệt ảnh hưởng của tông phái này, và trong cả thế kỷ tôn giáo mới đã bị đàn áp quyết liệt.
2/ Kagyupa (Hồng phái): Do Marpa Chokyl Lodoe khai sáng vào đầu thế kỷ thứ 10 sau TL. Ngài đã truyền 6 pháp Thiền quán về Mật tông và Đại Thủ Ấn cho Ngài Marpa, và Ngài Marpa truyền lại cho Milarepa (1040-1123), vị này có hàng ngàn đệ tử, từ đó tông phái này phát triển mạnh mẽ và truyền thừa liên tục mãi cho đến ngày nay.
3/ Kadampa (Hồng phái): Năm 1042, một nhà cải cách tên là Atisa (984-1054), một vị tăng người Ấn đến Tây Tạng thống nhất giới tăng lữ, phục hưng đạo đức bằng cách thiết lập các môn qui và cố gắng loại bỏ những vết tích lễ bái của đạo Bon ra khỏi tôn giáo, lập nên giáo phái Kadampa. Ngài Atisa đã cho dịch ra rất nhiều kinh Mật tông từ tiếng Phạn sang tiếng Tây Tạng và truyền dạy giáo lý cho rất nhiều đệ tử.
4/ Gelugpa: còn gọi là phái Mũ vàng (Hoàng phái). Từ thế kỷ thứ 13 ( 1270 đến 1340 ), vua Mông Cổ Kublai Khan đã trao quyền cai trị cho các tăng lữ Tây Tạng. Trong những năm này, nạn tham nhũng,  hối lộ và sự suy thoái đaọ đức trong xã hội đã gây nên sự bất bình trong công luận. Cuối cùng, một nhà cải cách vĩ đại xuất hiện, vị Lạt ma Tsong-kha-pa ( 1357-1419).
Ông tái tổ chức lại xã hội, lập lại kỷ cương phép nước, đặt ra nhiều điều luật nghiêm khắc. Ông đã xây nhiều tu viện lớn như Drepung (1416), Sera (1419) cùng ba tu viện lớn ở Lhasa có thể chứa đến 10.000 người. Công cuộc cải cách này đã lập nên một tông phái mới gọi là giáo phái Gelukpa ( Virtuous ), thường được gọi là giáo phái Mũ vàng ( Yellow Hat sect ). Giáo phái này nhanh chóng được truyền bá khắp nơi, ảnh hưởng lan xa đến tận Mông Cổ.
Trong bốn tông phái kể trên thì chỉ có tông phái Gelupa, phái mũ vàng (Geluk) là các vị xuất gia còn các tông phái Nyingmapa, Kagyupa, Sakyapa- gọi chung phái mũ đỏ (Karma Kagyu)thì đa số là các vị cư sĩ tại gia, vì vậy mà rất nhiều người không hiểu nói là các sư Tây Tạng thường phạm giới luật Sa di khi có vợ con và nếp sống giống như người thế tục.
Mỗi một tông phái đều có phương pháp tu hành khác nhau nhưng tất cả các tông phái đều cùng thực hành 4 bậc Mật tông đó là:
 1/ Hành động ( Action tantra): các hoạt động bên ngoài giữ phần chính, do vậy còn gọi là Lễ bái mật tông.
2/ Thực hành ( Performance tantra ): Hoạt động bên ngoài và thiền định bên trong được thực hành đồng đều. Còn gọi Nghi thức mật tông.
3/ Du già ( Yoda tantrta ): Thiền định bên trong giữ phần chính. Còn gọi Thiền Quán mật tông.
4/ Nghi quỹ du già tối thượng ( Non-dual tantra ): hành giả thực hành một pháp môn không giống với bất cứ pháp môn nào khác. Tối Thượng Mật tông hay Nghi Quỹ Du Già tối thượng là pháp cần thiết để khắc phục những chướng ngại cực vi tế cho sự toàn giác.
Ở tại Việt Nam khi nói đến Mật tông là nói đến hai loại Mật tông đầu đó là  Lễ Bái Mật tông và Nghi Thức Mật tông. Chư tăng và Phật tử Việt Nam sở dĩ không có tin việc tu hành theo Mật tông trong một đời mà có thể thành Phật là bởi vì không có ai hiểu biết thấu triệt về Thiền Quán Mật tông và Tối Thượng Mật tông.
Mật tông, về mặt giáo lý có hai phần là Hiển giáo và Mật giáo:
Hiển Giáo: là tất cả giáo lý Tiểu thừa, Đaị thừa, và tất cả các Kinh, Luật, Luận của họ.
Mật giáo: Triết lý và phương pháp hành trì của Mật tông căn bản vẫn xây dựng theo tiến trình Giới Định Huệ, cũng cần phải tu tập các hạnh bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ ( thường gọi sáu phép Ba La Mật) như tất cả mọi đường lối tu tập khác của Hiển giáo.
Tuy nhiên Mật tông đặt nặng về Gia Trì Lực của chư Phật Bổn Tôn nên hay có nhiều sự thần thông biến hóa, nhiều phương pháp tu tập không giống các tông phái khác như :Thiền Quán Tưởng Đức Phật Bổn Tôn, phương pháp tạo đồ hình Mạn Đà La, phương pháp Tự Thọ Quán Đảnh, phương pháp Hàng Phục Thiên Long Quỷ Thần... Hai bộ kinh quan trọng hơn hết là: kinh Đại Nhật và kinh Kim Cang Đảnh.Nếu kể thêm ba bộ kinh Tô Tất Địa, Du Ký và Yếu lược niệm tụng thì có 5 bộ kinh Mật tôn căn bản. Ngoài ra hằng trăm bộ kinh khác của Mật giáo cũng đã được đúc kết cả ngàn năm nay, tuy thế ít phổ biến về giáo thuyết mà lại nói nhiều về phương cách thực hành các oai lực của thần chú.
 Các kinh về Thiền quán Mật tông và Tối thượng Mật tông thì chỉ có trong Đại Tạng Kinh Tây Tạng mà thôi chứ không có trong kinh điển Hán.Ngay cả khi Ngài Huyền Trang thỉnh kinh Phật từ Aán Độ về thì cũng chỉ đem về một số lượng rất là ít ỏi so với hàng ngàn bộ kinh Mật tông bằng tiếng Tây Tạng và tiếng Phạn hiện vẫn được gìn giữ rất cẩn thận trong các tu viện Tây Tạng.
Các phương pháp hành trì quan trọng của Mật tông là phép niệm thần chú , phép bắt Aán và thiết lập Man-da-la (Tạng ngữ là Kyilkhor) theo đúng nghi thức cũng như các lần Quán-đỉnh. Hầu hết các phương pháp tu luyện đều đặt căn bản trên sự tụng niệm, lập đi lập lại nhiều lần các câu thần chú. Mật chú thường đưoc giấu kín vì không thích hợp với tâm tánh của nhiều người, những người có động cơ không trong sạch sẽ làm tổn hại đến mình và người khác nếu họ thực hành những phép này.
Tin tưởng vào sự đắc qủa trong một kiếp là đặc điểm riêng của các tông Đại thừa. Thế nhưng trong khi khẩu quyết của Thiền là “tức tâm tức Phật”, tâm người chính là Phật, Mật tông chủ trương “tức thân thành Phật”, thân này nếu xa lìa hết ngã chướng thì không khác gì thân Phật.
Sự khác biệt giữa hai phái Đại thừa Hiển và Mật còn ở phương pháp, đó là đặc điểm Thần linh quán của Mật giáo. Trái ngược với Thiền “an trú tính Không”, tát cả là không, Mật tông lại vận dụng trí tưởng tượng tới mức tối đa trong phép quán tưởng. Thần linh quán được cho là phương pháp trọn vẹn có khả năng đem lại Phật quả nhanh nhất. Trong pháp môn này, hành giả thiền quán rõ rệt hình ảnh một vị thần hộ mạng cho mình, ví dụ nữ thần Tara hay Quán Thế Âm Bồ Tát. Đây là đặc tính của Mật thừa không có trong kinh điển Đại thừa.
Mật tông là lối tu hành cao nhất và cam go nhất. Cần phải có trí huệ thượng thừa mới có thể lãnh hội hết ý nghĩa thậm thâm của kinh điển Mật giáo, vì một số kinh văn chỉ biệt truyền cho vài đệ tử hội đủ căn cơ thích hợp nên bao giờ cũng có những đoạn văn cực kỳ tinh tế và rất khó nhận biết nếu như chúng không được diễn giải đầy đủ. Đó là lý do vì sao  Mật tông không được truyền bá rộng rãi.

Mật Tông tại Việt Nam:
Bắc tông ở Việt Nam có ba phái chính là Thiền tông, Tịnh Độ tông và Mật tông. Riêng tại Việt Nam sau triều đại Đinh Lê Lý Trần các chùa không có ai đắc truyền về Mật giáo, nên không có sư đệâ tương truyền. Các chùa đâu đâu vào lúc bốn giờ sáng cũng có trì tụng khoá bảng của Mật giáo như Đại Bi và Thập chú và hơn nữa trong các thời kinh sáng, trưa, tối...các sư ở Việt nam cũng như Nhật Bản đều có trì tụng chú Đại Bi để khởi đầu các thời kinh. Chú này được rút ra trong kinh “Thiên Thủ Thiên Nhãn Đại Bi Tâm Đàlani”, một bản kinh chú lớn của Mật giáo được tín đồ Phật tử tụng niệm. Thế nhưng khi hỏi về Mật tông gần như không ai hiểu rõ. Thậm chí như phái Trúc-lâm Yên-tử tuy chịu ảnh hưởng của Mật tông nhiều cũng vẫn giữ sắc thái Thiền tông sâu đậm. Vết tích còn lại của Mật tông ngày nay là một ít Linh phù treo nơi các chùa cổ, những câu chú trong kinh sách và những tượng Phổ Hiền, A Di Đà, Quán Thế Âm, Địa Tạng, Văn Thù, Phổ Hiền, Đại Nhật Quang...thờ chung với các tông khác. Riêng ở Huế thì còn một ít truyền thống với nghi thức thiết lập Trai đàn chẩn tế đúng theo phương pháp Mật tông.
Bác sĩ Maillie (trong tạp chí La pensee bouddhique, Janvier 1955) cho biết ông đã từng mua được một quyển sách nhỏ trong một tiệm bán đồ cổ ở Chợ Lớn có tựa là “ Mchodrten” của Mật tông viết bằng chữ Tây Tạng. Sự kiện này chứng tỏ rằng Mật tông có thể đã được truyền đến Việt Nam bằng kinh điển do các nhà sư Trung Hoa đem lại.
Ở Việt Nam cho đến nay có một số vị chuyên về Mật như Thượng Toạ Thích Viên Đức, từng tu luyện và dịch thuật rất nhiều kinh sách Mật, trong đó có phần thụôc bộ Đại Tạng Kinh Trung Hoa.
Kế đến là Hoà Thượng Thích Phổ Ứng tại Linh quang Tịnh xá ở đường Nguyễn Khoái, Khánh Hội, mỗi ngày thường chữa trị bệnh cho người khác...
Trước 75, giáo sư Đại học Vạn Hạnh Ngô Trọng Anh, nguyên Bộ Trưởng Bộ Công Chánh đã trình bày đề tài về Mật tông tại Viện Đại học Vạn Hạnh vào ngày 4-6-1967, với chủ đề” Mật-Tông Phật-giáo dưới mắt người Tây-phương” cho thấy giáo sư là người đã dày công nghiên cứu và có vốn hiểu biết khá uyên bác về lãnh vực này...
Như đã trình bày, Mật tông được tin tưởng là phương pháp tu hành có hiệu quả nhanh chóng nhưng cần phải được sự hướng dẫn trực tiếp và riêng biệt của một vị thầy đã chứng ngộ, nếu chỉ dựa vào kinh sách mà tu có thể gặp nhiều chướng ngại nguy hiểm đến tính mạng. Hơn nữa kinh sách bí truyền về Mật tông không dễ chi tìm được. Đó là lý do vì sao Mật tông dù đã được truyền bá đi nhiều quốc gia từ xa xưa nhưng chỉ có Tây Tạng là nơi tông phái này gặp đủ nhân duyên để phát triển.
Thế kỷ 20 mở ra một hướng nhìn khác về tôn giáo này với phần còn lại của thế giới. Ở Việt Nam ngày càng có nhiều sách được viết và dịch về Mật tông. Nhiều người dọ dẫm thử tu theo pháp môn này, thế nhưng các kinh sách chỉ đủ thoả mãn cho lãnh vực tri thức, còn sử dụng để tu tập thì chưa ai dám thâm tín đủ để đem cả sinh mệnh mình ra mà giao hoàn toàn cho sách vở.
Chính vì vậy, sự kiện nhà sư Minh Tịnh đã lặn lội sang đến tận Tây Tạng và tu tập một thời gian dài với sự hướng dẫn trực tiếp của các đại sư Tây Tạng gợi lên niềm hy vọng cho những người đam mê với pháp môn huyền bí này trong nước. Nhiều người từ nơi xa xôi đã tìm đến đây với ước mong khám phá được điều gì đó mới mẻ. Những người khác, thì cảm thấy hứng khởi để nghiên cứu và sáng tác về ngôi chùa này. Từ những năm 50,  Bình Nguyên Lộc đã viết một truyện ngắn có tựa đề “Nắng chiều”, nhà sư Minh Tịnh được hư cấu thành nhân vật chính trong truyện.
Đến chùa Tây Tạng, từ kiến trúc đến cách bày biện tượng, tranh ảnh cũng như việc sử dụng các bùa  chú trong nghi thức phóng sanh, quy y  hay tẫn liệm cho thấy ảnh hưởng rõ nét cuả Mật tông Tây Tạng. Thế nhưng nếu tìm hiểu sâu thêm, dường như dấu vết của Mật tông Tây Tạng cũng chỉ có ngần ấy.
Đến nay nhà sư Minh Tịnh còn lưu lại nhiều hình ảnh trong một quyển nhật ký ghi chép chuyến đi Tây Tạng của ông, có thể xem như một Tây Tạng ký. Thứ hai là quyển Lăng Nghiêm Tông Thông do Ngài dịch lại từ bản tiếng Hán từ năm 1944 đến 1950 thì hoàn tất. Đây là một trong những quyển kinh sách quan trọng của Đại thừa, thường được giảng dạy cho tăng chúng tại chùa cho đến nay. Trong phần tiểu sử của Ngài in trong sách này có đoạn:
“ Sau một trăm ngày ở Tây Tạng, Ngài được Đại Thượng Toạ Lama Quốc Vương ngự ý ban cho pháp danh THUBTEN OSALL LAMA và ấn chứng sở đắc Pháp Giáo Ngoại Biệt Truyền, Bất Lập Văn Tự, Trực Chỉ Chơn Tâm Kiến Tánh Lập Địa Thành Phật tại  triều đình nước Tây Tạng”
( Lăng Nghiêm Tông Thông tr.8, xb. 1997)
Nội dung của phần tiểu sử này được chính chúng đệ tử đời thứ ba của Tây Tạng viết ra thể hiện khá rõ tính chất Thiền tông  của nhà chùa, có lẽ là căn cứ đáng tin và là sự xác định khá rõ ràng, dứt khoát về pháp môn tu tập của chùa, tránh đi những sự ngộ nhận hay suy diễn sai lạc khác.
Gần đây có đôi ba bài viết giới thiệu về ngôi chùa độc đáo này đăng trên tập san Khoa Học Lịch Sử Bình Dương của các nhà nghiên cứu có uy tín, cung cấp rất nhiều tư liệu hữu ích về chùa Tây Tạng và vị Sư tổ sáng lập. Tuy nhiên do nhận thấy có vài điểm mâu thuẫn lẫn nhau trong các bài viết này, tôi xin được nhân đây trao đổi thêm vài điều như sau:
Trong bài : “Chùa Tây Tạng-dấu ấn Phật giáo Mật tông ở Việt Nam”, tác giả Tiến sĩ Trần Hồng Liên viết:
“Qua cách bài trí tượng thờ, người xem còn có thể hiểu hơn về sự thâm nhập khá sâu sắc của Phật giáo Trung quốc vào Tây Tạng dưới nhiều triều đại liên tiếp của Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh...để cho những pho tượng của Bồ Đề Đạt Ma, của tranh Lục Tổ Huệ Năng, của Quan Thánh Đế Quân...đã có mặt trong chùa Tây Tạng.”
 ( tr.32)
Đây là luận điểm chính yếu của bài víêt, tác giả dựa vào đây làm cơ sở phân tích, lý giải về tính chất đặc biệt của ngôi chùa:” Sự đan xen, giao hoà văn hoá trong ngôi chùa Tây Tạng đã gíới thiệu ba luồng văn hoá của Phật giáo Tây Tạng, Phật giáo Việt Nam và Phật giáo Hoa tông...”
Đọc lại lịch sử Phật giáo, ta biết rằng từ Ấn Độ, các cao tăng đã đi truyền dạy những pháp môn khác nhau ở nhiều quốc gia châu Á. Theo thời gian, tuỳ thuộc bối cảnh văn hoá, xã hội, tính chất của từng dân tộc, có những pháp môn đã sớm được đón nhận và phát triển bền vững, ngược lại cũng có những tông phái chỉ sau một thời gian thì mai một dần.
Nếu như Thiền tông khi gặp một nền tảng văn hoá Nho, Lão như rồng mây gặp hội, thì Mật tông đã chóng suy tàn tại các quốc gia này mà trở thành quốc giáo ở vùng đất mà đạo Bôn với tính chất huyền thuật cổ truyền lại rất thích hợp với nó . Do vậy chúng ta nhận thấy không có cơ sở để cho rằng Phật giáo đã được “thâm nhập sâu sắc vào Tây Tạng từ Trung quốc” mà theo hướng ngược lại, chính từ Tây Tạng, Mật tông đã từng có thời kỳ gieo rắc ảnh hưởng tại Trung quốc thì hợp lý hơn.
 Về phương diện lịch sử ta biết rằng Mật tông được truyền vào Trung Quốc vào thế kỷ thứ 7 sau Tây lịch, khởi đầu với ba vị cao tăng Ấn Độ là:
Thiên Vô Úy ( 637-735), Kim Cang Trí (663-723), Bất- Không Kim Cương( 705-774).
Bất Không là quốc sư của ba triều vua: Huyền tôn, Túc tôn, Đại Tôn. Ông dịch cả thảy 110 bộ kinh, gồm 143 quyển, trong đó có bộ quan trọng nhất là Kim Cang Đảnh. Sau khi sư mất thì Mật tông suy tàn vì không có vị đạo sư nào từ Aán Độ đến nữa. Trường phái này được đại sư Không Hải đưa qua Nhật dưới tên gọi là Chơn Ngôn tông, ngài là môn đệ đời thứ hai của Bất Không.
Trong thể loại truyện kiếm hiệp, ta thấy có rất nhiều vị cao tăng Tây Tạng đến Trung Nguyên, thường được mô tả là có võ công cao cường và quái dị, giới võ lâm rất nể phục họ. Về mặt lịch sử, có thể kể một vài trường hợp như sau:
Karma Pakshi (1204-1283) được mời đến Mông Cổ bởi Hoàng tử Mongka Khan. Khi ở Trung Hoa, trong một vài dịp Ngài đã biểu lộ năng lực thần thông để phụ trợ cho công việc hoằng pháp. Phái Karma Kagyu dưới sự lãnh đạo của các vị Gyalwa Karmapa có một lịch sử lâu dài và rực rỡ, trãi rộng từ  Ladakh đến Trung Hoa.Vị Karmapa thứ năm Dezhin Shegpa (1384-1415) từng là Quốc sư của vua trung Hoa.
Chính vì những điểm này, bài viết của tác giả Hồng Liên gây cho chúng tôi ít nhiều thắc mắc cũng là điều dễ hiểu.
 Ở một đoạn khác, bà Hồng Liên viết:
“ Bên cạnh đó, nét riêng của kiến trúc tháp tổ trong vườn chuà, thể hiện qua tháp của Hoà Thượng Minh Tịnh, là một ngọn tháp lục giác, theo phong cách tháp tổ thường có ở Việt Nam.Tháp được trang trí bằng hai thứ chữ Phạn và Hán”
Về điểm này, tác giả Huệ Thông lại trình bày khác đi :
“ Thiền sư Minh Tịnh viên tịch vào ngày 17-5-1951 (năm Tân Mão), thọ 63 tuổi, đồ chúng lập tháp thờ trong khuôn viên chùa Thiên Chơn.”
(tr.32)
Tại khuôn viên chùa Tây Tạng hiện nay, ở trước sân phía trái chùa có một ngôi tháp là nơi an nghỉ của một người đệ tử của Ngài Minh Tịnh, phía tay phải có một ngôi tháp khác mới xây vài năm nay chưa chôn cất ai. Như vậy có thể tác giả Hồng Liên đã nhầm lẫn chăng?
 Cũng liên quan đến vị sư này, trong tập san số 1, tác giả Nguyễn Hiếu Học viết: “Có người xem ngài như một “Tiểu Huyền Trang” của TDM, của Việt Nam.”( tr.47)
 Huệ Thông đã phủ nhận quan điểm này:
“ Không thể so sánh với nhà học giả uyên thâm cả về đạo học lẫn thế học của Trần Huyền Trang đời Đường Trung Hoa sang Tây Thiên Trúc thỉnh kinh.”(tr.11, tập san số 2)
Vào thời điểm bộ phim Tây Du Ký được chiếu lần đầu trên truyền hình với sự diễn xuất tuyệt vời của Lục Tiểu Linh Đồng đã gây nên cơn sốt lôi cuốn hàng triệu khán giả nước ta. Ngay vào thời điểm này, một tờ báo đã trích đăng một phần các trang nhật ký của Ngài Minh Tịnh, cho thấy rằng giữa hai chuyến đi có nhiều điểm dễ làm người ta liên tưởng đến nhau.  Chuyến đi của Ngài còn làm chúng ta nhớ đến cuộc hành trình của các nhà sư Trung quốc thời xưa như Pháp Hiển, Nghĩa Tịnh...Mỗi người một cảnh ngộ, một mục đích riêng nhưng tất cả đều làm người đời bái phục và ngưỡng mộ ý chí bất khuất kiên cường, khả năng chịu đựng khó nhọc phi thường của họ.
Nếu như Đại học giả Huyền Trang đã thành công khi thỉnh được rất nhiều kinh sách đem về Trung quốc và chính Ngài lại bỏ ra nhiều năm ròng rã dịch các kinh này ra chữ Hán để truyền bá Phật pháp vào Trung quốc. Ngài Minh Tịnh, với đại nguyện tầm sư học đạo đã được vinh hạnh chấp thuận ở lại tu học ngay tại Tây Tạng. Cũng may mắn hơn bà David-Neel phải cải trang làm một người hành khất, sư được đón rước khá long trọng bởi chính vua quan và tể tướng của xứ sở này.
Chúng ta không hiểu vì sao Huệ Thông lại phủ nhận mạnh mẽ sự so sánh này. Có thể chính vì mục đích chuyến đi của hai nhân vật này theo sự lý giải của tác giả là hoàn toàn khác nhau:
 Huệ Thông:“ Trong quan niệm của hầu hết những người tu theo đạo Phật đều có một ước nguyện là một lần trong đời được đến chiêm bái Phật tích ( từ động tâm) nơi ra đời và hành đạo của đức Phật Thích Ca.” (tr.11)
Ít nhất một lần trong đời phải hành hương về Thánh Địa là một điều luật bắt buộc cho tất cả tín đồ Hồi giáo đã được quy định rõ ràng trong sách luật của tôn giáo này. Với Phật giáo, trong Tam Tạng kinh điển của họ chúng ta sẽ không tìm thấy một câu nói nào tương tự về việc “một lần trong đời được đến chiêm bái Phật tích”. Đâu là mục đích thực sự của chuyến đi hết sức gian khổ này? Các đệ tử chùa Tây Tạng trả lời như sau:
“ Trải qua thời gian, phần lớn là tự tu, thấy không thoả mãn chí nguyện, Ngài lên đường đi Ấn Độ tầm sư học đạo.”
(Lăng Nghiêm Tông Thông tr.7, xb. 1997)
Nếu chỉ chiêm bái Phật tích, sau khi đến Nepal Ngài có thể mãn nguyện trở về,thế nhưng:
“Tháng tư năm Aát Hợi (1935), Ngài  đến Aán Độ. Trong thời gian trên đất Aán, Ngài tuỳ thuận phong tục, đắp y theo xứ Srilanka. Ở Ấn Độ, Ngài cũng không thấy thoả mãn, lại muốn sang Tây Tạng học hỏi”
( Lăng Nghiêm Tông Thông tr.7, xb. 1997)
Truyền thống du phương tầm sư học đạo đã có từ lâu đời trong kinh điển Phật giáo. Trong kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài Đồng Tử  đã đến hỏi đạo đến 48 vị Thiện Tri Thức ở khắp bốn phương trời. Đọc lịch sử Thiền tông ( bộ Thìên Luận của Suzuki chẳng hạn)ta thấy rằng ra đi tầm sư học đạo thuộc về sinh hoạt thường lệ và có tính truyền thống của các thiền giả. Nếu xét chuyến đi của Ngài Minh Tịnh ở phương diện này, ta thấy giữa Ngài và Huyền Trang có những tương đồng rất đáng kể trên nhiều phương diện, sự so sánh hai người này với nhau một cách bình đẳng là điều không có gì “ không thể so sánh” như Huệ Thông đã mạnh mẽ phủ nhận như thế.
Ở một đoạn khác, ngài Huệ Thông lại viết như sau:
 “ Hoà Thượng từng kêu gọi trong giới Phật giáo phải dồn hết sức mình tham gia vào cụôc kháng chiến. Ngài nói:” Khi nào còn chiến tranh thì một viên ngói, một viên gạch cũng không đưoc xây chùa...”
( Minh Tịnh, vị thiền sư đất Thủ Dầu Một và cuộc hành trình Tây Trúc tr.12.)
Trước năm 1975, đất nước lâm vào cảnh chiến tranh khói lửa. Lúc này do ngưỡng mộ chùa, một số người giàu có phát tâm cúng dường tiền bạc để xây dựng lại chùa, trong số này có bà Bảy Lìn là một thương gia gìau có nổi tiếng nhất của tỉnh Bình Dương thời đó. Trước các đề nghị này Ngài MinhTịnh đều từ chối, do dự tri được những diễn biến của tình hình đất nước. Khi chết, Ngài còn để lại di huấn rằng: “Ngày nào còn chiến tranh thì một viên ngói của chùa có hư cũng không được sửa”. Đến năm 1992, trong bài diễn văn đọc  nhân dịp buổi lễ khởi công xây dựng chùa  mới, chúng đệ tử của chùa đã nhắc lại di huấn của Tổ sư. Sự việc là vậy, không hiểu vì sao tác giả Huệ Thông lại trích dẩn và lý giải khác xa với nội dung câu nói trên như thế.
Rất có thể Ngài Minh Tịnh đã nói hai câu khác nhau vào hai thời điểm và hoàn cảnh khác nhau. Nếu thế rất mong tác giả Huệ Thông trình bày cụ thể và rõ ràng hơn.
Viết về chùa Tây Tạng là một đề tài lý thú và xứng đáng để nhọc công, thế nên bài viết này hy vọng góp phần nhỏ vào loạt bài quí gía của các tác giả kể trên, ước mong có thể giúp cho những người quan tâm có thêm tư liệu để tìm hiểu về ngôi chùa này ở một góc nhìn khác.
Những sai sót của bài viết là điều khó tránh khỏi, rất mong được sự lượng thứ và chỉ bảo của các bậc tri thức gần xa.

HẾT
SÁCH THAM KHẢO:
1.    Lăng Nghiêm tông thông,   dịch giả Hoà ThượngNhẫn Tế
2.    Nhật Ký,  Hoà Thượng Nhẫn
3.    Con đường mây trắng,   Anagarika Govinda, dịch Nguyễn Tường Bách
4.    Phật Học phổ thông,   Thích Thiện Hoa
5.   Con đường kim cương thừa về sự tịnh hoá, Lama Yeshe
6.    Mật thừa Tây Tạng,  Tsongkapa, Dala Lama, Jeffrey Hopkins
7.   Mật tông Phật giáo tinh hoa,   Triệu Phước
8.   Tương quan giữa Thiền và Mật,  Thích nữ Trí Hải

Save

Top Bài Viết

Top Music

Top Book Mp3

Top Music Album

 
© Copyright 2009 - 2018 anphat.org - Chịu trách nhiệm nội dung: Thị Đức bienman0811@yahoo.com - Hỗ trợ kỹ thuật votamthoai@gmail.com