TÍNH KHÔNG VÀ THIỀN ĐỊNH - Lama Dudjom Dorjee

Lama Dudjom Dorjee – ngài trưởng thành tại Ấn Độ và nhận bằng giáo thụ kiệt xuất từ ĐH Sanskrit ở Varanasi. Năm 1981, theo yêu cầu của Pháp vương thứ 16 dòng Karmapa, ngài tới Hoa Kỳ với tính cách đại diện cho dòng truyền thừa Karma Kagyu.

---*---
“Thiền định phát lộ hiện hữu tự thân của mọi duyên khởi.”

Phần này của văn bản chỉ ra rằng một trong những ơn ích bậc nhất của thiền định là nó phát lộ cho chúng ta tính không của hiện hữu là bản chất vốn có của mọi hiện tượng kết hợp. Bằng từ ngữ “mọi duyên khởi” chúng ta hiểu rằng mọi vật đều lệ thuộc vào những nguyên nhân và điều kiện cho sự hiện hữu của chúng, và rằng không có những nguyên nhân và điều kiện ấy, chúng sẽ chấm dứt tồn tại. Như vậy, sự tồn tại là có điều kiện. Bằng từ ngữ “phát lộ hiện hữu tự thân”, chúng ta hiểu rằng thiền định cuối cùng phơi bày sự thật là bởi vì không có gì trong luân hồi hoặc niết bàn tồn tại không có những nguyên nhân và điều kiện thiết yếu, nên không có gì hiện hữu trọn vẹn do chính nó.

Một trong những lời giải thích ngắn gọn nhất về cái nhìn vào thực tại đến với chúng ta qua những bài hát của đại hành giả Milarepa, Chúa tể của các Hành giả (the great Lord of Yogis Milarepa), rằng mọi hiện tượng “không có nền để dựa vào, không cùng hiện xuất”. Milarepa bảo chúng ta rằng bất kể nhìn lại xa đến đâu, chúng ta cũng không tìm được nguyên nhân gốc cho bất cứ điều gì. Chúng ta không thể tìm thấy nền tảng cho sự tồn tại của một hiện tượng riêng lẻ nào để dựa trên đó. Chẳng hạn, ngay sự hiện hữu của chúng ta trong cuộc đời này là do sự kết hợp của những nguyên nhân và điều kiện chuyên biệt, phần lớn đến từ cha mẹ chúng ta. Tuy nhiên, sự tồn tại của cha mẹ chúng ta cũng là do sự kết hợp của những nguyên nhân và điều kiện, giống như sự tồn tại của ông bà chúng ta. Và bất kể là chúng ta nhìn lại bao xa, ngay cả khi tin rằng có thể khởi sự vạch lại con đường đã qua từ những giai đoạn đầu tiên của cuộc tiến hóa, chúng ta vẫn không thể tìm thấy một sự vật nào là nguyên nhân tồn tại cố hữu. Luôn luôn phải có cái gì đó tới trước nó để là nguyên nhân của nó. Chúng ta không thể tìm được một sự vật nào, một “cái nền” như Milarepa gọi, đã bắt đầu toàn bộ chuỗi hiện tượng cuối cùng dẫn tới sự hiện hữu của chính chúng ta trong cuộc đời này.
Nhưng Milarepa cũng nói rằng sự vật “không cùng hiện xuất”. Điều này có nghĩa là, nếu chúng ta không tin chắc rằng mọi sự vật thiếu vắng sự hiện hữu vốn có do sự lệ thuộc của chúng vào những hiện tượng khác như là những nguyên nhân và điều kiện, thì giải thích duy nhất có được là những hiện tượng phải phát khởi không có những nguyên nhân hoặc những điều kiện; rằng chúng khởi lên hoàn toàn do tự chúng. Nhưng điều này tất nhiên là không đúng. Tuyệt đối không có thứ gì mà chúng ta có thể nêu ra lại khởi lên tự nó mà không có nguyên nhân. Thực vậy, nếu có một sự vật như thế, thì thực tại sẽ đầy ắp sự vật đó, bởi nó sẽ tự phát đi vào hiện hữu toàn thời gian bởi không cần nguyên nhân. Chẳng hạn, nếu sự hiện hữu của chúng ta trong cuộc đời này đã khởi lên hoàn toàn do chính chúng ta mà không cần bất cứ những nguyên nhân thiết yếu nào, vậy thì chúng ta chắc chắn sẽ xuất hiện toàn thời gian!

Như văn bản gốc ở đây tuyên xưng, chúng ta có thể thấy rằng cuối cùng thiền định sẽ phô bày sự hiện hữu tự thân của vạn vật: rằng không có gì sở hữu hiện hữu tự thân, rằng không có gì đi vào hiện hữu chỉ bằng chính nó, và vạn vật đều lệ thuộc vào những sự vật bị điều kiện hóa khác cho sự hiện hữu tạm thời của chúng.

🧘‍♂️ GIÁC NGỘ VÀ THIỀN ĐỊNH

“Thiền định hủy bỏ sự tái sinh trong cõi luân hồi và tôn vinh cuộc sống đạo hạnh.”

Phần cuối của văn bản gốc đưa ra một phát biểu đơn giản nhưng quyền uy lạ thường: ơn ích của thiền định là nó trở nên nguyên nhân cho giác ngộ. Ở đây nói rằng, thiền định mang lại mọi ơn ích của một đời sống tu tập. Điều này có nghĩa là qua thực hành thiền định, người ta cuối cùng đạt tới tâm thái hoàn hảo của hành quả, thoát khỏi mọi tiêu cực, thoát khỏi mọi đeo bám và tham luyến. Khi điều này xảy ra, hành giả không còn lệ thuộc vào những hiện tượng bên ngoài hoặc bên trong để có được hạnh phúc, và vì thế mọi xiềng xích của luân hồi bị phá tan mãi mãi. Một người đã đạt tới cảnh giới này đã trở thành một vị Phật, một vị hoàn toàn chiến thắng trêm mọi sự sinh ra, chết đi, và mọi hiện tượng khác ở giữa sinh và tử. Các chiến thắng khác chỉ là chiến thắng trên bình diện thế tục. Chỉ có một vị Phật mới chiến thắng mọi hiện tượng và những cảm xúc phiền não mà những hiện tượng đó tạo ra. Như vậy, bằng thực hành của thiền giả, cuối cùng sẽ là mọi ơn ích của một cuộc sống tu tập, không còn dục vọng, đeo bám (chấp trước), và tham luyến để tiếp tục tái sinh trong luân hồi. Thiền định kết thúc chu kì của sinh tử và hành giả không còn chuyển dịch qua những trạng thái trung gian, hoặc còn gọi là thân trung ấm (tiếng Tây Tạng là bardo) nữa, vốn là định nghĩa cho sự sinh tồn trong vòng luân hồi. Những xiềng xích của sự sinh tồn luân lưu theo chu kì trong luân hồi đã bị phá tan mãi mãi. Vì vậy, thiền định hủy bỏ sự tái sinh trong cõi luân hồi.

🧘‍♂️ NHỮNG THẮNG GIẢ VÀ LỢI ÍCH CỦA THIỀN ĐỊNH

Như đã giải thích trong mười bảy chú giải vừa qua, đây là hai mươi tám lợi ích của thiền định cảm ứng khiến các vị như lai (tathagata, trong tiếng Sanskrit có nghĩa là các vị đến [thế gian này] như thế; danh xưng chỉ các bậc giác ngộ) thực hành thiền định. Chính vì các vị như lai mong muốn trải nghiệm sự tịch tĩnh và lạc thú an nhiên của sự tựu thành thiền định mà các ngài đã thực hành nhìn về cứu cánh này; để các ngài có thể an trú; nhờ vào bản chất đa phức của những đức hạnh vô lậu (không sai sót) của thiền định; bởi đó là con đường đạt tới thánh thiện không có ngoại lệ; và bởi nó đã được xưng tụng, tán thán, và cầu chúc bởi chư Phật. Chúng ta gọi các vị như lai là các thắng giả bởi vì sự thực hành thiền định của các ngài đã viên mãn ở mức độ các ngài đã hoàn toàn chiến thắng sự thọ khổ của chính mình, không còn bị chế ngự trong bất cứ cung cách nào của nhân quả nghiệp báo.
Trong hai mươi tám ích lợi của thiền định được liệt kê và giải thích ở đây, mọi người hành thiền sẽ trải nghiệm những mức độ biến thiên tùy theo năng lực cá nhân của chính họ. Sự thực hiện những ích lợi này hoàn toàn lệ thuộc vào mức độ dấn thân của hành giả chuyên tâm thực hành. Không thực hành thiền định, giải thoát là không thể có. Với sự chuyên tâm thực hành, không có giới hạn nào cho khả tính có được cho hành giả, và sự giác ngộ là chắc chắn.
“Thiền Chỉ Thiền Quán và Tính Không” - NXB. Hồng Đức - 2014
Lama Dudjom Dorjee
Việt dịch: Nguyễn Tiến Văn

  •    THẤY THẲNG NHẤT TÂM – THIỆN TRI THỨC, 2005.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 34
  • (ĐẠI ẤN HẰNG HÀ) Bài ca Đại Ấn này về sau ngài truyền cho Naropa gần sông Hằng, khi Naropa hoàn thành 12 khổ hạnh mà Guru chỉ bảo. Về sau Naropa truyền nó cho Marpa Dịch giả, vị này dịch và đem về Tây Tạng, dạy cho Milarepa và các vị thầy khác. Bài ca Đại Ấn của Tilopa được xem là tinh túy của mọi giáo lý...

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 67
  • Lama Dudjom Dorjee – ngài trưởng thành tại Ấn Độ và nhận bằng giáo thụ kiệt xuất từ ĐH Sanskrit ở Varanasi. Năm 1981, theo yêu cầu của Pháp vương thứ 16 dòng Karmapa, ngài tới Hoa Kỳ với tính cách đại diện cho dòng truyền thừa Karma Kagyu..

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 35
  • Tu tập trí tuệ siêu việt theo con đường bồ tát của Tịch Thiên - Đức Đạt Lai Lạt Ma: Practicing Wisdom. Translated and edited by Thupten Jinpa. Wisdom, 2005.
    Bản dịch Việt : Đặng Hữu Phúc

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 117
  • Dudjom Dorjee sinh trưởng trong một gia đình du mục ở phía Đông Tây Tạng, trưởng thành ở Ấn Độ và nhận bằng cấp giáo thụ kiệt xuất từ Đại học Sanskrit ở Varanasi. Năm 1981, theo yêu cầu của Pháp vương thứ 16 dòng Karmapa là Gyalwang Karmapa, ngài tới Hoa Kỳ với tính cách đại diện cho dòng truyền thừa Karma Kagyu của Phật Giáo Tây Tạng. Từ đó ngài đã giảng dạy

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 127
  • Tại sao thực hành phương pháp nội qui y của mật tông quá khó? Tại vì nó được hoàn thành bởi tâm, ở trong tâm. Để bắt đầu công việc này, qui y phải được thực hiện bằng tất cả trái tim, trọn vẹn cả tâm hồn. Qui y không phải là lặp đi lặp lại một vài câu nói trong khi tâm không có một chút rung động nào..

    Vô Huệ Nguyên trích dịch

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 237
  • Pháp thân Phật là tánh Không không hình không tướng ở khắp như hư không. Báo thân là quang minh và Hóa thân là thân vật chất; hai thân này được gọi là Sắc thân. Sắc thân được ứng hiện từ Pháp thân và không lìa Pháp thân..

    Nguyễn Thế Đăng

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 271
  • dalai lamaTin tưởng nơi những hành động và kết quả của chúng
    Trong sự hiểu biết tính không của những hiện tượng
    Thật kỳ diệu hơn ngay cả sự kỳ diệu.
    Thật phi thường hơn ngay sự phi thường.
    -Luận Về Tâm Thức Giác Ngộ Của Long Thọ-

    Tuệ Uyển chuyển ngữ

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 466
  • tanh-khong-hoa-nghiemThế giới Hoa Nghiêm hiện hữu trên nền tảng tánh Không

    Như kinh Duy-ma-cật nói, “Từ gốc vô trụ (tánh Không), lập tất cả pháp”.

    Trung luận (phẩm Quán Tứ đế) nói, “Bởi vì có nghĩa Không. Tất cả pháp được thành. Nếu không có nghĩa Không. Tất cả đều chẳng thành”.

    Kinh Hoa Nghiêm, như các kinh điển Đại thừa, lấy tánh Không làm nền tảng..

    Nguyễn Thế Đăng

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 477
  • hoa_sen_hai_mau_2Nói đến lòng sùng tín, sùng mộ và tin tưởng, có lẽ không phẩm nào của Kinh Đại Bát-nhã nói cụ thể và xúc động hơn phẩm Bồ-tát Thường Đề, kể về sự nhiệt thành khát khao cầu ngộ nhập tánh Không của một Bồ-tát. Sùng mộ, tin tưởng và nhiệt thành cầu thể nhập tánh Không đến độ thường hay khóc, do đó có tên Thường Đề.

    Trong bài viết ngắn này, chúng ta chỉ trích dẫn vài đoạn ngắn trong Kinh Đại Bát-nhã để thấy phần nào lòng sùng tín của một người tu hành trí huệ tánh Không..

    Nguyễn Thế Đăng

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 408
  • Mỗi sự vật, dù do cọng nghiệp của chúng sanh và thiện nghiệp của chư Bồ-tát, đều là sự ứng hiện của tánh Không vô tự tánh. Mỗi sự vật sanh khởi từ tánh Không, hiện diện trong tánh Không và tiêu tan trong tánh Không. Mỗi sự vật chính là sự ứng hóa của tánh Không theo nghiệp của chúng sanh. Như thế, khi tánh Không là Pháp thân, thì sự vật là ứng hóa thân của tánh Không, tức là Ứng hóa thân của Pháp thân..

    Nguyễn Thế Đăng, VHPG 230

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 311
  • Sự thấu hiểu về giáo lý tánh không trong Phật giáo là điều vô cùng thiết yếu để có thể trải qua tiến trình sống và chết một cách thực tiễn và không sợ hãi. Tánh không ở đây không có nghĩa là không có hiện hữu. Có thể bạn cho rằng tánh không ở đây có nghĩa là không có gì hết, nhưng tánh không không phải là như vậy..

    MIND OF CLEAR LIGHT

    Advice on Living Well and Dying Consciously, H.H The Dalai Lama XIV

    Đỗ Đình Đồng dịch Việt

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 630
  • Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Vị Tu Đà Hoàn có thể khởi lên niệm này, ‘Ta đắc quả Tu Đà Hoàn’ chăng?

    Tu Bồ Đề thưa: Quả thật không, bạch Thế Tôn. Vì sao thế? Tu Đà Hoàn gọi là Vào Dòng, mà thật không có chỗ vào, không vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, ấy gọi là Tu Đà Hoàn..

    Đương Đạo

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 350
  • Hãy nhìn thẳng vào tất cả những gì xuất hiện
    Trong bất cứ nơi nào của mười phương.
    Dầu nó có vẻ như thế nào,
    Sự vật trong tự nó, bản tánh đích thật của nó,
    Là bản tánh như hư không của tâm,
    Vượt khỏi sự phóng chiếu và tan biến của tư tưởng và ý niệm.

    Mọi sự có bản tánh trống không.
    Khi cái trống không nhìn cái trống không,
    Có ai để nhìn vào cái trống không như vậy ?

    Khenpo Jamyang Dorje cho Mẹ ngài
    Dịch bởi Erik Hein Schmidt và biên tập bởi
    Ani Lodroš Palmo và Ward Brisick

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 645
  • Điều vô cùng quan yếu là phải hiểu "Tánh không" có nghĩa là gì. Lại cũng quan trọng để biết Tánh không ở ngay trong tâm mình, qua kinh nghiệm bản thân. Muốn cảm nghiệm Không tánh, thực tính của vạn pháp, thì trước hết phải hiểu nó trên bình diện tri thức. Nếu không hiểu tánh không trên bình diện tri thức, thì sẽ vô cùng khó khăn để mà có được cảm nghiệm thực thụ về Không. Hiểu Tánh không trên bình diện tri thức là một điều kiện chuẩn bị cho việc phát sinh thực chứng kinh nghiệm về Tánh không bằng trực giác. Vậy là có hai cách hiểu về Tánh không: hiểu bằng tri thức và hiểu bằng kinh nghiệm bản thân..

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 11.907
  • Nếu căn cứ vào sự lý luận lô-gic (sự hữu lý) thì sẽ không thể có bất cứ một thứ gì vừa trống-không lại vừa không-trống-không được, tuy nhiên ngược lại thì bắt buộc chúng ta phải chấp nhận có một thứ gì đó có thể mang hai thể dạng khác nhau. Phật Giáo đưa ra khái niệm về tánh không hầu giúp chúng ta hình dung ra, hay đúng hơn là cảm nhận được, thể dạng phi-nhị-nguyên (non-duality) và đấy cũng chính là cốt tủy của tánh không (nhị-nguyên là tính cách đối nghịch giữa chủ thể và đối tượng, tức là giữa người quan sát và đối tượng được quan sát, dù đối tượng ấy là một vật thể hay một sự kiện thuộc ngoại cảnh hay là các tư duy và xúc cảm bên trong tâm thức. Thể dạng phi-nhị-nguyên là một thể dạng cảm nhận của tâm thức khi nó đã loại bỏ được sự đối nghịch giữa chủ thể và đối tượng. Thật ra thì đây cũng là cách định nghĩa đặc thù của Duy Thức Học về tánh không)..

    John Blofeld - Hoang Phong chuyển ngữ

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 16.080
  • Tính cách duyên sanh của tất cả các pháp được nói rõ trong đoạn đối thoại sau đây  của kinh Na Tiên Tỳ Kheo, một đoạn kinh mà hầu như tất cả chúng ta đều đã từng đọc qua. Xin trích ra đây vì đặc điểm dễ hiểu và dễ nhớ của nó:..

    Nguyễn Thế Đăng

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 19.884
  • Sau đây, chúng ta sẽ cố gắng tìm hiểu ở mức độ ý thức, lý tính, về tánh Không để giải tỏa bớt sương mù đang che khuất cái nền tảng của Phật giáo Đại thừa. Tánh Không là nền tảng cho mọi kinh điển Đại thừa, và do đó là nền tảng cho mọi tông phái, cả lý thuyết và thực hành, như Thiền tông, Mật tông, Tịnh Độ tông, Duy Thức tông, Hoa Nghiêm tông… Chúng ta cũng sẽ hiểu thêm vì sao ngài Long Thọ không đặt tên cho tác phẩm của ngài về tánh Không là Tánh Không luận mà là Trung luận hay Trung đạo luận; và trường phái của ngài có tên là Trung đạo (Madhyamika School)..

    Nguyễn Thế Đăng

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 19.687
  • Bản Văn Bảy Điểm Tu Tâm của phái Kadam

    Hãy nhìn vào tâm thức nền tảng của bạn, đích thị chỉ là cái thức giác không phân chia thành phần đoạn, cái tiến trình tư tưởng hiện hữu bên trong bạn. Chỉ nhìn vào nó, thấy nó. Khảo sát không phải là phân tích. Chỉ nhìn những sự vật như chúng là, trong nghĩa bình thường.

    Việt dịch: Trùng Hưng - NXB TTT

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 16.703

Top Book

Top Book Mp3

Top Bài Viết

Top Music

Top Music Album

 
© Copyright 2009 - 2018 anphat.org - Chịu trách nhiệm nội dung: Thị Đức bienman0811@yahoo.com - Hỗ trợ kỹ thuật votamthoai@gmail.com