DUYÊN SANH VÀ TÁNH KHÔNG

 

DUYÊN SANH VÀ TÁNH KHÔNG
Nguyễn Thế Đăng

 


Nhiều người , do chỉ nhìn sơ lược bên ngoài, nói đạo Phật là “sắc sắc không không” một cách mơ hồ. Điều này dễ dẫn đến nhìn đạo Phật như là một lối sống bi quan, yếm thế. Từ khi có thêm lối suy nghĩ của văn hóa Tây phương vào đầu thế kỉ 20, chữ Không và Giải thoát càng thêm bị hiểu lầm. 

 

Sau đây, chúng ta sẽ cố gắng tìm hiểu ở mức độ ý thức, lý tính, về tánh Không để giải tỏa bớt sương mù đang che khuất cái nền tảng của Phật giáo Đại thừa. Tánh Không là nền tảng cho mọi kinh điển Đại thừa, và do đó là nền tảng cho mọi tông phái, cả lý thuyết và thực hành, như Thiền tông, Mật tông, Tịnh Độ tông, Duy Thức tông, Hoa Nghiêm tông… Chúng ta cũng sẽ hiểu thêm vì sao ngài Long Thọ không đặt tên cho tác phẩm của ngài về tánh Không là Tánh Không luận mà là Trung luận hay Trung đạo luận; và trường phái của ngài có tên là Trung đạo (Madhyamika School).

 

 

1. Vì duyên sanh nên là tánh Không 

 

Duyên sanh nói đầy đủ là nhân duyên sanh. Cái gì hiện hữu, cái đó do những nguyên nhân (causes) và những điều kiện, những hoàn cảnh, những duyên (conditions) kết hợp lại mà tạo thành. Sự hiện hữu dựa vào, tùy thuộc vào những nhân và duyên. Thiếu một nhân hay một duyên, nó sẽ không hiện hữu hoặc hiện hữu một cách khác, nghĩa là nó không phải là nó nữa.  

Kinh nói: “Cái này có nên cái kia có; cái này sanh khởi nên cái kia sanh khởi. Cái này không có nên cái kia không có; cái này diệt mất nên cái kia diệt mất.” 

 

Chúng ta hãy nhìn một đóa hoa ở trước mặt. Sự hiện hữu của nó là do rất nhiều nhân duyên: hạt giống, có người trồng, điều kiện thời tiết đất đai thuận lợi, có người bán, có chúng ta mua về, có ý thức của chúng ta chọn lựa… Và tự đóa hoa, nó hiện hữu nhờ vào những chất liệu tạo ra nó (chẳng hạn, đất , nước, lửa, không khí), nhờ vào những phần tử của nó như cành, lá, những cánh, nhụy, mùi hương, màu sắc… Hơn nữa, nó hiện hữu vì có các thức giác quan và ý thức của tôi hiện hữu. Bông hoa này hiện hữu nhờ vào, nương dựa vào, tùy thuộc vào rất nhiều nguyên nhân và điều kiện, nhiều đến nỗi không thể tính đếm hết. Bông hoa này hiện hữu là do duyên sanh. Sự hiện hữu bông hoa là duyên sanh.

 

Những ý nghĩ để viết ra bài này, để bài này hiện hữu cũng là duyên sanh. Không có những lời dạy trong Kinh, không có những luận bàn của các luận sư, không có những bậc thầy của tôi, thì cũng chẳng có những ý nghĩ về tánh Không của tôi. Những ý tưởng ấy có được nhớ hay không, có được đào sâu hay không còn là do cuộc sống và sự thực hành của tôi. Những ý nghĩ của tôi chẳng phải là của tôi: chúng chợt khởi lên rồi biến mất, không giữ được, có khi không nhớ kịp. May thì chúng khởi lên nhiều ý nghĩ hay, rủi thì toàn những ý nghĩ dở. Chúng không phải là một cái hộc bàn, kéo ra, muốn tìm cái gì thì thấy cái đó. Những ý nghĩ này là duyên sanh. Rồi nữa, lý do để viết bài này, những cái gì xui khiến tôi viết bài này, tôi không biết rõ vì có quá nhiều lý do không thể biết, không thể nhớ. Tóm lại, những ý nghĩ tạo thành bài viết này và sự hiện hữu của bài viết này hoàn toàn là duyên sanh. Thử nghĩ, nếu không có người đánh máy, tòa soạn không chịu đăng, hay không có người in ấn thì nó có mặt hay không.

 

Con người và sự vật là duyên sanh. Vì là duyên sanh, nương dựa, và tùy thuộc, chúng không có thực thể độc lập riêng biệt. Chúng không hiện hữu tự mình một cách nội tại mà chúng luôn luôn nương dựa vào, tùy thuộc vào tất cả những nguyên nhân và điều kiện khác. Chỉ cần một nguyên nhân, một điều kiện thay đổi, là chúng thay đổi. Mà những nguyên nhân và những điều kiện thì thay đổi thường trực. Chúng là duyên sanh nên chúng không có thực thể nội tại, điều này được Phật giáo hệ Pali thường gọi là vô ngã. Phật giáo hệ Sanskrit gọi là không có tự tánh, vô tự tánh. 

Bản chất của con người và sự vật là duyên sanh, nên chúng không có thực thể (vô tự tánh), không có hiện hữu thực (vô sở hữu), không có một thực tại có thể nắm bắt (bất khả đắc), là Vô sanh, là tánh Không. 

Lấy ví dụ đóa hoa ở trên. Đóa hoa này mai mốt sẽ tàn và đang tàn. Nó là vô thường. Bởi vì nó vô thường, nên nó là vô tự tánh. Nó là tánh Không. 

Từ duyên sanh, đi sâu hơn vào duyên sanh, chúng ta bắt gặp tánh Không ( Nhất thiết pháp không là một trong 18 nghĩa của tánh Không, theo kinh Đại Bát- nhã).

 

Trung luận, phẩm Quán Tứ Đế nói:

 

Chưa từng có một pháp 
 

Không từ nhân duyên sanh 
 

Thế nên tất cả pháp 
 

Không gì chẳng phải Không.

 

Chúng ta thấy tánh Không không phải là không có cái gì cả, mà tánh Không là vì duyên sanh. Và vì duyên sanh nên không có hiện hữu nội tại độc lập, gọi là không có tự tánh, vô tự tánh. Đi từ duyên sanh, chúng ta đến cái rốt ráo của duyên sanh là tánh Không, vô tự tánh. Như vậy, tánh Không không bác bỏ duyên sanh, nghĩa là không bác bỏ nhân quả, vì nhân quả là một phương diện của nhân duyên sanh. Không bác bỏ nhân quả nghiệp báo cho nên không rơi vào đoạn kiến, chủ nghĩa hư vô. Mặt khác, không xem nhân quả nghiệp báo là có tự tánh và tất định, không thể chuyển hóa, tịnh hóa, cho nên không rơi vào thường kiến, chủ nghĩa vĩnh cửu.

Đây là một phần ý nghĩa Trung đạo của tánh Không 

Có thể nói rằng, duyên sanh và nhân quả là hiện tượng, tánh Không là bản thể. Nói theo Trung luận, duyên sanh là chân lý tương đối, quy ước (tục đế) và tánh Không là chân lý tuyệt đối, tối hậu (đệ nhất nghĩa đế). Duyên sanh là hiện tượng của bản thể tánh Không. Và tánh Không là bản thể của hiện tượng duyên sanh.

 

Chư Phật y hai đế  

Vì chúng sanh nói pháp  

Một là thế tục đế  

Hai, đệ nhất nghĩa đế.  

Nếu người không thể biết  

Phân biệt hai đế này  

Đối Phật pháp sâu xa  

Không biết nghĩa chân thật.  

Không y thế tục đế  

Không được đệ nhất nghĩa  

Không đạt đệ nhất nghĩa

Thì không đắc Niết bàn.

Trung luận, Quán Tứ đế

 

Đệ nhất nghĩa đế là tánh Không được ngài Long Thọ tóm tắt trong bài kệ mở đầu của Trung luận:

 

Không sanh cũng không diệt  

Không thường cũng không đoạn  

Không một cũng không khác  

Không đến cũng không đi  

Bậc thuyết giáo đệ nhất  

Nói pháp nhân duyên ấy  

Khéo diệt các hý luận  

Con cúi đầu lễ Phật. 

 

 

 

2. Do tánh Không nên có duyên sanh 

Chúng ta hãy đi đến tận cùng của sự vật. Chẳng hạn, đóa hoa ở trên. Đóa hoa duyên sanh từ những vi trần, những nguyên tử. Rồi những nguyên tử duyên sanh từ những hạt nhỏ hơn. Những hạt nhỏ hơn này lại duyên sanh từ những hạt nhỏ hơn nữa cho đến vô tận. Như vậy, khi đi đến tận cùng chúng ta gặp tánh Không rốt ráo (Tất cánh không, là một trong 18 nghĩa của tánh Không, theo kinh Đại Bát- nhã). 

 

Mọi con người, sự vật có sanh ra đều từ và do “nền tảng”, “căn bản” là tánh Không hay vô tự tánh. Nếu không có cái nền tảng là vô tự tánh hay là tánh Không ấy, không có cái gì được sinh ra, hiện hữu, và diệt mất. Chính trên nền tảng tánh Không mà thế giới nhân duyên sanh khởi. 

 

Dù vũ trụ này được sanh ra theo những nguyên nhân  nào và theo cách nào, hoặc Big Bang (Vụ nổ lớn) hay  Big Bounce (Vụ nẩy bật lớn) hay “giống như một mạng lưới nhện do một con nhện nhả ra, rồi sau đó sẽ thu lại lưới nhện vào mình” như theo văn hóa Veda Ấn Độ, thì nó được sanh ra, được duyên sanh trên nền tảng vô tự tánh hay tánh Không. 

 

Nước giữ được tự tánh của nó thì không thay đổi, không biến chuyển, không thể chảy, không thể bốc hơi, không thể đóng băng, không thể trở lại thành khí hydro và oxy. Vì nước có bản chất là vô tự tánh, nó có thể chảy, bốc hơi, đóng băng, và tan thành khí. Nhiều người thắc mắc về Phật giáo: Tại sao Phật giáo nói có tái sanh, có luân hồi lại đồng thời nói vô ngã? Đã có luân hồi, tái sanh thì phải có một cái ngã để luân hồi, tái sanh chớ? Đến đây. Trong bối cảnh tánh Không, chúng ta có thể trả lời, chính vì vô ngã, vô tự tánh mới có tái sanh, có luân hồi. Nếu có một cái gì thực sự là ngã, là có tự tánh, thì làm gì có sự thay đổi, lưu chuyển, luân hồi? 

 

Vì mọi sự là duyên sanh, nên mọi sự phải duyên sanh trên nền tảng vô tự tánh, trên nền tảng tánh Không. 

 

Đây là điều ngài Duy Ma Cật nói với Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi, “Từ gốc vô trụ (vô tự tánh) mà tất cả các pháp được thành lập.” (Phẩm Quán chúng sanh, kinh Duy Ma Cật).

 

Trung luận cũng nói:  

Do vì có nghĩa Không  

Tất cả pháp được thành   

Nếu không có nghĩa Không  

Tất cả pháp chẳng thành
 

                                    (Phẩm Tứ Đế) 

 

Chúng ta thấy, vì có tánh Không, có vô tự tánh, nên có duyên sanh, có nhân quả, có nghiệp báo. Như thế, tánh Không không phải là không có gì, tánh Không không bác bỏ nhân quả, nghiệp báo, nghĩa là không phải đoạn kiến, chủ nghĩa hư vô. 

Ngược lại, duyên sanh có nền tảng tối hậu là tánh Không, nên duyên sanh không phải là thường kiến, không phải là chủ nghĩa vĩnh cửu. Duyên sanh nhờ có nền tảng trên tánh Không, y cứ trên tánh Không mà có sự giải thoát cho duyên sanh.

 

Đây là một phần ý nghĩa của Trung đạo của tánh Không, không rơi vào hai cực đoan đoạn kiến và thường kiến; đồng thời sử dụng cả duyên sanh và tánh Không để lập nên con đường Trung đạo tiến đến giải thoát và giác ngộ. 

 

Chính vì đi giữa thường kiến và đoạn kiến, giữa có và không, nên tánh Không có một phương diện nữa là “giả”,“như huyễn”.  

 

Pháp các nhân duyên sanh  

Ta nói tức là Không  

Cũng gọi là Giả danh 

Cũng là nghĩa Trung đạo. 
 

(Phẩm Tứ đế)
 
 
Kinh Kim Cương, một kinh thuộc hệ Bát- nhã tánh Không, đã chấm dứt bằng bài kệ:
 

Tất cả pháp hữu vi  

Như mộng huyễn bọt ảnh  

Như sương cũng như chớp  

Hãy tu quán như vậy. 

 

3. Ý nghĩa của Trung đạo 

 

Con đường Bồ tát là con đường của hai sự tích tập: tích tập công đức và tích tập trí huệ. Tích tập công đức là việc làm trong vòng duyên sanh, nhân quả. Tích tập trí huệ là hoàn thiện trí huệ soi thấu tánh Không. 

 

Với Bồ tát, hai sự tích tập này phải thông với nhau, đồng bộ dần dần cho đến mức hợp nhất. Ví dụ trong kinh Kim Cương, tích tập công đức là bố thí, nhẫn nhục, trang nghiêm cõi Phật, thuyết pháp, cứu giúp chúng sanh…, mọi hành động này phải tương ưng với trí huệ soi thấu tánh Không. 

 

Như vậy đây là con đường Trung đạo của Bồ tát, đi giữa một bên là duyên sanh, tạo nhân để thành quả, và một bên là tánh Không. Con đường Trung đạo này đi giữa sanh tử (duyên sanh) và Niết bàn (tánh Không). 

Trung đạo của người hành Bồ-tát đạo là tạo lập, xây dựng công đức, là công việc ở trong nhân quả duyên sanh của sanh tử, nhưng không ở trong sanh tử vì đồng thời vẫn thể nhập tánh Không. (Học không bất chứng, một phẩm của kinh Đại-Bát nhã). 

 

“Bồ tát tuy hành môn tam muội giải thoát Không, nhưng trong đó không chứng vô tướng, không rơi vào hữu tướng. Vì sao thế? Bồ tát này trí huệ sâu xa, thiện căn đầy đủ, nghĩ như thế này, “nay là lúc học không phải lúc chứng”…, vì bồ tát không từ bỏ tất cả chúng sanh.” (Kinh Phật Mẫu Bát nhã Ba la mật đa, phẩm Phương tiện thiện xảo.) 

 

Với sự tích tập công đức ở trong ba cõi sanh tử, Bồ-tát dần dần thành tựu Sắc thân, gồm Báo thân và Hóa thân. Với sự tích tập trí huệ tánh Không, Bồ-tát dần dần thành tựu Pháp thân. Khi hai sự tích tập ấy viên mãn, Bồ-tát đầy đủ cả ba thân, Pháp thân, Báo thân, và Hóa thân viên mãn, và thành một vị Phật. 

 

Trung đạo là sự đi giữa và hợp nhất sanh tử sanh diệt và Niết bàn tánh Không. Sự hợp nhất này là “duyên sanh tức vô sanh” và “vô sanh mà duyên sanh”. Cuối cùng, Bồ tát chứng ngộ sanh tử sanh diệt là Niết bàn tánh Không, còn gọi là Vô trụ xứ Niết bàn, như Trung luận, phẩm Quán Niết bàn nói:

 

Niết bàn và thế gian  

Không mảy may phân biệt  

Thế gian và Niết bàn  

Cũng không chút phân biệt.  

Thật tế của Niết bàn  

Và thật tế thế gian  

Cả hai thật tế ấy  

Không mảy may sai khác.

 

Sự không mảy may sai khác vượt khỏi mọi có không này được các kinh gọi là tánh Như, Chân Như. Trong kinh Đại Bát nhã, tánh Không cũng tức là Chân Như, Nhất Tướng… Kinh Kim Cương nói: “Như Lai, đó là nghĩa Như của tất cả các pháp”. 

Tánh Không không phải là không có gì cả, mà là không có những vọng tưởng thấy sai lầm về thực tại, cho nên được gọi là tánh Như. Tánh Như là nghĩa Trung đạo trong bài kệ của ngài Long Thọ: 

 

Pháp các nhân duyên sanh- ta nói tức là Không- cũng gọi là Giả danh- cũng là nghĩa Trung đạo”. 

 

Chúng ta trích thêm một đoạn về tánh Như trong kinh Duy-Ma-Cật, phẩm Bồ-tát: 

 

Làm sao ngài Di-Lặc được thọ ký sanh một đời nữa thì thành Phật? Là theo Như sanh mà được thọ ký ư? Là theo Như diệt mà được thọ ký ư? Nếu vì Như sanh mà được thọ ký, thì Như không có sanh. Nếu vì Như diệt mà được thọ ký, thì Như không có diệt. Tất cả chúng sanh đều là Như. Các thánh hiền cũng là Như. Cho đến ngài Di-Lặc cũng là Như. Nếu ngài Di-Lặc được thọ ký thì tất cả chúng sanh cũng phải được thọ ký. Tại sao như thế? Đã vốn là Như, thì không hai, không khác. 

 

Nếu ngài Di-lặc đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, thì tất cả chúng sanh cũng phải đắc. Tại sao như thế? Tất cả chúng sanh là tướng Bồ đề. Nếu ngài Di-Lặc được diệt độ, thì tất cả chúng sanh cũng được diệt độ. Tại sao như thế? Chư Phật thấy biết tất cả chúng sanh rốt ráo tịch diệt, tức là tướng Niết bàn, chẳng phải chờ đợi sự diệt độ nào nữa”.

Nguyễn Thế Đăng

  • Tu tập trí tuệ siêu việt theo con đường bồ tát của Tịch Thiên - Đức Đạt Lai Lạt Ma: Practicing Wisdom. Translated and edited by Thupten Jinpa. Wisdom, 2005.
    Bản dịch Việt : Đặng Hữu Phúc

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 14
  • Dudjom Dorjee sinh trưởng trong một gia đình du mục ở phía Đông Tây Tạng, trưởng thành ở Ấn Độ và nhận bằng cấp giáo thụ kiệt xuất từ Đại học Sanskrit ở Varanasi. Năm 1981, theo yêu cầu của Pháp vương thứ 16 dòng Karmapa là Gyalwang Karmapa, ngài tới Hoa Kỳ với tính cách đại diện cho dòng truyền thừa Karma Kagyu của Phật Giáo Tây Tạng. Từ đó ngài đã giảng dạy

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 12
  • Tại sao thực hành phương pháp nội qui y của mật tông quá khó? Tại vì nó được hoàn thành bởi tâm, ở trong tâm. Để bắt đầu công việc này, qui y phải được thực hiện bằng tất cả trái tim, trọn vẹn cả tâm hồn. Qui y không phải là lặp đi lặp lại một vài câu nói trong khi tâm không có một chút rung động nào..

    Vô Huệ Nguyên trích dịch

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 121
  • Đức Đạt Lai Lạt Ma Practicing Wisdom. Translated and edited by Thupten Jinpa. Wisdom, 2005

    Bản dịch Việt : Đặng Hữu Phúc

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 91
  • Pháp thân Phật là tánh Không không hình không tướng ở khắp như hư không. Báo thân là quang minh và Hóa thân là thân vật chất; hai thân này được gọi là Sắc thân. Sắc thân được ứng hiện từ Pháp thân và không lìa Pháp thân..

    Nguyễn Thế Đăng

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 169
  • dalai lamaTin tưởng nơi những hành động và kết quả của chúng
    Trong sự hiểu biết tính không của những hiện tượng
    Thật kỳ diệu hơn ngay cả sự kỳ diệu.
    Thật phi thường hơn ngay sự phi thường.
    -Luận Về Tâm Thức Giác Ngộ Của Long Thọ-

    Tuệ Uyển chuyển ngữ

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 349
  • tanh-khong-hoa-nghiemThế giới Hoa Nghiêm hiện hữu trên nền tảng tánh Không

    Như kinh Duy-ma-cật nói, “Từ gốc vô trụ (tánh Không), lập tất cả pháp”.

    Trung luận (phẩm Quán Tứ đế) nói, “Bởi vì có nghĩa Không. Tất cả pháp được thành. Nếu không có nghĩa Không. Tất cả đều chẳng thành”.

    Kinh Hoa Nghiêm, như các kinh điển Đại thừa, lấy tánh Không làm nền tảng..

    Nguyễn Thế Đăng

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 360
  • hoa_sen_hai_mau_2Nói đến lòng sùng tín, sùng mộ và tin tưởng, có lẽ không phẩm nào của Kinh Đại Bát-nhã nói cụ thể và xúc động hơn phẩm Bồ-tát Thường Đề, kể về sự nhiệt thành khát khao cầu ngộ nhập tánh Không của một Bồ-tát. Sùng mộ, tin tưởng và nhiệt thành cầu thể nhập tánh Không đến độ thường hay khóc, do đó có tên Thường Đề.

    Trong bài viết ngắn này, chúng ta chỉ trích dẫn vài đoạn ngắn trong Kinh Đại Bát-nhã để thấy phần nào lòng sùng tín của một người tu hành trí huệ tánh Không..

    Nguyễn Thế Đăng

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 310
  • Mỗi sự vật, dù do cọng nghiệp của chúng sanh và thiện nghiệp của chư Bồ-tát, đều là sự ứng hiện của tánh Không vô tự tánh. Mỗi sự vật sanh khởi từ tánh Không, hiện diện trong tánh Không và tiêu tan trong tánh Không. Mỗi sự vật chính là sự ứng hóa của tánh Không theo nghiệp của chúng sanh. Như thế, khi tánh Không là Pháp thân, thì sự vật là ứng hóa thân của tánh Không, tức là Ứng hóa thân của Pháp thân..

    Nguyễn Thế Đăng, VHPG 230

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 230
  • Sự thấu hiểu về giáo lý tánh không trong Phật giáo là điều vô cùng thiết yếu để có thể trải qua tiến trình sống và chết một cách thực tiễn và không sợ hãi. Tánh không ở đây không có nghĩa là không có hiện hữu. Có thể bạn cho rằng tánh không ở đây có nghĩa là không có gì hết, nhưng tánh không không phải là như vậy..

    MIND OF CLEAR LIGHT

    Advice on Living Well and Dying Consciously, H.H The Dalai Lama XIV

    Đỗ Đình Đồng dịch Việt

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 513
  • Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Vị Tu Đà Hoàn có thể khởi lên niệm này, ‘Ta đắc quả Tu Đà Hoàn’ chăng?

    Tu Bồ Đề thưa: Quả thật không, bạch Thế Tôn. Vì sao thế? Tu Đà Hoàn gọi là Vào Dòng, mà thật không có chỗ vào, không vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, ấy gọi là Tu Đà Hoàn..

    Đương Đạo

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 306
  • Hãy nhìn thẳng vào tất cả những gì xuất hiện
    Trong bất cứ nơi nào của mười phương.
    Dầu nó có vẻ như thế nào,
    Sự vật trong tự nó, bản tánh đích thật của nó,
    Là bản tánh như hư không của tâm,
    Vượt khỏi sự phóng chiếu và tan biến của tư tưởng và ý niệm.

    Mọi sự có bản tánh trống không.
    Khi cái trống không nhìn cái trống không,
    Có ai để nhìn vào cái trống không như vậy ?

    Khenpo Jamyang Dorje cho Mẹ ngài
    Dịch bởi Erik Hein Schmidt và biên tập bởi
    Ani Lodroš Palmo và Ward Brisick

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 544
  •  

    Điều vô cùng quan yếu là phải hiểu "Tánh không" có nghĩa là gì. Lại cũng quan trọng để biết Tánh không ở ngay trong tâm mình, qua kinh nghiệm bản thân. Muốn cảm nghiệm Không tánh, thực tính của vạn pháp, thì trước hết phải hiểu nó trên bình diện tri thức. Nếu không hiểu tánh không trên bình diện tri thức, thì sẽ vô cùng khó khăn để mà có được cảm nghiệm thực thụ về Không. Hiểu Tánh không trên bình diện tri thức là một điều kiện chuẩn bị cho việc phát sinh thực chứng kinh nghiệm về Tánh không bằng trực giác. Vậy là có hai cách hiểu về Tánh không: hiểu bằng tri thức và hiểu bằng kinh nghiệm bản thân..

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 11.814
  • Nếu căn cứ vào sự lý luận lô-gic (sự hữu lý) thì sẽ không thể có bất cứ một thứ gì vừa trống-không lại vừa không-trống-không được, tuy nhiên ngược lại thì bắt buộc chúng ta phải chấp nhận có một thứ gì đó có thể mang hai thể dạng khác nhau. Phật Giáo đưa ra khái niệm về tánh không hầu giúp chúng ta hình dung ra, hay đúng hơn là cảm nhận được, thể dạng phi-nhị-nguyên (non-duality) và đấy cũng chính là cốt tủy của tánh không (nhị-nguyên là tính cách đối nghịch giữa chủ thể và đối tượng, tức là giữa người quan sát và đối tượng được quan sát, dù đối tượng ấy là một vật thể hay một sự kiện thuộc ngoại cảnh hay là các tư duy và xúc cảm bên trong tâm thức. Thể dạng phi-nhị-nguyên là một thể dạng cảm nhận của tâm thức khi nó đã loại bỏ được sự đối nghịch giữa chủ thể và đối tượng. Thật ra thì đây cũng là cách định nghĩa đặc thù của Duy Thức Học về tánh không)..

    John Blofeld - Hoang Phong chuyển ngữ

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 15.953
  • Tính cách duyên sanh của tất cả các pháp được nói rõ trong đoạn đối thoại sau đây  của kinh Na Tiên Tỳ Kheo, một đoạn kinh mà hầu như tất cả chúng ta đều đã từng đọc qua. Xin trích ra đây vì đặc điểm dễ hiểu và dễ nhớ của nó:..

    Nguyễn Thế Đăng

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 19.782
  • Sau đây, chúng ta sẽ cố gắng tìm hiểu ở mức độ ý thức, lý tính, về tánh Không để giải tỏa bớt sương mù đang che khuất cái nền tảng của Phật giáo Đại thừa. Tánh Không là nền tảng cho mọi kinh điển Đại thừa, và do đó là nền tảng cho mọi tông phái, cả lý thuyết và thực hành, như Thiền tông, Mật tông, Tịnh Độ tông, Duy Thức tông, Hoa Nghiêm tông… Chúng ta cũng sẽ hiểu thêm vì sao ngài Long Thọ không đặt tên cho tác phẩm của ngài về tánh Không là Tánh Không luận mà là Trung luận hay Trung đạo luận; và trường phái của ngài có tên là Trung đạo (Madhyamika School)..

    Nguyễn Thế Đăng

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 19.603
  • Bản Văn Bảy Điểm Tu Tâm của phái Kadam

    Hãy nhìn vào tâm thức nền tảng của bạn, đích thị chỉ là cái thức giác không phân chia thành phần đoạn, cái tiến trình tư tưởng hiện hữu bên trong bạn. Chỉ nhìn vào nó, thấy nó. Khảo sát không phải là phân tích. Chỉ nhìn những sự vật như chúng là, trong nghĩa bình thường.

    Việt dịch: Trùng Hưng - NXB TTT

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 16.612
  • Trong toàn bộ giáo huấn Phật Giáo thì tánh không là một chủ đề khó thấu triệt nhất, bởi vì đấy chính là phần cốt lõi. Cũng thật dễ hiểu, nếu đã là cốt lõi của Phật Giáo thì nhất định đấy cũng sẽ là một chủ đề thật tinh tế và sâu sắc. Các cách phỏng đoán và suy nghĩ thông thường không thể nào có thể giúp chúng ta hiểu được tánh không là gì, mà chính chúng ta phải dày công nghiên cứu một cách kiên trì và tường tận..

    Hoang Phong chuyển ngữ

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 16.643
  • ...Ta phải hiểu rõ bản tánh nền tảng của tánh Không, cũng chính là sự hiểu biết về bản tánh của tâm. Sự hiểu biết bản tánh nền tảng của tánh Không có hai phần : ta phải phát triển sự xác tín vào sự vô ngã của cái ta và sự vô ngã của mọi sự xuất hiện. Điều này có nghĩa là ta tiệt trừ tâm thức nhị nguyên của sự bám nắm vào một cái ta và sự dính mắc vào các sự xuất hiện. Khi đó, ta có thể nhận thức được rằng mọi sự xuất hiện thì không hiện hữu..

    Việt dịch: Liên Hoa - THIỆN TRI THỨC

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 19.475

Top Book

Top Book Mp3

Top Bài Viết

Top Music

Top Music Album

 
© Copyright 2009 - 2018 anphat.org - Chịu trách nhiệm nội dung: Thị Đức bienman0811@yahoo.com - Hỗ trợ kỹ thuật votamthoai@gmail.com