Con Đường Đại Toàn Thiện

Về sau , trong thị kiến khi tôi gặp vua của các vị nắm giữ hiểu biết ( Vidyadhara ) – Shri Simha . Tôi hỏi ngài : “ Hỡi bậc thầy tôn kính , con xin ngài chỉ cho con con đường đại Toàn Thiện là gì ? ” . Trước sự cầu xin của tôi, ngài ban cho sự trả lời sau đây :

“ Đại Toàn Thiện là nền tảng tối thượng chung của Sinh tử và Niết bàn – Hư không căn bản tối thượngTrong đó có ba cách thái : Sinh tử , Niết bàn, và Con đường đều toàn thiện và viên mãn . Hiểu được bản tánh này như nó thực sự là . . . Đây là cái thấy ( Tri kiến hay Kiến giải ) . Đạt được sự thông thạo trong nền tảng vô thượng bổn nguyên nguyên sơ và không có thời gian . Bằng sự tự giác và mở rộng trong thực trạng hiện tiền của chính mình là : Thiền định tự do thoát khỏi mọi khuôn khổ quy chiếu cố định . 

 

Giống như một giọt nước hòa với đại dương và trở thành đại dương . Nhưng không làm biến chất đại dương . Hay hư không trong bình hòa với hư không bên ngoài khắp suốt không đổi thay . Nền tảng hiện thể hay tâm bình thường . Vốn không trong ngoài nhưng vì phân biệt nên chia thành trong và ngoài . Tất cả chỉ do sự vọng tưởng thành ra tự ngã và tự tánh . 

 

Cũng như nước , hiện hữu trong trạng thái trôi chảy tự do tự nhiên . Trở nên đông cứng thành băng dưới ảnh hưởng của sự lạnh . Như nền tảng hiện thể hiện hữu trong một trạng thái tự do tự nhiên . Nhưng quang phổ của vòng Sinh tử được thiết lập do vọng tưởng tiềm ẩn về một tự ngã cá nhân và tự tánh của những hiện tượng .

 

Hiểu sự kiện này , nên buông bỏ ba loại hành động : Tốt , xấu và trung tính do thân tạo ra và ngồi như một xác chết trong nghĩa địa không làm gì cả . Buông bỏ ba loại hành động của ngữ như người câm . Cũng như buông bỏ ba loại hành động của tâm thức : Nên an trụ không thi thiết như bầu trời mùa thu . Không có những duyên làm ô nhiễm nên được gọi là : “ Thiền Định Quân Bình ”

 

Cũng được gọi là : “ Bỏ mọi điều phải làm ” hay “ Không có điều gì để làm ” . Vì mọi cách thức hoạt động đã buông bỏ và “ Vượt khỏi tâm lý trí bình thường ” . Vì không có sự thi thiết , tạo tác của tâm lý trí bình thường . Trong bối cảnh điểm then chốt này sẽ khám phá sự tin cậy kiên cố vĩ đại .

 

Hơn nữa , vào tất cả mọi lúc . Khi đi , ngồi , di chuyển , cử động , tụng chú , nói , suy nghĩ hay hành động . Không để mất viễn cảnh cái thấy của mình . Hãy tỉnh giác rằng : Thế giới tất cả mọi hiện tượng có thể có đều như huyễn . Không  mất sự tự tin kiên cố vào thiền định . Hãy tỉnh giác bản tánh hiển lộ rõ ràng . Không xao lãng trong cư xử . Dựa một cách đúng đắn vào bốn loại hạnh đích thực . Đấy là những điểm then chốt để nương dựa cho đến ngày chấm dứt cuộc đời . Đây là thiền định vốn tự do thoát khỏi tâm lý trí bình thường .

 

Điểm then chốt của hạnh là : Từ bỏ những hành động không đức hạnh của thân và ngữ như thuốc độc . Không quá nhấn mạnh vào cái thấy . Đến độ hy sinh hạnh bằng cách nghĩ : Vì mọi sự đều không . Nên không bị nhiễm ô bởi những khuyết điểm bất kể cư xử như thế nào . Thế nên , hãy bình an , tự điều phục và cẩn trọng như người đang ra trước tòa đại hình .

 

Ngược lại , do bám chấp vào những hành động đức hạnh thứ yếu của thân , ngữ , ý . Cho chúng là sâu xanhư thế sẽ coi nhẹ cái thấy và thiền định chân chính .  Nếu tiêu phí cuộc đời làm người và  tích tập công đức trong vòng sinh tửChắc chắn vẫn bị trói buộc cho dù với sợi xích bằng vàng . Không quá nhấn mạnh vào hạnh đến độ hy sinh cái thấyNhư thế sẽ sống như con sư tử tuyết oai hùng đi dạo trên băng tuyết . Không có con thú nào làm cho bối rối .

 

Nhất là , nếu đi theo những người nói rằng : Dù người đã chứng ngộ tánh Không cũng phải trau dồi lòng bi ở chỗ khác tương tự nói rằng : Dù có nước vẫn phải tìm tính ướt ở chỗ khác . Cho dù có lửa vẫn phải tìm sức nóng ở chỗ khác . Hay đang được gió thổi mà lại tìm sự mát mẻ ở chỗ khác . Kinh nghiệm rốt ráo và quyết định chứng nghiệm Sinh tử và Niết bàn chính là tánh Không tối thượng . Cũng là Bồ đề tâm rốt ráo và đó là lòng bi hưởng thụ sự thanh tịnh bình đẳng của Sinh tử và Niết bàn .

 

Có những người , khi được trực tiếp giới thiệu và hiểu biết những điểm then chốt và những tiến trình căn bản của cái thấy và thiền định đúng như chúng là . . . Lại đi xét đoán cho là : Chỉ riêng sự giới thiệu này cũng là quá đủ . Như thế , vẫn còn bám chấp vào những sự việc cần làm trong vòng sinh tử . Họ đã phí phạm những cuộc đời làm người trong đủ loại hạnh đặt nền trên sự tham luyến và ghét bỏ . Tất cả cái thấy và thiền định của họ chìm ngập trong những hành động và hoạt động của vòng sinh tử .

 

Những kinh nghiệm thiền định phù du xảy ra trong tâm thức bình thường và dòng thức giác hoàn toàn khác như :

Những kinh nghiệm về lạc thú ,
Thúc đẩy tái sinh làm một vị trời cõi Dục .

Những kinh nghiệm sống động về sáng tỏ ,
Thúc đẩy tái sinh vào cõi sắc .

Những kinh nghiệm về cái không
Sự xuất thần trong trạng thái vô niệm như ngủ say .
Không nhớ hay tỉnh giác ,
Thúc đẩy tái sinh trong bốn trạng thái của cõi Vô sắc .

Không có một chút ý niệm mơ hồ về cái thấy tánh Không ;
Vì thế ,
Có thể quyết định theo trí thức rằng :
Tâm là trống không .
Chỉ vì ;
Không thể xác định như là một thực thể có thật .
Nên an định nhất tâm vào bối cảnh tánh Không đó .
Cái thấy này sẽ  thúc đẩy đến chót đỉnh của đời sống hữu vi ,
Có nghĩa tái sinh làm vị trời trong trạng thái không tri giác .

Cũng như có thể gặp những biến động  :

Những biến động bên ngoài là ;
Những phô diễn dị thường khác nhau ;
Làm ảnh hưởng đến giác quan như :
Những triệu xấu như những mưu toan của quỷ thần .

Những biến động bên trong là :
Bệnh tật và đau đớn trong thân .

Những biến động bí mật là :
Những sự dao động tâm trạng không duyên cớ .

Nếu ý thức được những khuyết điểm kín đáo này . Chúng ta sẽ thấy chúng đều là những kinh nghiệm hư giả . Vì thế , khi đã đạt đến quyết định về chuyện này . Chúng sẽ tự tan biến Nếu tự củng cố chúng bằng hy vọng và sợ hãi cho là thật . Tất nhiên chúng có thể trở nên những trường hợp làm nguy hại tính mệnh như : Thời kỳ loạn thần . Có nghĩa , trở nên bám chấp cứng ngắc vào những hiện tượng hình tướng biểu lộ như quỷ thần . Đó là nguyên nhân khiến một Đại thiền giả thoái hóa thành một người rất thường tục ” .

Nói thế xong ngài biến khỏi tầm nhìn .

 

Trich trong: Những Lối Vào Thực Tại Tối Hậu - Dudjom Lingpa

Việt dịch: Nguyễn An Cư – Thiện Tri Thức

  • Tulku Thondup Rinpoche

    Harold Talbort biên soạn – Bản Dịch Việt Ngữ: Tuệ Pháp

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 87
  • Có những người, khi được trực tiếp giới thiệu và hiểu biết những điểm then chốt và những tiến trình căn bản của cái thấy và thiền định đúng như chúng là . . . Lại đi xét đoán cho là : Chỉ riêng sự giới thiệu này cũng là quá đủ . Như thế , vẫn còn bám chấp vào những sự việc cần làm trong vòng sinh tử . Họ đã phí phạm những cuộc đời làm người trong đủ loại hạnh đặt nền trên sự tham luyến và ghét bỏ . Tất cả cái thấy và thiền định của họ chìm ngập trong những hành động và hoạt động của vòng sinh tử ..

    Dudjom Lingpa
     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 296
  • Nyingma (Cổ Mật)

    Theo: VNF

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 476
  • Cái thấy rốt ráo thanh tịnh không có những cực biên hay trung tâm. Nó không thể được chỉ ra bằng cách nói “Nó là cái này”, trong nó cũng không có bất kỳ phân biệt cao thấp hay rộng hẹp nào, Nó siêu vượt khỏi thường và đoạn, thoát khỏi những nhiễm ô của bốn khẳng định cực đoan...

    Buddha Mind - Longchen Rabjampa

    Việt Dịch: Đương Đạo

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 473
  • Bản tánh của sự thanh tịnh bổn nguyên là tự nhiên thành tựu. Cõi giới tối hậu của nó thoát khỏi thường kiến vì không có sự khẳng định rằng nó là sự sáng tỏ thô bên ngoài đang phóng chiếu. Nó thoát khỏi đoạn kiến vì nó được xác định như là sự sáng tỏ vi tế bên trong. Như thế, trí huệ bổn nguyên tự nhiên khởi lên, thoát khỏi những cực đoan, là không hiện hữu vì nó là tánh không trong tinh túy, và nó là những xuất hiện không ngừng vì nó là sự sáng tỏ trong bản tánh. Đây là nền tảng của mọi hiện khởi vì nó là không dứt trong năng lực lòng bi của nó. Đây là cách thế của thật tánh của nền tảng..

    Buddha Mind - Longchen Rabjampa

    Việt Dịch: Đương Đạo

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 438
  • Nền Tảng Bổn Nguyên : Tinh túy của nó vốn thanh tịnh như một pha lê vô nhiễm. Nó không hiện hữu như sự vật hay tính cách. Bản tánh của nó là tự nhiên thành tựu, và mặc dù trong sự bạch tịnh (của bản tánh như pha lê) tự-ánh sáng hiện diện như là sự sáng tỏ sâu xa (hay bên trong), nó không xuất hiện ra ngoài vì không có những điều kiện. Thế nên nền tảng hiện diện trong cách thế “thân thể cái bình trẻ trung” bởi vì vỏ bao bên ngoài còn chưa vỡ. Tinh túy của nền tảng bổn nguyên là tánh không vì nó vốn hằng hằng thanh tịnh và không có sự vật trong đó..

    (An Anthology of Longchen Rabjam’s Writings on Dzogpa Chenpo)
    Tulku Thondup Rinpoche
    Việt Dịch: Đương Đạo – Thiện Tri Thức, 2000
    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 419
  • Dzogchen không được giảng dạy rộng rãi ở Tây Tạng, và trong một thời gian nhiều bậc thầy lớn nhất cũng không giảng dạy pháp môn này ở thế giới tân tiến. Thế thì tại sao bây giờ tôi giảng dạy? Một vài bậc thầy đã bảo tôi rằng đã đến lúc nên hoằng dương Dzogchen, thời gian mà lời tiên tri đã nói đến. Tôi cũng cảm thấy rằng thực thiếu từ bi nếu không san sẻ với mọi người, hiện hữu của một tuệ giác kỳ diệu như thế..

    Tạng thư Sống ChếtSogyal Rinpoche
    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 406
  • H.H. Taklung Tsetul Rinpoche visited to many monasteries in Nepal.Organized by Nyinma Payul Urgen Dorje Choling Monastery,Lama school,Pharping Talku 5th and Nepal Nyinma Buddhist association Boudha Tusal K.T.M.

    YouTube Published on Mar 10, 2013

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 461
  •  

    Nyingma có nghiã là Cổ Xưa nên có tên là dòng Cổ Mật nhưng trước đây còn được gọi là dòng Mũ Đỏ. Ngài Mindroling Trichen Rinpoche đời thứ 11, người  nắm giữ dòng truyền thừa  Nyingma, vừa thị tịch vào tháng Hai năm 2008...

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 19.598
  • Giáo lý Nyingma được chia thành sự trao truyền dài của Kama và trao truyền ngắn của Terma; những giáo lý khác được thọ nhận bởi các bậc Đạo sư trực tiếp trong linh kiến thanh tịnh từ Bổn tôn hay Chư Đạo sư, trong các kinh nghiệm hay trong giấc mơ..

    Sogyal Rinpoche

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 19.712

  • Phận sự đầu tiên của người mới thực hành Dzogchen là học buông xả (lhod-pa), bởi vì, nếu chúng ta không buông xả đúng ngay từ lúc khởi đầu, chúng ta sẽ thấy mình quá đầy năng lực tâm linh, và dòng chảy của tư tưởng do đó sẽ tràn ngập tâm thức chúng ta. Chúng ta sẽ thấy mình không ngừng phóng dật, xao lãng. Khi bề mặt tâm thức chúng ta bị xao lãng và nhiễu loạn bởi những làn sóng mê rối và ồn náo của những tư tưởng hư vọng, những tư tưởng thô lan man này đuổi theo những đối tượng của chúng và sẽ che ám dấu kín khuôn mặt thật của bản tánh của tâm, như một tầng mây dầy che ám và giấu đi khuôn mặt của mặt trời trong bầu trời..

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 16.706
  •                

    Là một người thực hành,

    Bạn phải có niềm tin, sự kiên trì, từ bỏ và tỉnh ngộ.
    Bạn phải buồn rầu và nhàm chán đối với sinh tử, và nỗ lực để đạt được tự do.
    Khi từ bỏ những mối quan tâm về cuộc đời này và tìm kiếm Giác ngộ tối hậu..

     

     

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 13.229
  • Tantra in Tibet: Tenzin Gyatso, Đức Dalai Lama thứ Mười bốn In lần thứ nhất : 1977 George Allen & Unwin, London 1987 Snow Lion - Việt dịch : 1999 Thiện Tri Thức. Người dịch : An Phong.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 20.496
  • Đồng biên tập bản văn của Tsongkapa và bản văn của Dalai Lama: Lati Rinpochay. Phụ tá biên tập bản văn của Tsongkapa : Geshe Gedušn Lodroš. Phụ tá biên tập bản văn của Dalai Lama : Barbara Frye. Nhà xuất bản Snow Lion - Ithaca, New York USA 1987.

    Tantra in Tibet: In lần thứ nhất : 1977 George Allen & Unwin, London 1987 Snow Lion - Việt dịch : 1999 Thiện Tri Thức. Người dịch : An Phong.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 16.453

Top Book

Top Book Mp3

Top Bài Viết

Top Music

Top Music Album

 
© Copyright 2009 - 2018 anphat.org - Chịu trách nhiệm nội dung: Thị Đức bienman0811@yahoo.com - Hỗ trợ kỹ thuật votamthoai@gmail.com