BỐN SỰ THẬT CAO QUÝ

Khi vị thầy vĩ đại của thế giới này, Shakyamuni Buddha nói những lời đầu tiên về Pháp trên mảnh đất cao quý của Ấn Độ, ngài đã dạy về Bốn Sự thật Cao quý (Tứ Thánh Đế): những sự thật về khổ, nguyên nhân của khổ, sự hoại diệt của khổ và con đường dẫn đến sự hoại diệt ấy. Nhiều sách đã thảo luận Bốn sự thật Cao quý bằng tiếng Anh, những sự thật này (cũng như là Bát Chánh Đạo) rất phổ biến. Bốn sự thật này bao quát tất cả, bao gồm nhiều thứ trong chúng.

Xem xét Bốn Sự thật Cao quý nói chung và sự thật rằng không ai trong số chúng ta mong muốn đau khổ và mọi người đều khao khát hạnh phúc, chúng ta có thể nói về một nguyên nhân và một kết quả của cả hai mặt phiền não và giải thoát. Những đau khổ thật sự và những nguyên nhân thật sự là nhân và quả về các sự vật thuộc về phía mà chúng ta không muốn; sự hoại diệt thật sự và những con đường thật sự là nhân và quả các sự vật thuộc về phía mà chúng ta khao khát.

SỰ THẬT VỀ KHỔ

Chúng ta kinh nghiệm nhiều loại khổ khác nhau. Tất cả được chia làm ba loại: khổ của khổ, khổ vì thay đổi và khổ trùm khắp.

Khổ của khổ nói đến các thứ như là những cơn đau đầu và vân vân. Thậm chí các con vật nhận biết loại khổ này và giống như chúng ta, muốn thoát khỏi nó. Bởi vì các chúng sinh có sợ hãi và kinh nghiệm không thoải mái từ những loại khổ này, họ làm nhiều hành động khác nhau để loại trừ chúng. 

Khổ vì thay đổi nói đến những hoàn cảnh khi mà, ví dụ như, chúng ta đang ngồi thư giãn thoải mái và ban đầu, mọi thứ đều có vẻ ổn thoả, nhưng sau đó một lúc, chúng ta mất cảm giác này và cảm thấy lo lắng và không thoải mái.

Ở nhiều nước trên thế giới, chúng ta thấy rất nhiều nghèo đói và bệnh tật: đây là loại khổ thuộc nhóm thứ nhất. Mọi người nhận biết rằng đây là những hoàn cảnh đau khổ cần được loại trừ và cải thiện. Ở nhiều nước phương Tây, nghèo đói có thể không phải là một vấn đề, nhưng những nơi có sự phát triển vật chất cao lại có những loại vấn đề khác. Đầu tiên, chúng ta có thể hạnh phúc vì đã vượt thoát những vấn đề mà tổ tiên của chúng ta đã phải đối mặt, nhưng ngay khi chúng ta vừa mới giải quyết xong một số vấn đề cụ thể, những vấn đề mới lại nảy sinh. Chúng ta có nhiều tiền, nhiều thực phẩm và nhà cửa đẹp đẽ, nhưng bởi cường điệu hoá giá trị của những thứ này, chúng ta làm cho chúng cuối cùng thành vô giá trị. Kinh nghiệm loại này là khổ vì thay đổi.

Một người rất nghèo và vô sản có thể nghĩ rằng có một cái xe hơi hoặc tivi là một điều tuyệt vời, thì khi anh ta mới có chúng, đầu tiên, anh ta sẽ cảm thấy rất hạnh phúc và thoả mãn. Bây giờ, nếu hạnh phúc như vậy là vĩnh cửu, ngay khi anh ta có được chiếc xe hơi hoặc tivi ấy, anh ta sẽ duy trì được hạnh phúc. Nhưng không, hạnh phúc của anh ta biến mất. Sau một vài tháng, anh ta muốn một loại xe hơi khác. Nếu anh ta có tiền, anh ta sẽ mua cái tivi tốt hơn. Những đồ vật cũ, những vật đã từng mang lại cho anh ta sự thoả mãn, bây giờ lại gây ra sự không thoả mãn. Đấy là bản tính của sự thay đổi: đấy là vấn đề của khổ vì thay đổi.

Khổ trùm khắp là loại thứ ba. Nó được gọi là trùm khắp [tiếng Tạng là: kyab-pa du-che kyi dug-ngal - theo nghĩa đen là khổ của sự hợp tạo rộng khắp] bởi vì nó hoạt động như là nền tảng của hai loại đầu.

Có thể có những người, thậm chí là ở những nước phát triển, muốn được giải thoát khỏi loại khổ thứ hai - khổ vì thay đổi. Chán ngán những cảm xúc ô uế của hạnh phúc, họ tìm kiếm cảm xúc bình đẳng, điều có thể dẫn đến tái sinh vào các cõi vô sắc giới - nơi chỉ có cảm xúc này. 

Bây giờ, khao khát giải thoát khỏi hai loại khổ đầu không phải là động lực chính để tìm kiếm giải thoát [khỏi sinh tử]: Đức Phật đã dạy rằng gốc rễ của ba loại khổ là loại thứ ba: khổ trùm khắp. Một số người tự vẫn, họ dường như nghĩ rằng đau khổ chỉ bởi vì đó là đời sống con người, và rằng bằng cách kết thúc cuộc đời họ, sẽ chẳng còn gì. Loại khổ thứ ba, trùm khắp, chịu ảnh hưởng của nghiệp và tâm phiền não. Chúng ta có thể thấy rằng, không cần phải suy nghĩ sâu sắc lắm, rằng nó chịu ảnh hưởng của nghiệp và tâm phiền não từ những đời trước: sân giận và tham luyến sinh khởi chỉ bởi vì hiện tại chúng ta có những chủng tử này. Chủng tử của những hiện tượng hợp tạo giống như là một công cụ để chúng ta tạo nghiệp và những tâm phiền não này; điều này được gọi là na-ngan len [nghĩa đen là nhận lấy một nơi xấu]. Bởi vì điều ấy liên quan tới việc nhận lấy một nơi xấu của những tâm phiền não, và bị chúng kiểm soát, chúng hỗ trợ cho tâm phiền não của chúng ta tạo tác và ngăn cản chúng ta làm các hạnh lành. Tất cả khổ đau của chúng ta có thể truy ngược về tận những chủng tử tham luyến và bám nắm này.

Có thể, khi bạn nhận biết rằng những chủng tử của bạn là nguyên nhân của tất cả mọi khổ đau của bạn, bạn có thể nghĩ tới tự tử để thoát ra. Nhưng, nếu không có sự tiếp tục của tâm, không có đời tới, cũng tốt thôi - nếu bạn có sự can đảm ấy, bạn có thể kết thúc bản thân mình. Nhưng theo quan điểm của Đạo Phật, không phải là như thế, thức của bạn sẽ tiếp tục. Thậm chí nếu bạn kết liễu đời mình, đời này, bạn sẽ phải nhận lấy một cái thân khác, sẽ lại là nền tảng của khổ. Nếu bạn thật sự mong muốn kết thúc tất cả những đau khổ của mình, tất cả những khó khăn mà bạn trải qua trong đời mình, bạn phải loại bỏ nguyên nhân cơ bản đã sinh khởi những chủng tử, đó là nền tảng của tất cả khổ đau. Tự tử không giải quyết những vấn đề của bạn.

Bởi vì vậy, chúng ta phải tìm hiểu nguyên nhân của khổ đau: có nguyên nhân nào hay không? Nếu có, loại nguyên nhân ấy là gì: một nguyên nhân tự nhiên, không thể loại bỏ được, hay là một nguyên nhân lệ thuộc vào nguyên nhân của chính nó và do đó có thể được loại bỏ? Nếu nó là một nguyên nhân có thể vượt qua, liệu chúng ta có thể vượt qua nó không? Do đó, chúng ta đi tới sự thật thứ hai, sự thật về nguyên nhân của khổ.

 

SỰ THẬT VỀ NGUYÊN NHÂN CỦA KHỔ

Các Phật tử xác nhận rằng không có Đấng tạo hoá bên ngoài và rằng thậm chí một Đức Phật là chúng sinh cao nhất, thậm chí một Đức Phật cũng không có quyền năng tạo ra đời sống mới. Do vậy, giờ đây, cái gì là nguyên nhân của khổ?

Nói chung, nguyên nhân tối hậu là tâm; tâm bị ảnh hưởng bởi những tư tưởng xấu như là sân giận, tham luyến, ghen tị và vân vân là nguyên nhân chính dẫn đến sự sinh và tất cả những vấn đề khác. Tuy nhiên, không có khả năng kết thúc tâm hoặc cắt ngang bản thân dòng thức. Hơn thế nữa, không có gì sai từ bản chất với cấp độ sâu nhất của tâm: nó chỉ đơn giản là bị tác động bởi những tư tưởng xấu. Nhưng câu hỏi là liệu chúng ta có thể chiến đấu và kiểm soát sân giận, tham luyến và những tâm tiêu cực, phiền não khác không. Nếu chúng ta có thể triệt hạ chúng, chúng ta sẽ có thể còn lại tâm thanh tịnh, thoát khỏi những nguyên nhân của khổ đau. 

Điều đưa chúng ta tới tâm tiêu cực, phiền não, những ảo tưởng là các yếu tố tâm lý. Có nhiều cách khác nhau để trình bày sự thảo luận về tâm, nhưng nói chung, bản thân tâm là một cái gì đó chỉ đơn thuần là tính sáng và tính giác. Khi chúng ta nói về những thái độ phiền não như là sân giận hoặc tham luyến, chúng ta phải thấy cách chúng có thể tác động và khiến tâm ô nhiễm, cái gì là bản tính thật của chúng? Thì điều này là sự thảo luận về nguyên nhân của khổ.

Nếu chúng ta hỏi tham lam và sân giận sinh khởi như thế nào, câu trả lời là chúng, không nghi ngờ gì, được hỗ trợ bởi sự bám nắm của chúng ta vào các sự vật như là thật và có bản tính thật sự. Ví dụ như khi chúng ta nổi giận vì một chuyện gì đó, chúng ta cảm thấy đối tượng ở ngoài kia, cứng chắc, thật có và không bị đảo lộn, và rằng bản thân chúng ta, tương tự như vậy, là một cái gì đó cứng chắc và có thể tìm thấy. Trước khi chúng ta nổi giận, đối tượng ấy xuất hiện bình thường, nhưng khi tâm chúng ta bị ảnh hưởng bởi cơn giận, đối tượng nhìn xấu xí, hoàn toàn đáng ghê tởm, buồn nôn; một điều mà chúng ta muốn loại bỏ ngay lập tức - nó thât sự biểu hiện để hiện hữu theo cách ấy: cứng chắc, độc lập và rất không hấp dẫn. Hình tướng của “thật sự xấu xí” làm tăng thêm cơn giận của chúng ta. Nhưng khi chúng ta gặp lại đối tượng ấy cùng ngày, khi cơn giận đã lắng xuống, đối tượng ấy có vẻ như là đẹp hơn so với nó ngày hôm qua, nó cùng là một đối tượng nhưng không có vẻ xấu đến thế. Điều này cho thấy sân giận và tham luyến đã bị tác động bởi sự bám nắm của chúng ta vào các sự vật như là có thật và không thể thay đổi.

Do đó, những văn bản về triết học Trung Đạo [Madhyamaka] viết rằng gốc rễ của tất cả những tâm phiền não tiêu cực là việc bám nắm vào sự hiện hữu cho là có thật (chấp thật), rằng điều này hỗ trợ chúng, và đem chúng đến; rằng sự vô minh của tâm đóng kín bám nắm vào các sự vật như là có bản chất thật là nguồn gốc căn bản của tất cả đau khổ của chúng ta. Dựa vào sự bám nắm vào sự hiện hữu thật sự, chúng ta phát triển tất cả các loại tâm phiền não tiêu cực và tạo ra một lượng nghiệp xấu to lớn.

Trong bản văn Nhập Trung Đạo [Madhyamakavatara], học giả Ấn Độ vĩ đại - Nguyệt Xứng (Chandrikirti) nói rằng đầu tiên, có sự bám luyến vào bản ngã, điều này được theo sau bởi việc bám nắm vào các thứ và trở nên tham luyến vào chúng như thể là “của tôi”. Đầu tiên, có một cái Tôi cứng chắc, độc lập rất to - to hơn bất cứ thứ gì khác, đây là căn bản. Từ đây từ từ dẫn đến “đây là của tôi, đây là của tôi, đây là của tôi.” Sau đó “chúng ta, chúng ta, chúng ta”. Sau đó, bởi vì chúng ta đi theo cách này, đến “những người khác, kẻ thù của chúng ta.” Hướng về Tôi và của tôi, tham luyến sinh khởi. Hướng về anh ta, cô ấy và bọn bọ, chúng ta cảm thấy khoảng cách và sân giận, sau đó ghen tị và những cảm xúc đua tranh sinh khởi. Do đó, một cách tối hậu, vấn đề là cảm giác của “Tôi” - không chỉ đơn thuần Tôi nhưng cái Tôi mà với nó chúng ta trở nên bị ám ảnh. Điều này khiến sân giận và sự kích thích sinh khởi, cùng với những từ ngữ cay nghiệt và tất cả những biểu hiện thân thể của ghét bỏ và ác cảm.

Tất cả những cảm xúc tiêu cực này (của thân, khẩu, ý) tích tập nghiệp xấu. Giết hại, dối trá và tất cả những hành động tiêu cực tương tự cũng là kết quả từ động lực xấu. Giai đoạn đầu tiên hoàn toàn là tâm thức, tâm phiền não tiêu cực; trong giai đoạn thứ hai, những tâm tiêu cực này thể hiện chính chúng trong những hành động, nghiệp. Ngay lập tức, môi trường bị loạn động. Ví dụ như với sân giận, môi trường trở nên căng thẳng, mọi người cảm thấy không thoải mái. Nếu ai đó điên tiết lên, những người dịu dàng sẽ cố gắng tránh người ấy. Sau đó, người lên cơn giận sẽ cảm thấy xấu hổ vì đã nói đủ các thứ lố bịch, bất kể thứ gì đến trong tâm người ấy. Khi bạn nổi giận, không có cơ hội cho lý lẽ hoặc lý do; bạn trở nên điên rồ, theo nghĩa đen. Sau đó, khi tâm bạn đã trở lại bình thường, bạn cảm thấy xấu hổ. Chẳng có gì tốt đẹp về sân giận và tham luyến cả, không có gì tốt có thể đến từ chúng. Chúng có thể khó kiểm soát, nhưng mọi người có thể  nhận ra rằng chúng không có gì tốt đẹp cả. Vì vậy, đây là sự thật cao quý thứ hai. Bây giờ, câu hỏi nổi lên là liệu những tâm tiêu cực có thể được loại trừ hay không.

 

SỰ THẬT VỀ SỰ HOẠI DIỆT CỦA KHỔ

Gốc rễ của tất cả những tâm phiền não tiêu cực là sự bám chấp của chúng ta vào các thứ như là thật sự hiện hữu. Do đó, chúng ta phải tìm hiểu liệu tâm bám nắm này là đúng hay nó bị lệch lạc và thấy mọi thứ một cách không chính xác. Chúng ta có thể làm điều này bằng cách tìm hiểu những sự vật mà nó tri giác có thực sự hiện hữu như thế nào. Tuy nhiên, vì bản thân tâm này không thể thấy liệu nó có nắm rõ các đối tượng một cách đúng đắn không, chúng ta phải dựa vào một loại tâm khác. Nếu sau khi tìm hiểu, chúng ta phát hiện ra có nhiều cách khác vững chắc để thấy các sự vật và rằng tất cả những thứ này mâu thuẫn, hoặc phủ nhận, cách mà tâm bám nắm vào sự hiện hữu có thật nhận thức các đối tượng của nó, chúng ta có thể nói rằng tâm này không thấy thực tại. 

Do đó, với tâm có thể phân tích cái tối hậu, chúng ta phải cố gắng xác định liệu tâm ấy - cái tâm bám luyến vào những sự vật có vẻ như là thật sự có thể tìm thấy - là đúng hay không. Nếu nó đúng, tâm phân tích cần có khả năng tối hậu để tìm thấy những sự vật được bám nắm. Những văn bản cổ điển của phái Duy Tâm [Cittamantra] và đặc biệt là những trường phái Trung Đạo chứa đựng nhiều lý luận cho việc tìm hiểu như vậy. Theo đó, khi bạn tìm hiểu để thấy liệu tâm bám luyến vào các sự vật như là vốn có thể tìm thấy là đúng hay không, bạn tìm thấy rằng nó không đúng và rằng nó là sai lạc - bạn không thể thật sự tìm thấy những đối tượng mà nó nắm bắt. Do bởi tâm này bị mê  bởi đối tượng của nó, nó phải được loại bỏ.

Do đó, thông qua việc tìm kiếm, chúng ta không tìm thấy sự hỗ trợ có giá trị cho tâm bám nắm nhưng tìm thấy sự hỗ trợ cho lý luận hợp lý cho tâm chứng ngộ rằng tâm bám nắm là không có giá trị. Trong cuộc chiến tâm linh, tâm được hỗ trợ bởi lý luận luôn chiến thắng tâm không được hỗ trợ bởi những lý luận. Sự hiểu biết rằng không có cái gọi là sự hiện hữu thật sự có thể tìm thấy nào tạo nên bản tính sáng tỏ, sâu sắc của tâm; tâm bám nắm vào các sự vật như là thật sự có thể tìm thấy là giả tạo và trôi qua nhanh chóng.

Khi chúng ta loại trừ những tâm phiền não tiêu cực, nguyên nhân của tất cả khổ, chúng ta cũng loại trừ các nỗi khổ: sự thật cao quý thứ ba. Bởi vì có thể thành tựu điều này, bây giờ, chúng ta phải xem xét phương pháp. Điều này mang lại cho chúng ta sự thật thứ tư. 

SỰ THẬT VỀ CON ĐƯỜNG DIỆT KHỔ

Khi chúng ta nói về những con đường thông thường của ba thừa Phật giáo - Tiểu thừa, Đại thừa, và Kim Cương Thừa - chúng ta muốn nói đến ba mươi bảy yếu tố đưa tới giác ngộ. Khi chúng ta đặc biệt nói về những con đường của Bồ tát thừa [Đại thừa - Mahayana], chúng ta đang nói đến mười địa và sáu Ba la mật.

Chúng ta thấy sự thực hành của Tiểu thừa (Hinayana) phổ biến nhất ở Thái Lan, Miến Điện, Sri Lanka và vân vân. Ở đây, những người thực hành được thúc đẩy bởi khao khát thành tựu giải thoát khỏi khổ đau của chính mình. Chỉ lo cho bản thân, họ thực hành ba bảy yếu tố giác ngộ, có liên hệ với năm con đường: Tứ Niệm xứ, Tứ Vô lượng Tâm, Tứ Bất hoại Tịnh (có liên hệ với con đường của sự tích tập), Năm Căn, Năm Lực (con đường của sự chuẩn bị); Thất Giác Chi (con đường của cái thấy); và Bát Chánh Đạo (con đường của thiền định). Theo cách này, họ có thể hoàn toàn đoạn diệt những tâm phiền não tiêu cực và đạt giải thoát cá nhân. Đây là con đường và quả của Tiểu thừa.

Sự quan tâm chính yếu của những người theo Đại Thừa (Mahayana) không chỉ đơn thuần là sự giải thoát của riêng họ mà là giác ngộ của tất cả chúng sinh hữu tình. Với động lực của Bồ đề tâm này - trái tim của họ đã chuẩn bị để đạt giác ngộ như là những phương tiện tốt nhất để giúp đỡ những người khác - những người thực hành này thực hành sáu Ba la mật và từ từ tiến bộ qua mười cấp độ của Bồ tát cho tới khi họ hoàn toàn vượt thoát cả hai loại che chướng và đạt giác ngộ tối thượng của quả vị Phật. Đây là con đường và kết quả của Đại Thừa.

Tinh tuý của sự thực hành sáu Ba la mật là sự hợp nhất của phương tiện và trí huệ để hai thân giác ngộ - rupakaya (sắc thân) và dharmakaya (pháp thân) - có thể được thành tựu. Bởi vì chúng có thể được thành tựu chỉ theo cách ngẫu nhiên, những nguyên nhân của chúng phải được trưởng dưỡng một cách ngẫu nhiên. Do đó, chúng ta phải cùng nhau xây dựng một nơi chứa công đức - như là nguyên nhân của sắc thân (rupakaya) - và một nơi chứa tính giác sâu sắc hay hiểu biết thấu suốt - như là nguyên nhân của thân trí huệ (Pháp thân - dharmakaya). Trong Ba la mật thừa (Paramitayana), chúng ta thực hành phương pháp được nắm bắt bởi trí huệ và trí huệ được nắm bắt bởi phương tiện, nhưng trong Kim Cương thừa (Vajrayana), chúng ta thực hành phương tiện và trí huệ như là một trong bản tính.  

  •  Kyabje Ling Rinpoche (1903 - 1983) là vị thầy quá cố của Thánh Đức Dalai Lama. Ngài là vị nắm giữ Ngôi của Ganden thứ 97 và do đó, là vị đứng đầu dòng truyền thừa Gelug theo truyền thống Phật giáo Tây Tạng. Ngày đã ban giáo lý này tại Trung tâm Thiền Đại thừa Tushita vào ngày 14/11/1979. Bài này được Gehlek Rinpoche dịch sang tiếng Anh và phát hành lần đầu tiên trong quyển Các giáo lý tại Tushita vào năm 1981.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 99
  • HH. DALAI LAMA

    (Trích từ “NHỮNG GIÁO LÝ TỪ TÂY TẠNG - Hướng dẫn của những Lạt Ma vĩ đại” do Nicholas Ribush biên tập)

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 86
  • NỀN TẢNG CỦA TẤT CẢ CÁC PHẨM TÍNH TỐT ĐẸP

    Khunu Lama Rinpoche

    [Trích từ “NHỮNG GIÁO LÝ TỪ TÂY TẠNG - Hướng dẫn của những Lạt Ma vĩ đại” do Nicholas Ribush biên tập]

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 98
  • This monk is going to prove you wrong! This could transform everything you think you know about happiness. Gelong Thubten, world-class meditation coach and speaker, says that happiness is a trainable skill available to everyone. So many of us have bought into the lie that happiness exists in the future. It’s always just ‘about to happen’. But what if that warped perception was the real reason for our deep lack of satisfaction? Our feeling of helplessness and overwhelm in modern times? In this fast-paced world, it seems weird to think that sitting still or just stopping for a moment could be the answer.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 127
  • Mindvalley Talks
     
    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 124
  • Trong đạo phật, tánh không là bản tánh rốt ráo của mọi sự vật hiện tượng. Chính vì vậy, đức Phật đã dạy rằng liễu ngộ tánh không chính là con đường đưa đến giải thoát...

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 310
  • LAMRIM ĐẠI LUẬN TOÁT YẾU, Trình Tự Đường Tu Giác Ngộ

    Khóa Giảng Dharamsala Xuân 2005

    Đức Đalai Lama thuyết giảng
    Hồng Như chuyển Việt ngữ

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 828
  • Cúng Dường Mây Cam Lồ. Một Sưu Tập Giáo Huấn Về Pháp Luyện Tâm Và Các Đề Tài Khác

    Choden Rinpoche Luận Giải

    Theo: Viet Nalanda Foundation

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 765
  • (Trích trong Thuần Hóa Tâm Hồn của Ven, Thubten Chodron )

    Thích Minh Thành biên dịch        

    File:Ven Chodron Portrait.jpg

       Ven. Thubten Chodron        Cốt lõi của những lời Đức Phật dạy có thể được diễn giải như sau: “Hãy giúp ích cho tha nhân. Nếu bạn không có khả năng giúp ích cho người khác thì ít nhất là bạn không làm gì gây tổn hại cho người khác”. .

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 21.117
  • http://i151.photobucket.com/albums/s159/laitutran/hinh%20nho/handmetasianglobe.gif

     

    Để có thể chân chánh quy y Tam bảo, với lòng khao khát sâu sắc đạt đến giác ngộ tối thượng để làm lợi ích cho tất cả chúng sinh hữu tình, ta cần phải hiểu được bản chất của giác ngộ. Tất nhiên, ta nhất thiết phải nhận ra rằng bản chất của đời sống thế tục là đầy dẫy khổ đau. Ta biết rằng việc sống buông thả trong vòng luân hồi là hoàn toàn vô ích, cho dù điều đó có vẻ như rất cám dỗ. Ta quan tâm đến nỗi khổ đau mà người khác đang không ngừng gánh chịu, và khao khát giúp họ vượt thoát khổ đau. Khi sự tu tập được thôi thúc bởi tâm nguyện này, hướng ta đến việc đạt được sự giác ngộ rốt ráo của quả Phật, đó là ta đã bước vào con đường Đại thừa..

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 18.897
  • Gelug có nghiã là Hạnh Đức và còn được gọi là dòng Hoàng Mão (Mũ Vàng)... Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14 hiện nay là vị lãnh đạo thế tục cũng như lãnh đạo tinh thần của cộng đồng Tây Tạng trên khắp thế giới nói chung và của dòng Gelug nói riêng. 

    Tuy nhiên, theo truyền thống bắt đầu từ sau khi Sơ Tổ Tsongkhapa qua đời vào thế kỷ thứ 14, vị Pháp Vương nắm giữa dòng truyền thừa Gelug lại là một vị cao tăng được ban cho tước hiệu Ganden Tripa, có nghĩa là "người nắm giữ ngôi báu ở Tổ Đình Ganden." Hiện này, ngài Ganden Tripa đời thứ 101, Khensur Lungri Namgel, là người nắm giữ dòng truyền thừa Gelug và ngôi báu Ganden...

    VNF

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 15.162
  •  Chữ chánh niệm, mindfulness, ngày nay đã trở thành một danh từ "thông dụng và nghe rất bắt tai", bà Thubten Chodron chia sẻ, và mỗi người chúng ta lại sử dụng nó theo cách riêng của mình. Trong khi thực tập có chánh niệm về mỗi hành động của mình là một sự thực tập rất có giá trị, bà nói, nhưng một chánh niệm đưa ta đến giải thoát nó đòi hỏi nhiều công phu hơn thế. Xin gửi đến các bạn bài chia sẻ dưới đây của bà.

    Thunten Chodron là một sư cô người Hoa kỳ, tu theo truyền thống Tây tạng. Hiện giờ bà là trụ trì của tu viện Sravasti Abbey gần Spokane, Washington.

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 11.575
  •  

    Trong bình luận này về Con Đường của Bồ Tát, ngài diễn tả trái tim tỉnh thức của Đức Phật, đấy là thệ nguyện của Ngài đạt đến giác ngộ vì lợi ích của tất cả chúng sinh.

     Trong tác phẩm nổi tiếng Con Đường của Bồ Tát, Tôn Giả Tịch Thiên nói rằng tất cả hạnh phúc và an lạc là kết quả của việc yêu mến sự cát tường của những chúng sinh khác, trong khi tất cả những vấn nạn, thảm kịch và tai họa là hậu quả của những thái độ vị kỷ..

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 11.508
  • Mục tiêu của đời sống là phấn đấu cho hạnh phúc

    Chúng ta có mặt ở đây; chúng ta hiện hữu và có quyền tồn tại. Ngay cả những loài không phải là chúng sinh hữu tình như bông hoa cũng có quyền tồn tại. Nếu một năng lực tiêu cực tác động lên bông hoa, nó sẽ tự chữa trị bằng phản ứng hóa học để duy trì sự sống. Nhưng [hơn thế nữa] , chúng ta, những con người, kể cả côn trùng, thậm chí những ký sinh trùng amip, những sinh vật nhỏ bé nhất cũng được xem là chúng sinh. Là chúng sinh, chúng ta còn có nhiều cơ cấu để duy trì sự tồn tại của bản thân hơn..

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 18.216
  • Kyabje Lama Thubten Zopa Rinpoche December 2008 Kopan monastery Nepal.jpg

    Nếu bạn lơ là trong việc bảo vệ tâm
    Bạn không thể đóng cửa đau khổ
    và cũng không thể mở cửa hạnh phúc
    Đừng làm những điều phi đạo đức
    Hãy làm những điều đạo đức hoàn hảo
    Hãy điều phục tâm của bạn
    Đây là giáo lý của Phật..


    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 20.993
  • Thiền định, đó là làm quen với một chỗ nương dựa của sự tham thiền. Người cầu đạo muốn tiến hành công việc này có thể nhờ đến một trong rất nhiều kỹ thuật hiện có. Ví dụ, có một thứ cốt ở tự nhận thức mình trong hình tướng của một kiểu mẫu hiện thân một trạng thái nào đó của tâm thức như đại bi hay trí huệ. Trong loại thực tập này, người ta không tập trung vào đại bi hay trí huệ : nhưng vào nhân vật mà người ta tự đồng hóa. Người ta thấm nhiễm tính chất mà nhân vật ấy biểu trưng bằng cách thử hiện thân, thể hiện chính tinh thần đại bi hay trí huệ.

    Các bạn cũng có thể tham thiền về tính vô thường hay vô tự tánh của chủ thể con người. Trong ví dụ này, những chủ đề này làm thành đối tượng cho một tiến bộ hiểu biết. Thiền định cũng có thể dựa vào một thành lập những nguyện vọng. Người ta thiền định về những đức tính của một đức Phật và mong ước chúng trở thành của mình. Sự nhắc nhở những giai đoạn của con đường còn đem lại một lược đồ thiền định khác trong đó người ta quán tưởng mỗi một chứng ngộ đưa tâm thức đến một mức độ mỗi lần mỗi vi tế hơn. Chúng ta gọi việc ấy là tư duy..

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 15.264
  • Thế hệ hiện đại biết đến một sự phát triển lớn lao, đặc biệt trên phương diện vật chất, nhưng đồng thời, xã hội chúng ta đang lâm vào khủng hoảng và chúng ta phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng..

     

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 12.565
  • Ở Solu Kumbu, hằng ngày tất cả người già đều quay kinh luân. Buổi sáng khi họ ở nhà và buổi tối trước khi họ đi ngủ, họ đều cầm một chuỗi hạt (mala) trong tay trái, một chiếc kinh luân trong tay phải, và trì tụng thần chú OM MANI PADME HUNG. Và khi họ đi lại, họ không ngừng quay kinh luân và trì tụng thần chú OM MANI PADME HUNG..

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 19.137
  • Lời giới thiệu của người dịch :

    Bernard Baudouin, một nhà nghiên cứu Phật giáo người Pháp, đã chọn ra 365 lời phát biểu thuộc nhiều đề tài khác nhau của Đức Đạt-Lai Lạt-Ma từ một số sách và các bài thuyết giảng của Ngài để xuất bản một tập sách với tựa đề Trí tuệ của Đức Đạt-Lai Lạt-Ma trong một quyển sách nhỏ, 365 tư tưởng và suy tư hàng ngày (Le petit livre de Sagesse du Dalai-Lama, 365 pensées et méditations quotidiennes, Marabout, 2002). Trong số các lời phát biểu này, người dịch xin tuyển chọn lại 55 câu liên quan đến chủ đề hạnh phúc để chuyển ngữ trong phần dưới đây..

               

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 20.395

Top Book

Top Book Mp3

Top Bài Viết

Top Music

Top Music Album

 
© Copyright 2009 - 2021 anphat.org - Chịu trách nhiệm nội dung: Thị Đức bienman0811@yahoo.com - Hỗ trợ kỹ thuật votamthoai@gmail.com