Tánh Không và an lạc

Pháp thân Phật là tánh Không không hình không tướng ở khắp như hư không. Báo thân là quang minh và Hóa thân là thân vật chất; hai thân này được gọi là Sắc thân. Sắc thân được ứng hiện từ Pháp thân và không lìa Pháp thân. Một trong những tính cách của sắc thân là an lạc:

Phật thân cùng khắp đầy pháp giới
Khắp ứng chúng sanh đều hiện tiền
Các thứ giáo môn thường dạy trao
Nơi pháp tự tại hay khai ngộ.
Trong các điều vui của thế gian
Thánh tịch diệt lạc là tối thượng
Trụ trong pháp tánh rộng mênh mông
Thiên vương Diệu Nhãn quan sát thấy
(Phẩm Thế chủ Diệu Nghiêm, thứ 1)

Chư Phật, Đại Bồ-tát ứng hiện thân nơi thế gian, thân ấy lấy pháp thân làm nền tảng nên chứa cái vui cao nhất của thế gian là “thánh tịch diệt lạc”. Hóa thân của một bậc giác ngộ là bốn đại đã được chuyển hóa thành lạc tịch diệt tối thượng.
Phẩm Như Lai xuất hiện, thứ 37, nói quang minh Như Lai (Báo thân) “khiến sanh hoan hỷ”, “hay làm cho tất cả chúng sanh đều được hoan hỷ”:
Các Bồ-tát trước đó đã thành tựu những địa khi thấy quang minh này thì lại được thanh tịnh hơn, tất cả thiện căn thảy đều thành thục, hướng đến Nhất thiết trí. Các bậc Nhị thừa thấy quang minh này thì diệt tất cả phiền não. Những chúng sanh khác mù tối, nhờ quang minh này thân họ được lạc phúc, tâm trở nên thanh tịnh, nhu nhuyến, dễ uốn nắn để có thể tu chánh niệm và trí huệ. Những chúng sanh trong những cõi địa ngục, quỷ đói, súc sanh đều được khoái lạc, giải thoát những khổ và khi chết được sanh lên cõi trời hoặc cõi người”.
Bản chất của quang minh hay báo thân là lạc phúc, hoan hỷ, nên khi chúng sanh tiếp xúc được với nó thì đều được lạc phúc, hoan hỷ.
Báo thân có nền tảng là Pháp thân và luôn luôn đi cùng Pháp thân. Như thế Lạc và Không luôn luôn đi cùng nhau, không tách rời. Đây cũng là sự thành tựu tối cao của các Tantra Mật thừa: sự bất nhị của tánh không và đại lạc (mahasukha).
Đức Đạt-lai Lạt-ma thứ XIV nói: “Trong những Tantra Yoga tối thượng, như Kalachakra, giai đoạn cuối là samadhi, trong đó lạc bất biến tối thượng sanh khởi” (Tantra in Tibet, Dalai Lama XIV, 1987 – Mật thừa Tây Tạng, chương Kim cương thừa, nxb Thiện Tri Thức, 1999).
Bài kệ của Ban-thiền Lạt-ma thứ VI nói:

Nguyện rằng con thành tựu thông điệp Bất Nhị sâu xa
Của hai giai đoạn thiền định được dạy trong Guhyasamaja,
Yamantaka, Heruka Chakrasamvara và Kalachakra
Như thế trong nội đời này con hoàn thành chứng ngộ
Thân huyễn và tịnh quang trong hợp nhất viên mãn
Hay thân không hợp nhất với lạc phúc bất biến.
(Sự tu hành Kalachakra, Glenn Mullin, TTT dịch, 2009)

Chúng ta tìm hiểu tiếp về vấn đề tánh không và an lạc này ở tam muội thứ 8 trong 10 tam muội của phẩm Hiền Thủ, thứ 12, đặc biệt nói về quang minh. Mười tam muội này do Bồ-tát Hiền Thủ nói cho các Bồ-tát cầu chứng giác ngộ, “những công đức đó chẳng lường được, nay tôi tùy sức nói ít phần”.
Tam muội thứ 8 nói về những quang minh mà khi phóng ra đem đến an lạc cho chúng sanh. Có thể đặt tên cho tam muội thứ 8 này là Quang minh tam muội. Quang minh tam muội thứ nhất có tên là An Lạc.

Có thắng tam muội tên An Lạc
Hay khắp cứu độ các quần sanh
Phóng đại quang minh chẳng nghĩ bàn
Khiến ai được thấy đều điều phục…

Quang minh Báo thân khi phóng ra thì tất cả những sự tiêu cực xấu xa bị tiêu diệt: “bao nhiêu ám chướng đều tiêu trừ”, “rưới tắt những khát ái thế gian”, “vượt qua được bốn dòng nước dữ”, và hiển bày những công đức khiến chúng sanh thực hành Phật pháp để giải thoát. Thế nên một quang minh có tên là Thiện Hiện, sự xuất hiện của những cái thiện.
Khi những tiêu cực đó được xua tan thì an lạc bèn đến. Có quang minh tên là Hoan Hỷ vì làm cho chúng sanh hoan hỷ, ưa làm những hoạt động đem đến sự vui thích cho thân tâm và rồi thành tựu quang minh cho chính mình:

Lại phóng quang minh tên Hoan Hỷ
Quang này thức tỉnh tất cả chúng
Khiến họ ái mộ giác ngộ, Phật
Phát tâm nguyện chứng vô sư đạo.
Tạo lập tượng Như Lai đại bi
Tướng hảo trang nghiêm ngự tòa sen
Luôn ca ngợi những thắng công đức
Do đây thành được quang minh này.

Quang minh Báo thân thành tựu là do công đức được làm y vào Pháp thân tánh Không, “do bổn hạnh xưa được quang minh”:

Nếu ai tự tu các phước nghiệp
Cúng dường chư Phật vô lượng số
Nơi công đức Phật thường nguyện cầu
Được quang minh này làm giác ngộ.

Quang minh là do công đức, nguyện và hạnh hợp thành, do đó quang minh là Báo thân. Báo thân nghĩa là thân lạc phúc, vì Báo thân còn được dịch là “Thọ pháp lạc Phật”.
Quang minh ấy là an lạc và làm cho người khác chuyển dục lạc thành an lạc. Việc phóng quang hẳn là do năng lực của từ bi nơi một Bồ-tát:

Lại phóng quang minh tên Diệt Ái
Quang này thức tỉnh tất cả chúng
Khiến họ xa lìa cảnh năm dục
Trụ nơi diệu vị của giải thoát.
Nếu hay lìa bỏ cảnh năm dục
Tâm trụ diệu vị của giải thoát
Thì hay dùng cam lộ Phật pháp
Rưới tắt những khát ái thế gian.
Bố thí ao giếng và dòng suối
Chuyên cần đạo giác ngộ vô thượng
Trách năm dục, ca ngợi thiền định
Do đây được thành quang minh này.

Cũng nhờ quang minh của Báo thân mà người ta có thể đi sâu vào Pháp thân tánh Không và giúp người khác thấu đạt tánh Không, bởi vì Báo thân quang minh chẳng hề lìa Pháp thân tánh Không.

Lại phóng quang minh tên Huệ Đăng
Quang này thức tỉnh tất cả chúng
Khiến biết chúng sanh tánh không tịch
Tất cả các pháp vô sở hữu.
Diễn nói các pháp Không, vô chủ
Như huyễn, ngọn lửa, trăng dưới nước
Cũng như giấc mộng, bóng trong gương
Do đây thành được quang minh này.

Có quang minh tên là An Ổn, từ an ổn hết khổ đau mà được an lạc.

Lại phóng quang minh tên An Ổn
Quang này chiếu đến người tật bệnh
Khiến trừ tất cả sự khổ đau
Đều được an lạc trong chánh định…

Lại có quang minh khiến người vui mừng thích thú với Pháp:

Lại phóng quang minh tên Lạc Pháp
Quang này giác ngộ tất cả chúng
Khiến nơi chánh pháp luôn mến thích
Lóng nghe diễn thuyết và biên chép
Lúc pháp sắp diệt hay diễn thuyết
Khiến người cầu pháp ý thỏa mãn
Mến thích chánh pháp siêng tu tập
Do đây được thành quang minh này.

Quang minh Báo thân làm những Phật sự như trang nghiêm, cúng dường, xây tháp, tạo tượng bằng đủ loại hương hoa đồ vật thơm sạch quý báu khiến thế giới này biến thành linh thiêng, thanh tịnh, hân hoan, an vui, thành một cõi Tịnh độ. Quang minh Báo thân biến thế giới thành cõi Phật:

Lại phóng quang minh tên Hương Nghiêm
Quang này giác ngộ tất cả chúng
Khi người nghe pháp lòng hân hoan
Quyết định sẽ thành công đức Phật.
Hương tốt quý giá hoa trên đất
Cúng dường tất cả chư Thế Tôn
Cũng dùng xây tháp và tượng Phật
Do đây thành tựu quang minh này.
Lại phóng quang tên Tạp Trang Nghiêm
Bửu tràng, phan lọng vô số lượng
Thắp hương, rải hoa, tấu âm nhạc
Thành ấp trong ngoài đều khắp cả.
Đem những kỹ nhạc vi diệu ấy
Cùng những hương hoa phan lọng đẹp
Các thứ trang nghiêm cúng dường Phật
Do đây thành được quang minh này.
Lại phóng quang minh tên Nghiêm Khiết
Khiến mặt đất đai đều bằng phẳng
Trang nghiêm tháp Phật và chung quanh
Do đây thành được quang minh này.
Lại phóng quang minh tên Đại Vấn
Hay khởi mây thơm hay nước thơm
Nước thơm rưới tháp và chung quanh
Do đây thành được quang minh này.

Quang minh Báo thân này một khi thấm vào tâm , từ từ thấm ra đến khẩu, và cuối cùng ra đến thân, nghĩa là ra đến các giác quan và chuyển hóa các giác quan:

Lại phóng quang minh tên Diệu Âm
Quang này khai ngộ các Bồ-tát
Tất cả các tiếng trong ba cõi
Đều khiến người nghe là tiếng Phật.
Lớn tiếng ca ngợi tán thán Phật
Bố thí chuông linh các âm nhạc
Khiến khắp thế gian nghe âm Phật
Do đây được thành quang minh này.

Do quang minh này, mắt tai mũi lưỡi thân ý, các giác quan đều trở nên thanh tịnh, kinh nghiệm được cõi giới của Phật, hay là pháp giới:

Lại phóng quang tên Mắt Thanh Tịnh
Hay khiến người mù được nhìn thấy
Đem đèn cúng Phật và tháp Phật
Do đây được thành quang minh này…
Lại phóng quang tên Tai Thanh Tịnh
Hay khiến người điếc được nghe tiếng
Trổi nhạc cúng Phật và tháp Phật
Do đây được thành quang minh này…

Do quang minh này sắc thanh hương vị xúc pháp đều thành thanh tịnh, nghĩa là trở lại bản tánh thanh tịnh của chúng, do đó cảnh vật đối tượng đều thành cõi tịnh độ, cõi Phật:

Lại phóng quang tên Sắc Thanh Tịnh
Khiến thấy Phật sắc chẳng nghĩ bàn
Đem những Phật sắc trang nghiêm tháp
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang tên Thanh Thanh Tịnh
Khiến biết tánh thanh vốn không tịch
Quán thanh duyên khởi như tiếng vang
Do đây được thành quang minh ấy.
Lại phóng quang tên Hương Thanh Tịnh
Khiến mọi vật hôi đều thơm sạch
Nước thơm rửa tháp, cây bồ-đề
Do đây được thành quang minh ấy.
Lại phóng quang tên Vị Thanh Tịnh
Hay trừ tất cả độc trong vị
Hằng cúng dường Phật, Tăng, Mẹ Cha
Do đây được thành quiang minh ấy.
Lại phóng quang tên Xúc Thanh Tịnh
Hay khiến thô nhám thành dịu êm
Dù thương đao kiếm trên rơi xuống
Đều khiến biến thành tràng hoa đẹp.
Bởi xưa từng ở giữa đường sá
Thoa hương, rải hoa, trải y phục
Rước đưa chư Phật đi trên đó
Vì thế nay được quang minh này…

Kinh còn nhiều đoạn nữa, nhưng cũng đủ cho chúng ta thấy quang minh tức Báo thân an lạc không lìa Pháp thân tánh Không, chuyển hóa thân tâm và thế giới này thành môi trường của an lạc hay cõi Phật thanh tịnh. Đó là sự chuyển hóa sanh tử thành Niết-bàn, là một mục đích tu chứng của Đại thừa.

Khi một Bồ-tát chuyển hóa thế giới vật chất sanh tử khổ đau thành thanh tịnh, thiêng liêng, an lạc, thì thân tâm và thế giới trở thành Hóa thân của vị ấy. Sự chuyển hóa này là do Báo thân quang minh an lạc không lìa khỏi Pháp thân tánh Không mà thành tựu.

Kinh dạy mỗi chúng ta vẫn có ba thân Pháp, Báo, Hóa, dù ở dạng tiềm năng. Chúng ta vẫn đang có Báo thân dù chưa phóng quang minh được vì chưa đủ trí huệ và công đức. Phật pháp là để cho chúng ta khai mở quang minh Báo thân ấy, sử dụng nó làm lợi lạc cho mình cho người để biến cuộc đời sanh tử của chúng ta thành môi trường của an lạc và tự do.

Với một vị Phật thì ở đâu cũng là Tịnh độ, ở đâu cũng là cảnh giới của tánh Không và an lạc:
Đại Bồ-tát dùng trí huệ vô ngại biết tất cả cảnh giới thế gian là cảnh giới Như Lai. Biết tất cả cảnh giới ba đời, tất cả cõi cảnh giới, tất cả pháp cảnh giới, tất cả chúng sanh cảnh giới, chân như vô sai biệt cảnh giới, pháp giới vô chướng ngại cảnh giới, thật tế vô biên tế cảnh giới, hư không vô phần lượng cảnh giới, cảnh giới không cảnh giới, đều là Như Lai cảnh giới”. (phẩm Như Lai xuất hiện, thứ 37).

Trích trong "Đi Vào Kinh Hoa Nghiêm" của Nguyễn Thế Đăng

  • Tu tập trí tuệ siêu việt theo con đường bồ tát của Tịch Thiên - Đức Đạt Lai Lạt Ma: Practicing Wisdom. Translated and edited by Thupten Jinpa. Wisdom, 2005.
    Bản dịch Việt : Đặng Hữu Phúc

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 67
  • Dudjom Dorjee sinh trưởng trong một gia đình du mục ở phía Đông Tây Tạng, trưởng thành ở Ấn Độ và nhận bằng cấp giáo thụ kiệt xuất từ Đại học Sanskrit ở Varanasi. Năm 1981, theo yêu cầu của Pháp vương thứ 16 dòng Karmapa là Gyalwang Karmapa, ngài tới Hoa Kỳ với tính cách đại diện cho dòng truyền thừa Karma Kagyu của Phật Giáo Tây Tạng. Từ đó ngài đã giảng dạy

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 68
  • Tại sao thực hành phương pháp nội qui y của mật tông quá khó? Tại vì nó được hoàn thành bởi tâm, ở trong tâm. Để bắt đầu công việc này, qui y phải được thực hiện bằng tất cả trái tim, trọn vẹn cả tâm hồn. Qui y không phải là lặp đi lặp lại một vài câu nói trong khi tâm không có một chút rung động nào..

    Vô Huệ Nguyên trích dịch

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 183
  • Đức Đạt Lai Lạt Ma Practicing Wisdom. Translated and edited by Thupten Jinpa. Wisdom, 2005

    Bản dịch Việt : Đặng Hữu Phúc

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 137
  • Pháp thân Phật là tánh Không không hình không tướng ở khắp như hư không. Báo thân là quang minh và Hóa thân là thân vật chất; hai thân này được gọi là Sắc thân. Sắc thân được ứng hiện từ Pháp thân và không lìa Pháp thân..

    Nguyễn Thế Đăng

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 221
  • dalai lamaTin tưởng nơi những hành động và kết quả của chúng
    Trong sự hiểu biết tính không của những hiện tượng
    Thật kỳ diệu hơn ngay cả sự kỳ diệu.
    Thật phi thường hơn ngay sự phi thường.
    -Luận Về Tâm Thức Giác Ngộ Của Long Thọ-

    Tuệ Uyển chuyển ngữ

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 408
  • tanh-khong-hoa-nghiemThế giới Hoa Nghiêm hiện hữu trên nền tảng tánh Không

    Như kinh Duy-ma-cật nói, “Từ gốc vô trụ (tánh Không), lập tất cả pháp”.

    Trung luận (phẩm Quán Tứ đế) nói, “Bởi vì có nghĩa Không. Tất cả pháp được thành. Nếu không có nghĩa Không. Tất cả đều chẳng thành”.

    Kinh Hoa Nghiêm, như các kinh điển Đại thừa, lấy tánh Không làm nền tảng..

    Nguyễn Thế Đăng

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 416
  • hoa_sen_hai_mau_2Nói đến lòng sùng tín, sùng mộ và tin tưởng, có lẽ không phẩm nào của Kinh Đại Bát-nhã nói cụ thể và xúc động hơn phẩm Bồ-tát Thường Đề, kể về sự nhiệt thành khát khao cầu ngộ nhập tánh Không của một Bồ-tát. Sùng mộ, tin tưởng và nhiệt thành cầu thể nhập tánh Không đến độ thường hay khóc, do đó có tên Thường Đề.

    Trong bài viết ngắn này, chúng ta chỉ trích dẫn vài đoạn ngắn trong Kinh Đại Bát-nhã để thấy phần nào lòng sùng tín của một người tu hành trí huệ tánh Không..

    Nguyễn Thế Đăng

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 355
  • Mỗi sự vật, dù do cọng nghiệp của chúng sanh và thiện nghiệp của chư Bồ-tát, đều là sự ứng hiện của tánh Không vô tự tánh. Mỗi sự vật sanh khởi từ tánh Không, hiện diện trong tánh Không và tiêu tan trong tánh Không. Mỗi sự vật chính là sự ứng hóa của tánh Không theo nghiệp của chúng sanh. Như thế, khi tánh Không là Pháp thân, thì sự vật là ứng hóa thân của tánh Không, tức là Ứng hóa thân của Pháp thân..

    Nguyễn Thế Đăng, VHPG 230

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 272
  • Sự thấu hiểu về giáo lý tánh không trong Phật giáo là điều vô cùng thiết yếu để có thể trải qua tiến trình sống và chết một cách thực tiễn và không sợ hãi. Tánh không ở đây không có nghĩa là không có hiện hữu. Có thể bạn cho rằng tánh không ở đây có nghĩa là không có gì hết, nhưng tánh không không phải là như vậy..

    MIND OF CLEAR LIGHT

    Advice on Living Well and Dying Consciously, H.H The Dalai Lama XIV

    Đỗ Đình Đồng dịch Việt

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 573
  • Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? Vị Tu Đà Hoàn có thể khởi lên niệm này, ‘Ta đắc quả Tu Đà Hoàn’ chăng?

    Tu Bồ Đề thưa: Quả thật không, bạch Thế Tôn. Vì sao thế? Tu Đà Hoàn gọi là Vào Dòng, mà thật không có chỗ vào, không vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, ấy gọi là Tu Đà Hoàn..

    Đương Đạo

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 326
  • Hãy nhìn thẳng vào tất cả những gì xuất hiện
    Trong bất cứ nơi nào của mười phương.
    Dầu nó có vẻ như thế nào,
    Sự vật trong tự nó, bản tánh đích thật của nó,
    Là bản tánh như hư không của tâm,
    Vượt khỏi sự phóng chiếu và tan biến của tư tưởng và ý niệm.

    Mọi sự có bản tánh trống không.
    Khi cái trống không nhìn cái trống không,
    Có ai để nhìn vào cái trống không như vậy ?

    Khenpo Jamyang Dorje cho Mẹ ngài
    Dịch bởi Erik Hein Schmidt và biên tập bởi
    Ani Lodroš Palmo và Ward Brisick

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 595
  •  

    Điều vô cùng quan yếu là phải hiểu "Tánh không" có nghĩa là gì. Lại cũng quan trọng để biết Tánh không ở ngay trong tâm mình, qua kinh nghiệm bản thân. Muốn cảm nghiệm Không tánh, thực tính của vạn pháp, thì trước hết phải hiểu nó trên bình diện tri thức. Nếu không hiểu tánh không trên bình diện tri thức, thì sẽ vô cùng khó khăn để mà có được cảm nghiệm thực thụ về Không. Hiểu Tánh không trên bình diện tri thức là một điều kiện chuẩn bị cho việc phát sinh thực chứng kinh nghiệm về Tánh không bằng trực giác. Vậy là có hai cách hiểu về Tánh không: hiểu bằng tri thức và hiểu bằng kinh nghiệm bản thân..

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 11.859
  • Nếu căn cứ vào sự lý luận lô-gic (sự hữu lý) thì sẽ không thể có bất cứ một thứ gì vừa trống-không lại vừa không-trống-không được, tuy nhiên ngược lại thì bắt buộc chúng ta phải chấp nhận có một thứ gì đó có thể mang hai thể dạng khác nhau. Phật Giáo đưa ra khái niệm về tánh không hầu giúp chúng ta hình dung ra, hay đúng hơn là cảm nhận được, thể dạng phi-nhị-nguyên (non-duality) và đấy cũng chính là cốt tủy của tánh không (nhị-nguyên là tính cách đối nghịch giữa chủ thể và đối tượng, tức là giữa người quan sát và đối tượng được quan sát, dù đối tượng ấy là một vật thể hay một sự kiện thuộc ngoại cảnh hay là các tư duy và xúc cảm bên trong tâm thức. Thể dạng phi-nhị-nguyên là một thể dạng cảm nhận của tâm thức khi nó đã loại bỏ được sự đối nghịch giữa chủ thể và đối tượng. Thật ra thì đây cũng là cách định nghĩa đặc thù của Duy Thức Học về tánh không)..

    John Blofeld - Hoang Phong chuyển ngữ

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 16.016
  • Tính cách duyên sanh của tất cả các pháp được nói rõ trong đoạn đối thoại sau đây  của kinh Na Tiên Tỳ Kheo, một đoạn kinh mà hầu như tất cả chúng ta đều đã từng đọc qua. Xin trích ra đây vì đặc điểm dễ hiểu và dễ nhớ của nó:..

    Nguyễn Thế Đăng

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 19.835
  • Sau đây, chúng ta sẽ cố gắng tìm hiểu ở mức độ ý thức, lý tính, về tánh Không để giải tỏa bớt sương mù đang che khuất cái nền tảng của Phật giáo Đại thừa. Tánh Không là nền tảng cho mọi kinh điển Đại thừa, và do đó là nền tảng cho mọi tông phái, cả lý thuyết và thực hành, như Thiền tông, Mật tông, Tịnh Độ tông, Duy Thức tông, Hoa Nghiêm tông… Chúng ta cũng sẽ hiểu thêm vì sao ngài Long Thọ không đặt tên cho tác phẩm của ngài về tánh Không là Tánh Không luận mà là Trung luận hay Trung đạo luận; và trường phái của ngài có tên là Trung đạo (Madhyamika School)..

    Nguyễn Thế Đăng

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 19.647
  • Bản Văn Bảy Điểm Tu Tâm của phái Kadam

    Hãy nhìn vào tâm thức nền tảng của bạn, đích thị chỉ là cái thức giác không phân chia thành phần đoạn, cái tiến trình tư tưởng hiện hữu bên trong bạn. Chỉ nhìn vào nó, thấy nó. Khảo sát không phải là phân tích. Chỉ nhìn những sự vật như chúng là, trong nghĩa bình thường.

    Việt dịch: Trùng Hưng - NXB TTT

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 16.657
  • Trong toàn bộ giáo huấn Phật Giáo thì tánh không là một chủ đề khó thấu triệt nhất, bởi vì đấy chính là phần cốt lõi. Cũng thật dễ hiểu, nếu đã là cốt lõi của Phật Giáo thì nhất định đấy cũng sẽ là một chủ đề thật tinh tế và sâu sắc. Các cách phỏng đoán và suy nghĩ thông thường không thể nào có thể giúp chúng ta hiểu được tánh không là gì, mà chính chúng ta phải dày công nghiên cứu một cách kiên trì và tường tận..

    Hoang Phong chuyển ngữ

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 16.689
  • ...Ta phải hiểu rõ bản tánh nền tảng của tánh Không, cũng chính là sự hiểu biết về bản tánh của tâm. Sự hiểu biết bản tánh nền tảng của tánh Không có hai phần : ta phải phát triển sự xác tín vào sự vô ngã của cái ta và sự vô ngã của mọi sự xuất hiện. Điều này có nghĩa là ta tiệt trừ tâm thức nhị nguyên của sự bám nắm vào một cái ta và sự dính mắc vào các sự xuất hiện. Khi đó, ta có thể nhận thức được rằng mọi sự xuất hiện thì không hiện hữu..

    Việt dịch: Liên Hoa - THIỆN TRI THỨC

     

    Xem Chi Tiết
    Lượt Xem: 19.511

Top Book

Top Book Mp3

Top Bài Viết

Top Music

Top Music Album

 
© Copyright 2009 - 2018 anphat.org - Chịu trách nhiệm nội dung: Thị Đức bienman0811@yahoo.com - Hỗ trợ kỹ thuật votamthoai@gmail.com