Xem Mục Lục

 LỤC TỔ PHÁP BẢO ĐÀN KINH GIẢNG GIẢI - Đương Đạo Thiện Trị Thức

 THỨ BẢY

Đại sư từ khi đắc pháp tại Hoàng Mai, rồi trở về làng Tào Hầu thuộc Thiều Châu, không có ai biết. Có nho sĩ tên Lưu Chí Lược lấy lễ đãi ngài rất trọng vọng. Chí Lược có người cô làm ni, tên Vô Tận Tạng, thường tụng Kinh Đại Niết Bàn. Đại sư nghe qua liền rõ diệu nghĩa, giảng nói cho vị ni nghe.

Ni mới cầm cuốn kinh hỏi chữ.

Sư nói: Chữ thì ta không biết, nghĩa xin cứ hỏi.

Ni nói: Chữ còn chẳng biết, làm sao có thể hiểu nghĩa?

Sư nói: Chân lý mầu diệu của chư Phật chẳng dính dáng gì với văn tự.

Ni kinh ngạc lấy làm lạ, bèn thông báo khắp cho các bậc đạo đức trong làng rằng: Vị ấy là bậc hiểu đạo, nên thỉnh về cúng dường.

Khi ấy có người tên là Tào Thúc Lương, dòng dõi của Ngụy Võ Hầu, cùng các cư dân đua nhau đến làm lễ.

Lúc bấy giờ Bảo Lâm là một ngôi chùa xưa, từ cuối thời nhà Tùy bị binh lửa mà bỏ hư, mọi người xây sửa lại, rước Sư về ở, chẳng bao lâu thành một nơi đạo tràng.

Sư ở đó được hơn hai tháng, lại bị bọn ác tìm đến. Sư bèn lánh mình, ẩn trong núi phía trước, bọn ấy phóng hỏa đốt rụi cỏ cây. Sư phải nấp vào khe đá mới được thoát nạn. Nơi tảng đá này còn dấu ngồi kiết già và dấu nếp áo, nhân đó gọi là Tảng đá lánh nạn.

Sư nhớ lời Ngũ Tổ dặn về huyện Hoài và Hội, nên ngài ẩn nơi hai xứ ấy.

Chúng ta thấy cuộc đời hành đạo của Lục Tổ có nhiều hoạn nạn. Hoạn nạn vì đây là cõi Ta Bà (Kham Nhẫn), đời ác năm trược.

Nhưng từ những khó khăn ấy chúng ta cần tìm hiểu rút ra những bài học để tu hành theo. Tại sao Lục Tổ chịu đựng được những khó khăn hoạn nạn như vậy?

Ngài niệm niệm tự thấy bản tánh thanh tịnh, an trụ trong tự tánh nghĩa là ở trong Vô sanh pháp nhẫn nên chuyện gì xảy ra cũng như không có. Thường ở trong tự tánh, nên thấy mọi sự là như huyễn, như mộng: “Bình đẳng như mộng huyễn” (Phẩm Cơ duyên). Chính cái Như huyễn tam muội mới có thể ở nơi sanh tử để hành đạo.

Khi Lục Tổ nói với Ni Vô Tận Tạng, “Chân lý của chư Phật chẳng dính dáng gì với văn tự”, điều này nhấn mạnh tu ở nơi tâm, còn ngôn ngữ văn tự chỉ là phương tiện hữu hạn để chỉ đường và diễn đạt chân lý. Ngôn ngữ văn tự chân chánh thì chỉ thẳng tâm. Người không biết cứ chạy theo ngôn ngữ mà bỏ quên tâm, chỗ từ đó ngôn ngữ phát xuất và là chỗ nơi đó ngôn ngữ trở về, thì thật là đáng tiếc.

Tăng Pháp Hải ở Khúc Giang tỉnh Thiều Châu, ban đầu đến tham vấn Tổ sư, hỏi rằng: “Tức tâm tức Phật”, xin chỉ dạy cho.

Sư nói: Niệm trước chẳng sanh tức tâm, niệm sau chẳng diệt tức Phật. Thành tất cả các tướng tức tâm, lìa tất cả tướng tức Phật.

Nếu ta nói cho đủ thì cùng kiếp cũng chẳng hết. Hãy nghe kệ ta:

Tức tâm là Huệ

Tức Phật là Định

Định Huệ đồng trì

Trong ý thanh tịnh

Ngộ pháp môn đây

Do ông tu tánh

Dụng vốn vô sanh

Song tu là chánh

Chỉ một câu “niệm trước chẳng sanh tức tâm, niệm sau chẳng diệt tức Phật” mà tham thiền cho thấu nguồn tột đáy, bèn biết tâm tức là Phật, biết “dụng vốn vô sanh”.Chỉ một câu ‘‘dụng vốn vô sanh’’, tức là ngay đây giải thoát.

Tâm Phật là cái chẳng sanh chẳng diệt này. Chẳng sanh chẳng diệt cho đến niệm trước hay sanh tử, chưa từng có sanh, niệm sau hay Niết bàn, chưa từng có diệt.

“Thành tất cả tướng tức tâm”, tâm tạo ra tất cả các pháp. Quán sát và thấy biết tâm tạo thành tất cả các pháp bèn ở ngay trong Đệ nhất nghĩa bất động. Tất cả là tâm, không có một khe hở nào cho ‘chẳng phải là tâm’ cả. Tâm đây là Phật, nên tất cả pháp, tất cả tướng do tâm hiện thành đều là Phật pháp. Tâm đây là Phật, nên ‘‘thành tất cả tướng’’ mà ‘‘lìa tất cả tướng’’, nghĩa là tất cả pháp, tất cả tướng đều vốn tự giải thoát.

Nói theo Lục Tổ thì “nói cho đủ thì cùng kiếp chẳng hết”. Người muốn thoát khỏi sanh tử, dứt hẳn những trò hý luận của ý thức phân biệt, thì hãy tham thiền một câu, cho đến khi tấm lưới ý thức phân biệt bị phá tung, “đường ngôn ngữ dứt, chỗ tâm hành diệt”. Lúc đó mới trực tiếp thấy biết tâm, Phật, tự tánh, hay khuôn mặt thật xưa nay bao đời bao kiếp của mình là gì.

Tham thiền là gì? “Định Huệ đồng trì, trong ý thanh tịnh”.

Muốn ngộ cái cửa vào pháp (pháp môn) này, thì phải tu tánh. Tu tánh là song tu Định Huệ, cho đến “dụng vốn vô sanh”.

Pháp Hải ngay dưới lời nói đại ngộ, dùng kệ tán thán:

Tức tâm nguyên là Phật

Chẳng ngộ mà tự khuất

Con biết nhân định huệ

Song tu lìa các vật

Tăng Pháp Hải là vị ghi chép lại Pháp Bảo Đàn Kinh. Phải là người ngộ tánh mới ghi lại lời Tổ được, mới như ngài A Nan mở đầu các cuốn kinh, “Như vầy tôi nghe”.

Tự khuất lấp tâm Phật của mình, đó là người chưa thấy tánh. Còn thấy tánh rồi thì biết tu, không tự khuất lấp tâm Phật của mình bằng vọng tưởng và vọng tướng, ở ngay nơi cái nhân của định huệ, tức là tự tánh, mà tu, thì sẽ hoàn toàn đạt đến cái Quả của định huệ, tức là tự tánh đã được thấy biết viên mãn.

Ngay nhân là quả, sự tiệm tu nhanh hay chậm là do con người, còn pháp thì ngay nhân của định huệ chính là quả của định huệ.

Vấn đề của người tu là chúng ta có thấy biết nhân của định huệ ở ngay trước mắt hay không. Nếu chưa biết thì hãy tu cho thật nhiều, rồi đi hỏi một người sáng mắt.

Có vị tăng tên Pháp Đạt, người ở Hồng Châu, bảy tuổi xuất gia, thường tụng kinh Pháp Hoa. Một hôm đến lễ Tổ Sư mà đầu chẳng sát đất.

Sư quở rằng: Lễ lạy mà đầu chẳng sát đất thì chi bằng đừng lạy. Trong tâm ông chắc có một vật gì, tích chứa điều gì vậy?

Pháp Đạt nói: Con tụng niệm Kinh Pháp Hoa đã đến ba ngàn bộ.

Sư nói: Nếu ông niệm đến một vạn bộ, rõ được ý kinh mà chẳng  lấy đó làm hơn thì mới cùng ta đồng hành. Nay ông cậy vào sự nghiệp ấy mà chẳng biết lỗi. Hãy nghe kệ ta:

Lạy vốn bẻ kiêu mạn

Đầu sao chẳng sát đất

Có ngã tội liền sanh

Quên công phước không sánh

Tăng Pháp Đạt tụng ba ngàn bộ Kinh Pháp Hoa, nghĩ rằng đó là công phu cao quý. Nhưng tụng trên nền tảng vô minh là cái ta và cái của ta nên sanh kiêu mạn. Bị Tổ la rầy.

“Có ta tội liền sanh. Quên công phước không sánh”. Tụng kinh mà không có ta và cái của ta mới tương ưng được với tự tánh Ba thân.

Tổ lại hỏi: Ông tên là gì?

Thưa: Con tên Pháp Đạt.

Sư nói: Tên ông Pháp Đạt, mà chưa hề đạt pháp.

Lại nói kệ rằng:

Ông nay tên Pháp Đạt

Siêng tụng hoài không dứt

Tụng rỗng chỉ theo tiếng

Sáng tâm, gọi Bồ tát.

Nay ông bởi có duyên

Ta vì ông mới nói

Chỉ tin Phật vô ngôn

Hoa sen từ miệng phát.

Pháp Đạt nghe kệ, ăn năn hối lỗi, thưa rằng: Từ nay về sau con khiêm cung với tất cả. Đệ tử tụng Kinh Pháp Hoa mà chưa hiểu nghĩa kinh, tâm thường có chỗ nghi, Hòa thượng trí huệ rộng lớn, xin ngài lược nói nghĩa lý trong kinh.

Sư nói: Pháp Đạt, pháp rất thông suốt, chỉ vì tâm ông chẳng thấu suốt. Kinh vốn không có nghi, tâm ông tự nghi. Ông niệm kinh ấy, lấy gì làm tông?

Pháp Đạt thưa: Kẻ học đạo này, căn tánh tối tăm chậm lụt, lâu nay cứ theo văn kinh tụng niệm, chớ chẳng biết tông chỉ thế nào.

Sư nói: Ta chẳng biết văn tự, ông thử lấy kinh tụng một biến, ta sẽ giải nói cho ông.

Pháp Đạt liền cất tiếng tụng lớn, đến phẩm Thí Dụ, sư bảo: Dừng lại. Kinh này nguyên lấy nhân duyên xuất thế làm tông, dầu có nói nhiều thứ thí dụ cũng không vượt ngoài việc ấy. Nhân duyên ấy là gì? Kinh nói: Chư Phật Thế Tôn chỉ vì một đại sự nhân duyên mà xuất hiện nơi thế gian. Một đại sự (việc lớn) ấy là cái thấy biết của Phật.

Người đời ngoài mê thì bám tướng, trong mê thì bám không. Nếu ở trong tướng mà lìa tướng, nơi không mà lìa không, tức là trong ngoài chẳng mê. Nếu ngộ pháp này thì một niệm tâm khai mở, đó là khai mở cái thấy biết của Phật.

Phật cũng là Giác, chia làm bốn môn.

Khai mở cái thấy biết của Giác, Chỉ bày cái thấy biết của Giác, Ngộ cái thấy biết của Giác, Nhập cái thấy biết của Giác.

Nếu nghe khai, thị bèn có thể ngộ, nhập, đó là cái thấy biết của Giác, tức là chân tánh vốn xưa nay được xuất hiện.

Chúng ta thấy Lục Tổ chỉ nghe tụng kinh liền hiểu mà không cần học từ trước, bởi vì tất cả kinh lưu xuất từ và nói về chân tánh, Phật tánh, Giác tánh, mà cái thấy biết của Giác này ngài đã ngộ nhập. Đạo Phật chỉ cốt thực hành để ngộ nhập, để thấy biết kinh nghiệm Giác ngộ của Phật, còn kinh điển là để chỉ đường và để kiểm chứng lại kinh nghiệm của mình.

Kinh Pháp Hoa dạy về Khai, Thị, Ngộ, Nhập cái thấy biết của Phật, của Giác. Cái thấy biết của Phật là đại sự nhân duyên khiến Phật xuất hiện nơi đời.

Cái thấy biết của Phật ở ngay cái thấy biết của chúng sanh, bởi thế mà có Khai mở, Chỉ bày. Khai mở, chỉ bày cái chúng ta đang có, chứ không phải tạo tác ra, xây dựng nên. Cái thấy biết của chúng sanh mà không để cho nhiễm ô bởi tướng và tưởng, thì đó là cái thấy biết của Phật

Cái thấy biết ấy là thấy biết không bám tướng. Bám tướng bèn tạo ra sanh tử. Không bám tướng thì đây là tự tánh Niết bàn. Ngay cả việc bám vào cái không ở bên trong thì vẫn là bám tướng.

Trong ngoài không bám tướng bèn ngộ pháp này, tâm khai mở, đó là khai mở cái thấy biết của Phật. Chỉ cần một niệm không bám tướng thì đây là cái thấy biết của Phật. Không bám tướng thì tất cả tướng là “chân tánh vốn xưa nay”. Và niệm niệm không bám tướng thì niệm niệm là cái thấy biết của Phật, mắt tai mũi lưỡi thân ý, sắc thanh hương vị xúc pháp đều là chân tánh vốn xưa nay.

Ông hãy cẩn thận, chớ hiểu lầm ý kinh, thấy kinh nói khai thị ngộ nhập mà cho đó là cái thấy biết riêng của Phật, chớ chúng ta thì không có phần nào trong đó. Nếu hiểu như vậy là chê kinh nhạo Phật. Ngài đã là Phật, đã đầy đủ thấy biết, cần gì phải khai mở nữa. Nay ông phải tin cái thấy biết của Phật này chỉ là tự tâm của ông, chớ chẳng có Phật nào khác.

Tất cả chúng sanh vì tự che lấp ánh sáng, tham ái trần cảnh, ngoài thì duyên níu, trong thì nhiễu loạn, nên đành chịu rong ruỗi theo sanh tử. Bởi vậy mới làm nhọc Thế Tôn từ Chánh định đứng dậy dùng bao nhiêu lời lẻ khuyên chúng sanh hãy thôi nghỉ, chớ hướng ngoài tìm cầu thì cùng Phật không khác. Cho nên nói khai mở cái thấy biết của Phật.

Ta nay cũng khuyên tất cả mọi người ở trong tâm mình thường khai mở cái thấy biết của Phật.

Người đời tâm tà, ngu mê tạo tội, miệng nói thiện tâm nghĩ ác, tham giận, ghen ghét, dối nịnh, ngã mạn, lấn người hại vật, ấy là tự mình khai mở cái thấy biết của chúng sanh. Nếu có thể chánh tâm thường sanh trí huệ, quán chiếu tự tâm, dứt ác làm thiện, ấy là tự mình khai mở cái thấy biết của Phật.

‘‘Phải tin cái thấy biết của Phật này chỉ là tự tâm của ông, chớ chẳng có Phật nào khác’’, không có cái gì ở ngoài cái đang thấy biết này. Tin thì bèn có ngay trước mắt.Tất cả các bóng đều ở trong tâm gương tâm, tức là cái thấy biết đang có này. Tất cả các tướng đều ở trong tánh đang thấy biết yên lặng mà chiếu soi này.

“Cái thấy biết của Phật này chỉ là tự tâm của ông”, chúng ta từ xưa nay vẫn sống, suy nghĩ, hành động trong và bằng cái thấy biết của Phật này. Có điều thay vì khai mở cái thấy biết của Phật vốn có sẳn ấy, chúng ta lại khai mở cái thấy biết của chúng sanh, mà tự mình tạo ra sanh tử khổ đau.

Bởi vì cái thấy biết của Phật đã có sẳn nơi tâm chúng ta, cho nên để khai mở cái thấy biết của Phật, chỉ đừng khai mở cái thấy biết của chúng sanh. Dừng lại cái thấy biết phân biệt, phân mảnh, ta người, tham sân, ghen ghét, ngã mạn…thì cái thấy biết toàn thể và hằng thanh tịnh tự nhiên hiện tiền.

Niệm niệm sống với cái thấy biết của giải thoát giác ngộ này, đó là điều Lục Tổ nói “chánh tâm thường sanh trí huệ, quán chiếu tự tâm” thì “ánh sáng” tự tâm chiếu suốt cả trong ngoài, thấu thoát làm tiêu tan những hình tướng sanh tử.

Một niệm khai mở cái thấy biết của chúng sanh, đó là một niệm ngu mê. Một niệm khai mở cái thấy biết của Phật, đó là một niệm ngộ. Cứ thế mà ngộ liên tục cho đến giác ngộ.

Ông phải niệm niệm khai mở cái thấy biết của Phật, chớ khai mở cái thấy biết của chúng sanh. Khi khai mở cái thấy biết của Phật tức là xuất thế. Khai mở cái thấy biết của chúng sanh tức là thế gian, nếu ông chỉ bo bo chấp việc tụng niệm cho là công khóa thì khác nào con trâu yêu thích cái đuôi của nó?

Pháp Đạt thưa: Nếu như vậy, thì chỉ rõ được nghĩa, chẳng cần nhọc sức tụng sao?

Sư nói: Kinh đâu có lỗi gì mà ngăn trở ông tụng niệm. Chỉ vì mê ngộ nơi người, tổn hay ích là do mình. Miệng tụng tâm làm, tức là chuyển kinh, còn miệng tụng tâm chẳng làm tức là bị kinh chuyển.

Hãy nghe kệ ta:

Tâm mê Pháp Hoa chuyển

Tâm ngộ chuyển Pháp Hoa

Tụng kinh lâu chẳng rõ

Cùng nghĩa hóa làm thù.

Vô niệm, niệm tức chánh

Hữu niệm, niệm thành tà

Hữu vô đều chẳng quản

Cỡi mãi bạch ngưu xa (xe trâu trắng)

Tu là niệm niệm khai mở cái thấy biết vốn lìa tướng lìa tưởng của Phật để nghiệp chướng là cái thấy biết của chúng sanh mờ dần đi. Nghiệp là thói quen, tập khí. Thói quen làm chúng sanh, thói quen khai mở cái thấy các tướng phân biệt của chúng sanh để cái thanh tịnh niết bàn hóa thành cái bất tịnh sanh tử rất khó trừ. Thế nên Phật là bậc Điều Ngự, bậc Chiến Thắng.

Ở đây chúng ta thấy thêm lời dạy đúng đắn của Lục Tổ: Ngài không bác bỏ kinh, như về sau có người cho kinh là Giáo môn, Thiền mới là Tông môn. Vấn đề là phải hiểu ngộ kinh đang chỉ tự tánh đang sẳn có của mình. Tụng kinh Phật là tụng Phật tánh mình chớ không phải tụng chữ. Nếu mê không biết tự tánh thì bị chữ câu chuyển, còn ngộ tự tánh thì tụng là chuyển Pháp Hoa, tâm mình tương ưng với kinh, tâm mình là kinh. Khi đã biết tụng kinh là tụng tâm mình, lúc ấy đi đâu cũng tụng kinh, lúc nào cũng khai mở cái thấy biết của Phật trước mắt mình.

Tâm vô niệm tức là tâm vô phân biệt, không có ngôn ngữ văn tự, niệm mà không phân biệt là niệm chánh. Còn tâm hữu niệm là tâm phân biệt, niệm phân biệt là niệm tà. Cho đến vô niệm tức là và cũng chẳng dính dáng gì hữu niệm, hữu niệm tức là và cũng chẳng dính dáng gì vô niệm, đó là giảt thoát, “cỡi mãi xe trâu trắng”.

Pháp Đạt nghe kệ xúc động rơi lệ, ngay dưới lời nói đại ngộ, bèn thưa với Sư rằng: Pháp Đạt từ xưa đến nay thật chưa từng chuyển kinh Pháp Hoa mà bị Pháp Hoa chuyển.

Lại thưa tiếp: Trong kinh có nói, “Các đại Thanh Văn cho đến Bồ tát đều hết sức suy nghĩ, đo lường mà chẳng thể dò nỗi trí Phật”. Nay khiến người phàm phu này chỉ ngộ được tự tâm bèn gọi là cái thấy biết của Phật, nếu tự mình chẳng phải là bậc thượng căn thì chẳng khỏi nghi ngờ chối bỏ. Lại kinh nói ba thứ xe, xe dê, xe nai, xe trâu với xe trâu trắng, khác nhau thế nào? Xin Hòa thượng từ bi khai thị cho.

Tuy đại ngộ, thấy biết rõ một phần Pháp thân, vượt phàm lên thánh, nhưng chưa hoàn toàn nên vẫn còn nghi. Các kinh đều nói phải đến Đệ bát địa tương đương với một vị A La Hán vô học, vô lậu thì mới hết tu, vì còn tu thì còn nghi.

Tự tâm là cái thấy biết của Phật, là Pháp thân, là Phật nhưng vì mới thấy, chưa trọn vẹn, nên vẫn còn nghi mà hỏi tiếp. Pháp thân thì từ địa đầu cho đến địa cuối thứ mười thì chỉ là một Pháp thân, nhưng người thấy biết được nhiều hay ít là do các phiền não chướng và sở tri chướng còn nhiều hay ít.

Ngài Pháp Đạt còn nghi tại sao trong Kinh Pháp Hoa nói có ba loại xe tượng trưng cho ba thừa để rồi tất cả đều được trao cho một xe trâu trắng ? Tại sao có sự phân loại trong chỉ một tự tâm Pháp thân ?

Sư nói: Ý kinh rõ ràng, ông tự mê trái. Các người trong ba thừa chẳng thể lường được trí Phật, cái tai hại là ở việc suy lường. Càng cùng nhau suy lường, tận lực tư duy thì càng cách xa hơn nữa.

Phật vốn vì phàm phu mà nói, chớ chẳng phải vì Phật mà nói chân lý ấy. Nếu chẳng chịu tin thì như (năm ngàn người trong hội Pháp Hoa) kia lui ra khỏi hội. Đâu biết rằng mình đã ngồi sẳn trên xe trâu trắng, lại còn tìm ba xe ngoài cửa làm chi.

Huống gì trong văn kinh đã nói rõ cho ông, chỉ có một Phật thừa, không có thừa nào khác. Nếu kinh nói hai thừa ba thừa cho đến vô số phương tiện, đủ thứ nhân duyên, thí dụ, ngôn từ thì các pháp ấy đều chỉ là một Phật thừa mà thôi.

Sao ông chẳng xét ba xe, ba thừa là giả, là chuyện thời trước, một thừa là thật, là chuyện bây giờ, ấy là dạy cho ông bỏ giả về thật. Đã về thật rồi thì cái thật ấy cũng không có tên nữa.

Vậy phải biết bao nhiêu của báu hiện có ấy đều thuộc về ông, do ông thọ dụng, lại chẳng tưởng của cha, cũng chẳng tưởng của con, cũng không có tưởng việc thọ dụng. đó mới gọi là trì Kinh Pháp Hoa, từ kiếp này sang kiếp khác tay chẳng rời quyển kinh, từ ngày đến đêm, không lúc nào chẳng niệm.

Trí Phật thì không thể dùng sự động niệm phân biệt của thức mà suy lường được. cho nên “cái tai hại là ở việc suy

lường, càng suy lường càng cách xa hơn nữa”. Cũng như muốn biết hư không thường trụ bất động  mà lấy tay nắm nó, người ta chỉ cầm được những ngón tay của mình.

Tâm vô tướng, vô niệm và vô trụ thì không có cái gì thoát khỏi nó. Niệm khởi thì phải khởi từ tâm vô niệm. Có tướng thì tướng ấy phải ở trong tâm vô tướng. Có chỗ để trụ thì chỗ ấy phải ở trong tâm không có chỗ trụ.

Tất cả hành động thân khẩu ý của chúng ta đều ở trong tâm vô niệm, vô tướng, vô trụ này. Tâm ấy là cái đầu tiên và là cái cuối cùng của quá trình Khai Thị Ngộ Nhập của Kinh Pháp Hoa. ‘‘Mình đã ngồi sẳn trên xe trâu trắng’’, ‘‘tất cả đều chỉ là một Phật thừa’’, ‘‘bao nhiêu của báu hiện có ấy đều thuộc về ông’’, phải chịu tin như thế.

Người tu hành phải tận lực tham thiền, không phải là tận lực suy lường, bằng tất cả năng lực Phật pháp mà mình có được để mở ra cánh cửa bước vào tâm vô niệm như hư không này, để biết rằng mọi cử động dầu nhỏ nhất của thân khẩu ý đều ở trong cái hư không này. Kinh gọi điều này là ngộ.

Tâm như hư không này chỉ là một, một Phật thừa. Hư không thì trên dưới, trước sau, hôm qua, ngày mai, đều là hư không, không chỗ chia cắt, không thể phân chia. Nhưng vì căn cơ con người có hạn, nên Đức Phật đã chia làm ba thừa, để cho khỏi ngợp, khỏi sợ. Thế nên chuyện chia làm ba thừa là chuyện thời trước, còn chuyện bây giờ vẫn là một đại sự nhân duyên là tánh Không tánh Như. Đã về cái thật rồi thì cũng không còn có tên, đã “tất cả pháp Không” rồi, đã hoàn toàn là tâm vô niệm rồi, thì tâm đó không có ngôn ngữ, văn tự, lấy đâu mà đặt tên là tướng là tánh, là sanh tử là Niết bàn?

Kinh Pháp Hoa gọi cái này là “thật tướng của tất cả các pháp”. Thật tướng của tất cả các pháp thì luôn luôn hiện tiền, có pháp cũng có nó mà không có pháp cũng có nó. Đây là tâm vô niệm như hư không trùm khắp cả ba cõi. Tất cả đều là tánh Không tánh Như, đó là gia tài của báu chẳng bao giờ mất của mỗi người.

Khi nó đã hiện tiền thì không có gì không là nó, sắc thanh hương vị xúc pháp, mắt tai mũi lưỡi thân ý, không cái gì không phải là nó. Đây là kho tàng vô tận (Vô Tận Tạng Bồ tát). Trong đó, là tất cả (tánh Như) mà không là gì cả (tánh Không), không là con không tưởng là của con, không là cha không tưởng là của cha, cũng không có người thọ dụng và việc thọ dụng.