Xem Mục Lục

 Kinh Nhập Lăng Già - Dịch và Giảng: Đương Đạo

 SÁT NA

Phẩm Thứ Sáu

SÁT NA

Bấy giờ Đại Bồ tát Đại Huệ lại bạch Phật rằng:

Bạch Thế Tôn! Xin nói cho con tướng sanh diệt của uẩn, giới, xứ, nếu không có ngã, thì cái gì sanh cái gì diệt? Nhưng các phàm phu y nơi sanh diệt, chẳng cầu hết khổ, chẳng chứng Niết bàn.

Phật dạy: Đại Huệ! Hãy nghe kỹ! Hãy nghe kỹ! Ta sẽ nói cho ông. Đại Huệ! Như Lai tạng là nhân thiện bất thiện, hay khởi tạo khắp tất cả các cõi chúng sanh. Thí như người diễn kịch, biến hiện ra các cõi mà lìa ngã, ngã sở, do không biết ba duyên hòa hợp mà có quả sanh. Ngoại đạo không biết chấp là tác giả. Những tập khí xấu ác hư ngụy huân tập từ vô thủy gọi là tạng thức, sanh ra bảy thức vô minh trụ địa, thí như biển lớn mà có sóng, nhưng thể tướng của nó tương tục hằng trụ chẳng đoạn, bản tánh thanh tịnh, lìa lỗi vô thường, lìa các ngã luận, còn bảy thức kia, ý, ý thức… niệm niệm sanh diệt, vọng tưởng làm nhân, cảnh tướng làm duyên hòa hợp mà sanh, chẳng hiểu sắc thảy là do tự tâm hiện, phân biệt bám chấp danh tướng khởi các thọ khổ, lạc.

Phẩm này nói về Sát na, tức là khoảnh khắc thời gian ngắn nhất. Nếu chủng tử, hạt giống, là khoảng không gian nhỏ nhất, thì sát na là khoảng thời gian ngắn nhất.

Như Lai tạng vốn thanh tịnh nhưng vì tập khí huân tập từ vô thủy nên có nhân thiện và bất thiện, gọi là tạng thức, chiếu hiện ra tất cả các cõi sanh tử và Niết bàn.

Vô minh trụ địa là căn bản vô minh, chính nó là cái lập ra tạng thức và do đó lan ra trong bảy thức kia. Vô minh trụ địa là một niệm bất giác, phân biệt mình với Như Lai tạng vốn thanh tịnh, thành ra một niệm phân biệt trong Như Lai tạng không phân biệt. Hoạt động phân biệt còn gọi là thức, từ đó bắt đầu để thành tập khí, nhưng dầu phân biệt đến đâu thì khối phân biệt ấy vẫn luôn luôn nằm trong trí vô phân biệt, hay là Như Lai tạng, hay là tánh giác.

Các thức sanh ra liên tục như những làn sóng trong biển lớn Như Lai tạng, và thể tướng của biển lớn này thì tương tục hằng trụ chẳng đoạn, bản tánh thanh tịnh không dứt. Thức thì sanh diệt, trí tức là Như Lai tạng không sanh không diệt. Hể chạy theo vọng tưởng, cảnh tướng, theo các sóng thì đó là sanh tử do phân biệt lập ra. Còn không phân biệt vì biết do tự tâm hiện như huyễn thì không có vọng tưởng, cảnh tướng, thì đây là trí, đại dương không sanh không diệt. Đối với đại dương biển trí, thì có sóng thức hay không sóng thức vẫn là đại dương biển trí. Trong đại dương trí không sanh không diệt thì sóng thức cũng không sanh không diệt.

Khi vô minh trụ địa, những tập khí phân biệt trong tạng thức đã sạch thì tất cả tám thức đều là Viên thành thật, Trí huệ bổn nguyên Như Lai tạng. Bấy giờ tất cả đời sống là Viên thành thật, không còn tập khí nên mỗi khoảnh khắc mỗi mới, mỗi khoảnh khắc mỗi “thường thanh tịnh vô tướng”. Đây là vô trụ xứ Niết bàn.

Danh tướng ràng buộc đã từ tham sanh, lại sanh ra tham, hoặc làm nhân và sở duyên. Khi sự nắm giữ của các căn diệt không còn tương tục sanh cái biết do tự phân biệt các cảm thọ khổ lạc thì hoặc là đắc diệt tận định, hoặc đắc tứ thiền, hoặc khéo nhập các đế giải thoát, rồi vọng sanh tưởng đắc giải thoát, mà thật ra chưa xả chưa chuyển được cái danh tạng thức trong Như Lai tạng.

Nếu không có tạng thức thì bảy thức liền diệt. Vì sao thế? Vì tạng thức là nhân và sở duyên cho bảy thức sanh. Nhưng đây chẳng phải là cảnh giới mà các người tu hành Nhị thừa và ngoại đạo biết được, vì họ chỉ biết nhân vô ngã, vì với uẩn giới xứ chấp thủ tự tướng cọng tướng.

Không biết sắc thanh hương vị xúc pháp là do tự tâm hiện, tức là tám thức nhiễm ô hiện, phân biệt bám chấp danh tướng thành ra có phiền não tham sân si, kiêu mạn, đố kỵ…mà thành ra sanh tử tự tạo. Khi sự nắm giữ của các căn diệt, nói cách khác, căn không còn bám cảnh để chịu khổ vui, tâm đã rút ra khỏi sự bám cảnh, thì hoặc đắc diệt tận định hoặc đắc tứ thiền hoặc đắc một trong bốn đế, tưởng là đã giải thoát, mà thật ra chưa chuyển được danh tướng của tạng thức trong Như Lai tạng.

Tại sao Kinh nói “danh của tạng thức”? Vì tạng thức không thật có, vô tự tánh, giả lập trong Như Lai tạng. Chính vì tạng thức chỉ là danh tướng vọng tưởng giả lập mà có thể chuyển trở lại thành Như Lai tạng. Tạng thức chính là Như Lai tạng nhưng bị nhìn lầm là tách biệt và nhiễm ô khác với Như Lai tạng.

Tạng thức khi đã được giả lập bằng phân biệt thì tích tập, huân tập những tập khí nghiệp chướng. Nó là cái gốc đã nhiễm ô bởi tập khí phân biệt hư vọng thì bảy thức sanh ra từ đó cũng nhiễm ô bởi phân biệt hư vọng.

Nhị thừa và ngoại đạo không biết tạng thức này, cứ nghĩ rút tâm ra khỏi cảnh thì tâm ấy giải thoát mà không biết rằng cảnh ở trong tâm, do tâm hiện. Giải thoát đối với họ là diệt tạng thức, mà “không có tạng thức thì bảy thức liền diệt”, chấm dứt cái danh tạng thức và chấm dứt luôn Như Lai tạng, nền tảng của tạng thức nhiễm ô. Đây là việc làm của người chỉ chứng được nhân vô ngã.

Con đường Bồ tát không phải là diệt, chấm dứt, mà là “chuyển cái danh tạng thức” thành Như Lai tạng vốn không nhiễm ô. Nhờ nhân vô ngã và pháp vô ngã mà Bồ tát làm được việc này. Đây là con đường lìa cả hữu lẫn vô.

Nếu thấy được năm pháp, ba tự tánh, các pháp vô ngã trong Như Lai Tạng theo các địa thức lớp mà dần dần chuyển diệt, không bị ác kiến ngoại đạo làm động, trụ Bất động địa, được mười thứ tam muội lạc. Được lực tam muội của chư Phật gia trì, quán sát Phật pháp chẳng thể nghĩ bàn và lực bổn nguyện, chẳng trụ thật tế và tam muội lạc, được trí tự chứng, chẳng cùng Nhị thừa ngoại đạo, được mười chủng tánh thánh và ý sanh trí thân, lìa các hạnh tam muội.

Rõ biết được năm pháp, ba tự tánh, các pháp vô ngã thì biết được Như Lai tạng và những cái làm nhiễm ô Như Lai tạng vì tất cả những cái này đều sanh từ Như Lai tạng, hiện hữu trong Như Lai tạng và chuyển diệt vào Như Lai tạng. Rồi tịnh hóa các nhiễm ô phân biệt ấy trong các địa mà tiến lên. Tịnh hóa bằng cách biết thật tướng của các nhiễm ô phân biệt ấy thật ra là Như Lai tạng bị vận dụng sai lầm trong phân biệt mà thành. Không phân biệt, thì đây là Như Lai tạng vô ngã, vô pháp. Cho đến địa thứ tám Bất động địa, đến đây là giải thoát, có thể nhập Niết bàn. Nhưng nhờ lực gia trì của chư Phật, quán sát các địa trên chẳng thể nghĩ bàn và nhớ nghĩ bổn nguyện đại bi của mình, mà không trụ thật tế, tức là Niết bàn tánh Không. Đây là chỗ Kinh Đại Bát Nhã gọi là Học Không Bất Chứng. Không chứng thật tế nửa đường mà tiếp tục tiến lên đến Phật quả, hoàn thành mọi trí huệ, công đức và phương tiện thiện xảo của một vị Phật.

Chúng ta thấy rõ con đường của Nhị thừa là diệt, và con đường của Bồ tát là chuyển hóa. Thay vì diệt tạng thức nhiễm ô thì chuyển hóa, tịnh hóa tạng thức về nền tảng của nó là Như Lai tạng.

Thế nên, Đại Huệ! Đại Bồ tát muốn đắc pháp thù thắng, phải nên tịnh hóa danh của tạng thức Như Lai tạng. Đại Huệ! Nếu không có Như Lai tạng có tên là tạng thức thì không có sanh diệt. Nhưng các phàm phu cho đến bậc thánh đều có sanh diệt, thế nên các người tu hành tuy thấy nội cảnh giới trụ hiện pháp lạc mà chẳng xả bỏ tinh tấn.

Đại Huệ! Tạng thức Như Lai tạng này bản tánh thanh tịnh, chỉ vì khách trần nhiễm ô mà hóa bất tịnh. Tất cả Nhị thừa và các ngoại đạo ức đoán khởi kiến chấp chẳng thể hiện chứng. Như Lai thì hiện thấy rõ ràng như xem trái am ma lật trong bàn tay.

Đại Huệ! Ta vì phu nhân Thắng Man và các Bồ tát trí tịnh thâm diệu, nói Như Lai tạng tên là tạng thức cùng bảy thức cùng khởi, khiến các Thanh Văn thấy pháp vô ngã. Đại Huệ! Phu nhân Thắng Man được nghe không phải là cảnh giới ngoại đạo Nhị thừa mà là cảnh giới Phật. Đại Huệ! Như Lai tạng Tạng thức này là cảnh giới Phật, là chỗ hành của các Bồ tát tịnh trí tùy thuận nghĩa như ông vậy, chẳng phải chỗ hành của tất cả ngoại đạo Nhị thừa chấp trước văn tự. Thế nên ông và các Đại Bồ tát nên chuyên cần quán sát Như Lai tạng Tạng thức, chớ chỉ nghe xong bèn tưởng là đủ.

Gọi tạng thức là danh vì nó vốn là Như Lai tạng thanh tịnh, chỉ vì khách trần nhiễm ô mà thành danh tướng khác. Danh tướng khác và khách trần nhiễm ô là vô tự tánh, chứng được điều này thì tạng thức vẫn luôn luôn là Như Lai tạng. Đó gọi là “tịnh hóa danh của tạng thức Như Lai tạng”.

Tu hành là tịnh hóa tạng thức giả lập này. Tạng thức giả lập này bị nhiễm ô bởi tập khí nên có sanh diệt. Tịnh hóa là đưa ánh sáng của trí huệ bổn nguyên đánh tan vô minh trụ địa, tức là các tập khí trong tạng thức. Tịnh hóa xong, tất cả thức trở lại trí bổn nguyên, thì tất cả là Như Lai tạng không sanh không diệt.

Kinh Thắng Man giảng rõ về Tạng thức Như Lai tạng này. Chính nhờ hiểu rõ duy tâm mà thấy được pháp vô ngã thay vì chỉ thấy nhân vô ngã. Các Bồ tát phải chuyên cần quán sát Tạng thức Như Lai tạng là cảnh giới Phật này, bởi vì nghe xong (Văn huệ) thì chưa đủ, phải tư duy (Tư huệ) và thiền định quán sát (Tu huệ) liên tục thì mới có thể thâm nhập.

Chúng ta có thể có rất nhiều đề mục để quán sát. Chẳng hạn, tạng thức và Như Lai tạng là một hay khác? Đâu là nhiễm ô của Như Lai tạng? Đâu là chỗ như huyễn như mộng của tạng thức? Quán sát các pháp là duy tâm vô ngã…

Bấy giờ Thế Tôn lại nói bài kệ:

Như Lai tạng rất sâu

Cùng chung bảy thức khởi

Hai thứ chấp trước sanh

Hiểu rõ liền xa lìa.

Vô thủy tập khí huân

Như bóng hiện nơi tâm

Nếu hay như thật quán

Tướng cảnh tất không có.

Như ngu nhìn ngón chỉ

Thấy ngón chẳng thấy trăng

Người kế trước văn tự

Không thấy được Phật thật.

Tâm như đứa đóng tuồng

Ý như đàn hòa theo

Năm thức là nhóm bạn

Vọng tưởng thấy trò diễn.

Tạng thức Như Lai tạng rất sâu, hoạt động cùng chung với bảy thức mà khởi ra trò diễn là thân tâm, con người, thế giới này. Thật ra đây chỉ là biến hiện của một trò diễn vô tự tánh. Thế mà không biết, sanh chấp ngã chấp pháp thì liền có thật, gây ra bao nhiêu tai họa khổ đau.

Hiểu rõ là trò diễn vô tự tánh, như huyễn thì liền xa lìa. Cũng một cái thấy mà cho là có tự tánh, có thật thì tức khắc biến thành sanh tử, còn hiểu rõ là sự biến hiện như huyễn của Tạng thức Như Lai tạng bèn tức thì giải thoát.

“Nếu hay như thật quán, tướng cảnh tất không có”: cảnh tướng khi xoay lại gốc tâm thì chỉ là tướng cảnh của tâm, như bóng hiện nơi tâm, chỉ là tâm. Tâm ấy cũng là vô tự tánh, như huyễn, như bóng hiện nơi tâm, chỉ là tâm. Tâm ấy cũng là vô tự tánh, như huyễn, “tâm như đứa đóng tuồng”, bèn cảnh, tâm, hoạt động của tâm đều giải thoát.

Quán như huyễn là xoay năng lực của “tâm như đứa đóng tuồng” trở lại năng lực bổn nguyên của Như Lai tạng. Năng lực bổn nguyên của Như Lai tạng là năng lực của Như huyễn tam muội và ý sanh thân.

Các tướng cảnh như bóng hiện nơi gương tâm, do vô thủy tập khí huân tập mà có hiện. Thấy các bóng tướng cảnh tập khí ấy duy chỉ là tâm, cái tưởng là khác ấy là vọng tưởng như huyễn như mộng thì xưa nay chỉ là một gương tâm, làm gì có tướng cảnh sanh tử. Tất cả bóng đều hiện trong gương tâm, cho nên tất cả bóng đều là gương tâm, không còn chỗ nào cho phân biệt chấp trước. Duy tâm là tất cả bóng như trò diễn đều là gương tâm. Gương tâm vốn bất động nên tất cả bóng, tất cả trò diễn thật ra đều chẳng động.

Sanh tử có, nhưng bất động, vì bản tánh của sanh tử là Niết bàn. Như thế tánh, tướng của sanh tử là Niết bàn.

Bấy giờ Đại Bồ tát Đại Huệ lại bạch Phật rằng:

Bạch Thế Tôn! Xin nói cho con các tướng sai biệt của năm pháp, ba tự tánh, tám thức, hai vô ngã. Con cùng các đại Bồ tát khéo biết chúng rồi, tiệm (dần) tu các địa, đầy đủ các pháp Phật, cho đến quả vị tự chứng của Như Lai.

Phật dạy: Hãy nghe kỹ, ta sẽ nói cho ông. Đại Huệ! Năm pháp, ba tự tánh, tám thức, hai vô ngã là: danh, tướng, phân biệt, chánh trí, như như.

Nếu người tu hành quán sát pháp này thì nhập vào cảnh giới tự chứng của Như Lai, xa lìa các kiến thường đoạn, hữu vô… đắc tam muội hiện pháp lạc rất sâu. Đại Huệ! Người phàm phu không biết năm pháp, ba tự tánh, tám thức, hai vô ngã, nơi tâm hiện thấy có ngoại vật mà khởi phân biệt. Thánh nhân thì không như thế.

Đại Huệ bạch Phật: Do sao không biết mà khởi phân biệt?

Phật dạy: Phàm phu không biết danh là giả lập, tâm theo đó lưu động, thấy thảy thảy tướng, vọng tưởng ngã ngã sở, nhiễm trước với sắc, che chướng thánh trí, khởi tham sân si. Tạo tác các nghiệp như tằm nhả kén, vọng tưởng tự trói, sa vào các nẻo của biển lớn sanh tử, như bánh xe kéo nước, tuần hoàn không dứt. Không biết các pháp như huyễn, như ảo ảnh, như trăng trong nước, do tự tâm hiện, do phân biệt hư vọng mà khởi, lìa năng thủ sở thủ cùng sanh trụ diệt, cho rằng từ tự tại, thời tiết, vi trần, thắng tánh mà sanh, theo danh tướng mà trôi lăn.

Năm pháp là danh, tướng, phân biệt, chánh trí, như như, người tu hành quán sát chúng thì lìa vọng tưởng, nhập vào thánh trí tự chứng của Như Lai.

Nơi tâm hiện thấy có ngoại vật mà khởi phân biệt, đặt tên cho những phân biệt ấy. Dần dần cho những tên ấy là thật, đến nỗi đọc một vài hàng chữ, chúng ta thấy cảnh ấy hiện ra trước mắt, rồi vui, buồn, giận, ghét… Danh chỉ là giả lập, rồi tâm theo đó trôi lăn tạo nghiệp, hoặc tốt hoặc xấu.

Danh và tướng đi liền nhau, hợp lại thành một thể. Có danh thì có tướng, có tướng thì có danh. Danh tướng che lấp thực tại, con người không biết mà càng mê mờ trong việc sử dụng chúng thì như con tằm nhả tơ vọng tưởng càng trói buộc mình. Với danh tướng con người tạo nghiệp vì tâm, khẩu, thân theo đó mà lưu động, trôi lăn không dứt.

Chỉ chấm dứt nghiệp trôi lăn khi nhận ra các pháp như huyễn, như ảo ảnh, như trăng trong nước, do tự tâm hiện.

Đại Huệ! Trong đó tướng là cái do nhãn thức thấy gọi đó là sắc; do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức mà có thì gọi là thanh, hương, vị, xúc, pháp, những cái như vậy ta nói là tướng.

Phân biệt là lập ra các danh để hiển thị các tướng, nghĩa là voi, ngựa, xe, đi bộ, nam, nữ… các danh để hiển tướng của chúng. Sự như vậy quyết định cho là không khác, đó gọi là phân biệt.

Tướng và danh đều từ phân biệt. Phân biệt của thức thì thành ra tướng. Phân biệt tướng, làm rõ tướng, bèn lập ra danh. Cho nên lạc vào tướng, danh thì như con tằm nhả tơ để tự trói buộc trong cái thấy mọi tướng danh đều có thật, sanh tử là có thật, mà không biết là như huyễn như mộng.

Chữ ‘phân biệt’ này, bản của Cầu Na Bạt Đà La dịch là ‘vọng tưởng’. Cũng một ý, phân biệt là vọng tưởng, vọng tưởng là phân biệt.

Người tu hành phải lìa tướng, danh và vọng tưởng phân biệt. Khi tâm không có tướng, danh, và phân biệt thì tâm này là thánh trí tự chứng.

Chánh trí là quán thấy danh tướng hỗ tương làm khách, thức tâm không khởi, chẳng đoạn chẳng thường, chẳng sa vào chỗ ngoại đạo, Nhị thừa, đó gọi là chánh trí. Đại Huệ! Đại Bồ tát dùng chánh trí ấy quán sát danh tướng, chẳng phải hữu chẳng phải vô, xa lìa ác kiến nhị biên tăng giảm. Danh tướng và thức vốn xưa nay không khởi, ta nói pháp ấy gọi là Như Như.

Đại Huệ! Đại Bồ tát trụ như như rồi, được ‘vô chiếu hiện cảnh’, lên Hoan Hỷ địa, lìa các nẻo xấu ngoại đạo, vào pháp xuất thế, thuần thục pháp tướng, biết tất cả pháp giống như huyễn…, chứng pháp hạnh của tự thánh trí, lìa kiến đoán định, như vậy lần lượt cho đến Pháp vân địa. Đến Pháp vân địa rồi, khai mở đầy đủ các lực tam muội tự tại thần thông mà thành Phật. Thành Như Lai rồi thì vì chúng sanh, hiện thân khắp cả như trăng trong nước, tùy theo ưa muốn của chúng mà thuyết pháp. Thân ấy thanh tịnh lìa tâm, ý, thức, mang giáp thệ nguyện rộng lớn, thành tựu đầy đủ mười nguyện vô tận. Đó gọi là những kết quả có được của Đại Bồ tát nhập vào Như Như.

Chánh trí là quán thấy danh, tướng, vọng tưởng phân biệt hòa hợp với nhau làm khách trần phiền não, chúng đều không thật có, như huyễn như mộng chẳng phải hữu chẳng phải vô, chẳng tăng chẳng giảm. Khi thấy “danh tướng, và thức vốn xưa nay không khởi” thì thấy ngay Như Như, vì Như Như, Viên thành thật trí luôn luôn có mặt. Thấy được các bóng là xưa nay không khởi tức thì thấy cái muôn đời vẫn hiện tiền là tấm gương.

Thấy tấm gương là cái thật duy nhất, cái mà kinh điển vẫn gọi là ‘duy tâm’, bèn an trụ vào đó, tức là Sơ Hoan Hỷ địa. Sơ địa là thấy được cái thật Như Như, bước vào đó và ngoài kia khách trần là giả, là như huyễn. Tu tập vị là càng lúc càng đi sâu vào cái thật Như Như và càng lúc càng xa lìa cái giả như huyễn. Cái giả càng lúc càng vi tế đến mức tập khí huân tập từ vô thủy.

Thành Phật là hết vô minh, hết tập khí lỗi lầm, hiển phát tất cả mọi công đức, trí huệ, đại bi và phương tiện thiện xảo của tự tâm bổn nguyên hay Phật tánh.

Ở trên có câu “thân ấy thanh tịnh lìa tâm, ý, thức”, thân ấy là Pháp thân, hay Phật tánh.

Bấy giờ Đại Bồ tát Đại Huệ lại bạch Phật rằng:

Bạch Thế Tôn! Ba tự tánh đều vào trong năm pháp, hay mỗi cái có tướng riêng của nó?

Phật dạy: Đại Huệ! Ba tự tánh, tám thức, hai vô ngã đều vào trong năm pháp. Trong đó danh và tướng là tánh vọng kế, vì y vào tánh duyên khởi mà phân biệt tâm tâm sở, đồng thời khởi lên với danh tướng. Tánh duyên khởi là như mặt trời cùng ánh sáng. Chánh trí như như thì chẳng thể hoại, đó là tánh viên thành thật.

Đại Huệ! Khi sanh chấp trước với những cái do tự tâm hiện, có tám thứ thức phân biệt khởi lên. Các tướng sai biệt ấy đều không thật, chỉ là tánh vọng kế. Nếu có thể lìa bỏ hai thứ ngã chấp thì trí hai vô ngã tức thời sanh trưởng. Đại Huệ! Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ tát, Như Lai, các địa thứ lớp của tự chứng thánh trí, tất cả Phật pháp đều gồm trong năm pháp này.

Ba tự tánh, tám thức, hai vô ngã, và tất cả Phật pháp đều gồm trong năm pháp. Năm pháp là con đường từ phàm đến thánh, từ vô minh phân biệt đến giác ngộ như như.

Chia theo ba tự tánh thì tánh vọng kế (Biến kế sở chấp tánh) đồng thời khởi lên với danh và tướng. Tánh vọng kế y nơi tánh duyên khởi mà phân biệt chủ thể tâm và đối tượng của tâm mà khởi lên. Khi đã vọng kế phân biệt thì liền có đối tượng để phân biệt là danh và tướng. Bộ ba phân biệt, danh và tướng này tạo lập ra sanh tử cho mỗi người. Để thoát khỏi sanh tử tự tạo ấy, phải xa lìa chúng bằng cách thấy chúng là giả lập, như huyễn.

Tánh duyên khởi là cái dụng vô sanh của viên thành thật, như ánh sáng và mặt trời. Nơi tánh duyên khởi mà thấy ra tánh vọng kế, đó là phàm phu. Còn thấy là vô sanh như huyễn thì giải thoát.

Nhưng nền tảng thật sự của tánh vọng kế và tánh duyên khởi là chánh trí Như Như, vì đây là cái chẳng thể hoại, có mặt khắp cả thời gian và không gian. Khi tánh vọng kế (chấp ngã) và tánh duyên khởi (chấp pháp) hết che chướng nhờ quán như huyễn thì chánh trí Như Như lộ diện, mặc dầu xưa nay nó vẫn hiện diện như vậy.

Tu hành là từ bỏ, xua tan hai thứ chấp ngã pháp này, tức thì chánh trí Như Như xuất hiện trước mặt. Hai thứ chấp ngã pháp này tiêu tan đến đâu thì chánh trí Như Như hay Pháp thân và các công đức của nó hiện ra đến đó. Ngược lại an trụ trong chánh trí Như Như thì chấp ngã chấp pháp dần dần tiêu tan vì chúng là như huyễn, hư vọng.

Lại nữa, Đại Huệ! Trong năm pháp là tướng, danh, phân biệt, như như, chánh trí, thì tướng là thấy hình trạng của sắc, thanh… mỗi mỗi khác nhau. Y nơi các tướng kia mà lập ra danh như cái bình, cái đó là như vậy, không khác, đó gọi là danh. Đặt ra các danh để hiển thị các tướng tâm và tâm sở, đó gọi là phân biệt. Danh kia tướng kia rốt ráo không có gì, chỉ là vọng tâm đắp đổi phân biệt. Quán sát như vậy cho đến cái biết diệt mất, đó gọi là như như.

Đại Huệ! Tướng như như là chân thật quyết định, căn bản rốt ráo, tự tánh khả đắc. Ta cùng chư Phật tùy thuận chứng nhập, như thật tướng ấy mà khai thị diễn nói. Nếu có thể tùy thuận hiểu ngộ, lìa đoạn lìa thường, chẳng sanh phân biệt, nhập vào tự chứng, ra khỏi cảnh giới ngoại đạo Nhị thừa, đó gọi là chánh trí.

Đại Huệ! Năm pháp, ba tự tánh, tám thức và hai vô ngã, tất cả Phật pháp đều gồm hết trong ấy. Đại Huệ! Trong những pháp ấy ông nên dùng tự trí thiện xảo mà thông đạt và khuyến khích người khác thông đạt. Thông đạt rồi thì tâm quyết định không chuyển theo người khác.

Bấy giờ Thế Tôn lại nói bài kệ:

Năm pháp, ba tự tánh

Cùng với tám thứ thức

Hai loại pháp vô ngã

Gồm khắp hết Đại thừa.

Danh tướng và phân biệt

Gồm trong hai tự tánh

Chánh trí và như như

Tức là viên thành tánh.

Tướng là do cái thấy phân biệt. Có tướng phân biệt bèn lập ra danh phân biệt. Rồi vọng tâm đắp đổi phân biệt trên hai cái phân biệt ấy. Cả ba cái ấy đều không thật, hư vọng, nhưng bám chấp chúng thì trôi lăn mãi trong sanh tử luân hồi hư vọng.

Quán sát sự hư vọng như huyễn của chúng vì do vọng tâm phân biệt tạo ra thì giải thoát khỏi chúng. Cho đến khi thật thấy bất kỳ phân biệt nào cũng là hư vọng thì cái biết do phân biệt diệt mất, tức thì chánh trí như như hiện bày.

Như như là cái căn bản, nền tảng từ đó mọi vọng và chân khởi sanh, hiện hữu, và tan chìm trong đó. Nó là nền tảng chung của phàm và thánh, sanh tử và Niết bàn. Cho nên, nói theo Kinh Pháp Hoa, con đường đạo Phật là Khai Thị Ngộ Nhập tánh Như Như ấy.

Con đường để trực tiếp chứng ngộ Như Như là biết và phân biệt năm pháp, ba tự tánh, tám thức và hai vô ngã. Tu hành là quán như huyễn những cái huyễn. Khi những cái huyễn biến mất thì Như Như hiển lộ toàn thân. Kinh nói “tất cả Phật pháp đều gồm hết trong ấy”. Đây là con đường tự giác, giác tha của Bồ tát. 

Bấy giờ Đại Bồ tát Đại Huệ lại bạch Phật rằng:

Bạch Thế Tôn! Như trong kinh nói, chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai như số cát sông Hằng, điều ấy thế nào? Là như lời mà hiểu hay là có nghĩa nào khác?

Phật bảo Đại Huệ: Không nên như lời mà hiểu. Đại Huệ! Chư Phật ba đời chẳng phải như số cát sông Hằng. Như Lai tối thắng siêu việt các thế gian, không gì có thể sánh, không thí dụ nào đạt đến, chỉ lấy ít phần để thí dụ. Ta vì các phàm phu ngoại đạo tâm vẫn chấp trước thường vô thường, ác kiến tăng trưởng sanh tử luân hồi, khiến họ chán ghét lìa bỏ, phát tâm hy vọng cao cả, mà nói Phật dễ thành dễ gặp. Nếu nói Phật khó gặp như hoa Ưu Đàm thì họ sẽ chán nản không chuyên cần tinh tấn, thế nên ta nói nhiều như số cát sông Hằng. Ta cũng có khi thấy những người thọ giáo mà nói Phật khó gặp như hoa Ưu Đàm.

Đại Huệ! Hoa Ưu Đàm không có ai từng thấy, đang thấy và sẽ thấy, nhưng Như Lai thì có người đã thấy và sẽ thấy. Đại Huệ! Thí dụ như vậy chẳng nói được chân lý. Chân lý là cảnh giới thánh trí tự chứng, thế gian không sánh được, vượt khỏi mọi thí dụ, tất cả phàm phu không thể tin nhận.

Đại Huệ! Như Lai chân thật thì siêu vượt mọi tướng thấy được của tâm, ý, ý thức, chẳng thể trong đó mà lập thí dụ.

Nói chư Phật nhiều như số cát sông Hằng hay khó gặp như hoa Ưu Đàm chỉ là những thí dụ phương tiện. Thánh trí tự chứng tức Như Lai thì siêu vượt mọi tướng thấy được của tâm, ý, ý thức. Tánh Không thì vượt khỏi mọi cái có nhưng cũng ở trong mỗi cái có. Vô tướng thì vượt khỏi mọi hình tướng nhưng không hình tướng nào không có nó, không là nó. Vô nguyện thì vượt khỏi mọi ý niệm nhưng không niệm nào không có nó, không là nó.

Tuy nhiên cũng có khi vì họ mà kiến lập thí dụ mà nói Như Lai nhiều như số cát sông Hằng thì cũng không trái nhau. Đại Huệ! Thí như cát sông Hằng bị rùa, cá, voi, ngựa dẫm đạp mà chẳng sanh phân biệt hằng tịnh không dơ, thánh trí Như Lai như sông Hằng kia, lực thần thông tự tại như cát ấy, rùa cá ngoại đạo đến nhiễu loạn mà Phật chẳng khởi một niệm phân biệt. Vì sao thế? Bổn nguyện Như Lai là lấy tam muội lạc an khắp chúng sanh, như cát sông Hằng không có thương ghét, không có phân biệt.

Đại Huệ! Thí như cát sông Hằng tự tánh là đất, đến thời kiếp hỏa tận, thiêu tất cả đất đai mà địa đại kia không bỏ bản tánh, vì cùng hỏa đại đồng thời sanh. Những người phàm ngu cho rằng đất bị thiêu, mà thật không cháy vì là nhân của hỏa. Pháp thân Như Lai cũng lại như thế, như cát sông Hằng, rốt cuộc không thể hoại diệt.

Nói chư Phật như cát sông Hằng là chư Phật đồng một bản chất, một bản tánh, là Như Lai tạng hay Pháp thân, hay Như Lai.

Pháp thân ấy hằng tịnh không dơ, chúng sanh cứ dẫm dạp mà chẳng nhiễu loạn chẳng khởi một niệm phân biệt vì Pháp thân ấy vốn vô niệm. Chính vì tuyệt đối vô niệm nên kham nhẫn tuyệt đối, không tranh, không hại.

Pháp thân ấy không từ bỏ bản tánh, không thể hoại diệt dù bốn đại có thời kỳ tiêu diệt, thế gian có thời kỳ tiêu hoại.

Đại Huệ! Thí như cát sông Hằng không có hạn lượng, ánh sáng Như Lai cũng lại như vậy, vì muốn thành tựu vô lượng chúng sanh nên chiếu khắp tất cả đại hội của chư Phật.

Đại Huệ! Thí như cát sông Hằng trụ tự tánh của cát, không cải biến làm thành vật khác, Như Lai cũng vậy, trong thế gian không sanh không diệt, vì nhân để sanh trong các cõi đều đã dứt diệt.

Đại Huệ! Thí như cát sông Hằng lấy đi không biết có mất, bỏ vào không thấy có tăng, chư Phật cũng thế, dùng trí phương tiện thành thục chúng sanh mà không tăng không giảm. Vì sao thế? Vì Pháp thân Như Lai vốn không có thân. Đại Huệ! Vì có thân nên có hoại diệt, pháp thân không có thân nên không có hoại diệt.

Đại Huệ! Thí như cát sông Hằng, dù khổ công ép để muốn có dầu cũng không thể nào được. Như Lai cũng thế, tuy vì chúng sanh mà có các khổ đè ép, cho đến chúng sanh ngu si chưa vào hết Niết bàn, mà muốn khiến lìa bỏ pháp giới và tâm nguyện sâu xa thì chẳng thể được. Vì sao thế? Vì thành tựu đầy đủ tâm đại bi vậy. Đại Huệ! Thí như cát sông Hằng theo nước mà chảy, chẳng phải không có nước, Như Lai cũng vậy, có nói pháp thì không gì chẳng tùy thuận dòng Niết bàn, vì vậy mà nói chư Phật Như Lai như cát sông Hằng.

Đại Huệ! Như Lai thuyết pháp không theo các nẻo đi của sanh tử. Nẻo đi là nghĩa hoại diệt. Bản tế của sanh tử không thể biết được, đã không thể biết thì làm sao nói là nẻo đi? Đại Huệ! Nghĩa của từ nẻo đi là đoạn diệt, người phàm ngu không biết.

Pháp thân của chư Phật là “ánh sáng chiếu khắp tất cả đại hội của chư Phật”. Như Lai tạng tâm vừa là tánh Không vừa là ánh sáng, nên gọi là Không – Minh. Tự chứng thánh trí là Không – Minh.

Pháp thân của chư Phật là không sanh không diệt, tức là tánh Không. Tu hành là biết thức thì sanh diệt, trí thì không sanh không diệt. Cho đến lúc trí hay thức gì thì cũng nhiếp vào Pháp thân không sanh không diệt.

Pháp thân chư Phật thì không tăng không giảm, cho nên không hoại diệt. Niết bàn của chư Phật không tăng không giảm nên sanh tử có nhiều chúng sanh thêm hay giảm đi cũng chẳng dính dáng gì đến Niết bàn thánh trí tự chứng ấy.

Bổn nguyện và đại bi của Phật là một với trí huệ tánh Không nên cũng không tăng không giảm, không sanh không diệt, chẳng thể biến đổi, hoại diệt. Độ hết chúng sanh là công đức, công đức này cũng đồng đẳng với tánh Không, vô biên vô tận.

Phật ở trong Pháp thân, trong Niết bàn mà thuyết pháp, pháp ấy là Pháp thân, Niết bàn không sanh không diệt.

Tất cả trí huệ, đại bi, công đức, bổn nguyện của Phật được thành tựu đều y vào chủ đề cốt lõi của kinh: duy tâm sở hiện.

Bồ tát Đại Huệ lại bạch Phật rằng:

Nếu biên tế sanh tử không thể biết, thì chúng sanh ở trong sanh tử sao mà được giải thoát?

Phật dạy: Nhân của tập khí lỗi lầm hư vọng từ vô thủy diệt, rõ biết ngoại cảnh do tự tâm hiện, phân biệt được chuyển, đây gọi là giải thoát; chẳng phải là hoại diệt, cho nên không thể nói ‘vô biên tế’. Đại Huệ! Vô biên tế chỉ là tên khác của phân biệt.

Đại Huệ! Lìa tâm phân biệt thì không có riêng chúng sanh, vì khi dùng trí quán sát trong ngoài các pháp, thì cái biết và cái được biết trọn đều tịch diệt. Đại Huệ! Tất cả các pháp chỉ là tự tâm phân biệt mà thấy, chẳng rõ biết như vậy nên tâm phân biệt khởi, rõ biết thì tâm liền diệt.

Nhân của tập khí lỗi lầm hư dối từ vô thủy diệt, rõ biết ngoại cảnh do tự tâm hiện, nghiệp phân biệt được chuyển y, đây là giải thoát, chứ chẳng phải hoại diệt để giải thoát. Sanh tử chỉ là sự phân biệt của tự tâm mà hiện, cho nên giải thoát nó thì phải giải thoát tự tâm, phân biệt phải được chuyển y. Cho nên nói biên tế của sanh tử hay vô biên tế của sanh tử chỉ là mắc thêm vào lỗi phân biệt.

“Chẳng phải do hoại diệt”: Thanh Văn cho rằng phải hoại diệt sanh tử mới có Niết bàn, do đó dễ sa vào chấp đoạn diệt. Bồ tát thì thấy thực tại là ‘xưa chẳng sanh, nay chẳng diệt’, cái không sanh không diệt này là Niết bàn, còn sanh tử sanh diệt chỉ là sự vọng hiện của tự tâm phân biệt.

Ngay cả chúng sanh phải độ, Bồ tát thấy là như huyễn, làm mà thật ra không có làm, vì “lìa tâm phân biệt thì không có riêng chúng sanh”. Bồ tát thấy như huyễn, nên làm mà không làm. Thanh Văn thì không làm, không cứu độ, chung quy cũng vì còn chấp pháp, chấp sanh tử và chúng sanh là có thật, và muốn giải thoát bằng cách hoại diệt tự tâm, thay vì thấy tất cả duy tự tâm hiện.

Chỉ cần ngay đây quán sát trong ngoài các pháp, thì cái biết và cái được biết trọn đều là tánh Không, vô sở hữu, bất khả đắc. Thấy tánh Không như huyễn rồi tiếp tục tiệm tu lên các địa. Càng rõ biết các pháp chỉ là tự phân biệt mà thấy thì tâm phân biệt càng diệt, chứng hai vô ngã, tức là Niết bàn vô trụ xứ của Bồ tát.

Bấy giờ Thế Tôn lại nói bài kệ:

Quán sát các Đạo sư

Thí như cát sông Hằng

Chẳng hoại cũng chẳng đi

Người ấy hay thấy Phật.

Thí như cát sông Hằng

Trọn lìa tất cả lỗi

Mà thường tùy thuận dòng

Thể Phật cũng như vậy.

Quán sát chư Phật chẳng hoại cũng chẳng đi, đây là thấy pháp thân của chư Phật và cũng là pháp thân của tất cả chúng sanh. Đây là thấy Phật và thấy tất cả chúng sanh đều cùng một Phật tánh.

Muốn thấy Phật thì phải thấy tất cả tướng  duy tự tâm hiện, nên như huyễn như mộng. Thấy các màu sắc, ảnh hiện của viên ngọc ma ni tức là thấy viên ngọc ma ni. Kinh Hoa Nghiêm nói:

“Tâm, Phật, và chúng sanh

Cả ba không sai khác”.

Thể Phật hay pháp thân Phật thì hoàn toàn thanh tịnh, không có chút nhiễm ô lỗi lầm nào, có thuyết pháp thì các pháp đều tùy thuận dòng Thường, Lạc, Ngã, Tịnh của Niết bàn vì không có nẻo đi sanh tử nào không nằm trong và là Niết bàn.

Duy tự tâm hiện, đó là Niết bàn.

Bấy giờ Đại Bồ tát Đại Huệ lại bạch Phật rằng:

Bạch Thế Tôn! Xin nói cho con tướng sát na hoại của tất cả các pháp. Tại sao các pháp gọi là có sát na?

Phật dạy: Hãy nghe kỹ, ta sẽ nói cho ông. Đại Huệ! Tất cả pháp là thiện pháp, bất thiện pháp, hữu vi pháp, vô vi pháp, thế gian pháp, xuất thế gian pháp, hữu lậu pháp, vô lậu pháp, hữu thọ pháp, vô thọ pháp. Đại Huệ! Nói tóm thì năm thủ uẩn là do tập khí của tâm, ý, ý thức làm nhân mà được tăng trưởng. Phàm ngu nơi đó mà sanh phân biệt, cho rằng thiện, bất thiện. Thánh nhân thì trụ hiện chứng tam muội lạc, đó gọi là pháp thiện vô lậu.

Lại nữa, Đại Huệ! Thiện và bất thiện, đó là tám thức. Tám thức là gì? Là Như Lai tạng gọi là tạng thức, ý cùng ý thức và năm thức thân. Đại Huệ! Năm thức thân cùng với ý thức, những tướng sai biệt thiện bất thiện xoay vần tương tục chẳng đoạn, tạng thức vốn không khác với Như Lai tạng, sanh khởi, sanh rồi liền diệt, chẳng rõ cảnh là do tự tâm hiện, thứ lớp diệt tức thì thức khác sanh khởi, ý thức cùng năm thức kia chung nhau, chấp giữ thảy thảy hình tướng sai biệt, không sát na nào dừng trụ. Ta gọi các thứ ấy là pháp sát na.

Năm thủ uẩn là do tập khí của tâm, ý, ý thức mà được tăng trưởng, củng cố, làm dày đặc thêm sự phân biệt, vốn là nghiệp của chúng sanh.

Tất cả các pháp đều là sát na, khoảnh khắc. Sát na sanh rồi diệt, lại tiếp tục sanh rồi diệt, không khi nào chấm dứt. Nhưng sự sanh diệt ấy là tám thức sanh diệt. Sự sanh diệt của tám thức gây ra ảo tưởng có sự sanh diệt nơi các pháp. Cho nên muốn chấm dứt sự sanh diệt thấy ở bên ngoài thì phải chấm dứt sự sanh diệt của tám thức.

Ở trước có nói, “Trí thì bất động, thức thì chuyển động”. Dùng trí bất động để thấy thức chuyển động, sanh diệt trong từng sát na, đó là lìa thức và cũng là chuyển thức thành trí.

Đại Huệ! Như Lai tạng gọi là tạng thức, cùng với ý, ý thức… các tập khí của chúng là pháp sát na. Còn tập khí vô lậu thì chẳng phải pháp sát na. Điều này những phàm phu trong sát na luận chẳng thể hiểu được. Họ chẳng thể biết tất cả các pháp là sát na tức chẳng phải sát na. Họ vọng tưởng rằng vô vi đồng với các pháp hoại, sa vào đoạn kiến.

Đại Huệ! Năm thức thân chẳng phải lưu chuyển, chẳng thọ khổ lạc, chẳng phải là nhân cho Niết bàn. Như Lai tạng thọ khổ lạc cùng với nhân câu hữu sanh diệt, bị bốn loại tập khí che đậy mê mờ. Nhưng các phàm phu bị phân biệt huân tập trong tâm, không thể rõ biết mà khởi kiến chấp sát na.

Đại Huệ! Như vàng, kim cương, xá lợi của Phật, tính chất kỳ đặc của chúng không thể nào bị tổn hoại, nếu pháp chứng đắc có sát na thì bậc thánh đáng lẽ cũng chẳng còn là thánh. Nhưng bậc thánh chưa từng mất tính chất thánh. Như vàng, kim cương dù trải qua hết kiếp mà cân lượng chẳng giảm. Vì sao phàm ngu không hiểu lời nói bí mật của ta, mà đối với tất cả pháp lại sanh tưởng sát na?

Tướng sát na hoại của tất cả các pháp là các pháp sanh diệt trong từng sát na. Sát na là nghĩa sanh diệt nhanh chóng của các pháp. Truy nguyên sự sanh diệt ấy là do sự sanh diệt của các tập khí hữu lậu trong các thức. Không có pháp nào ngoài thức nên sát na của các pháp là sát na của thức.

Nhưng thật tướng của sát na là gì? Đây là “lời nói bí mật của Phật”: “sát na tức phi (chẳng phải) sát na”. Sát na là chẳng phải sát na, lưu chuyển tức chẳng phải lưu chuyển, thọ tức chẳng thọ, nhân tức chẳng nhân. Quán sát để rõ biết điều này bèn phá tung vọng tưởng sát na mà giải thoát.

Sát na là một vọng tưởng về sanh diệt. Thật tế thì không có sát na, bởi vì nếu có sát na thì thánh sẽ có ngày trở nên mất thánh tánh. “Năm thức thân chẳng phải lưu chuyển, chẳng thọ khổ lạc, chẳng phải là nhân cho Niết bàn”, cho nên năm thức thân là phi sát na, vốn không ô nhiễm, vốn thấy Niết bàn phi sát na. Chỉ có ý thức, ý và tạng thức là có nhiễm ô bởi các tập khí mà thành niệm niệm sanh diệt, thành sát na. Nhưng sát na chẳng phải là sát na thì ý thức, ý và tạng thức chẳng phải lưu chuyển. Quán thấy là như huyễn thì tập khí hết, bấy giờ tám thức là Như Lai tạng, là phi sát na, tức là Niết bàn.

“Sát na là phi sát na”, hãy quán sát cho đến khi sự trói buộc của các thức đứt tung mà giải thoát. Còn không thì có làm gì cũng ở trong ngục tù của sát na, của thời gian sanh tử.

Bồ tát Đại Huệ lại bạch Phật rằng: Thế Tôn thường nói Sáu ba la mật nếu được đầy đủ bèn thành Chánh giác. Thế nào là sáu ba la mật? Thế nào là đầy đủ?

Phật dạy: Đại Huệ! Các ba la mật kia có ba loại sai khác. Đó là thế gian, xuất thế gian, và xuất thế gian thượng thượng.

Đại Huệ! Thế gian ba la mật là các phàm ngu bám ngã, ngã sở, chấp thủ nhị biên, cầu có thân ở các cõi, tham cảnh sắc, thọ…, nên tu hành bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, thành tựu thần thông, sanh vào cõi Phạm Thiên.

Đại Huệ! Xuất thế gian ba la mật là Thanh Văn Duyên Giác chấp trước Niết bàn, mong cầu tự an lạc, như vậy mà tu tập các ba la mật.

Đại Huệ! Xuất thế gian thượng thượng ba la mật là Đại Bồ tát nơi hai pháp tự tâm, rõ biết duy chỉ là sự xuất hiện của phân biệt, chẳng khởi vọng tưởng, chẳng sanh chấp trước, chẳng nắm giữ sắc tướng. Vì muốn lợi lạc tất cả chúng sanh mà thường tu hành bố thí ba la mật. Nơi các cảnh giới chẳng khởi phân biệt, đó là tu hành giới ba la mật. Khi không khởi phân biệt, nhẫn biết tự tánh của năng thủ sở thủ, đó gọi là nhẫn ba la mật. Đầu, giữa và cuối đêm chuyên cần không biếng trễ, tùy thuận theo kiến giải chân thật, chẳng sanh phân biệt, không khởi kiến chấp Niết bàn của ngoại đạo, đó gọi là thiền ba la mật. Dùng trí quán sát tâm vô phân biệt, chẳng sa vào nhị biên, chuyển thức sở y thành thanh tịnh mà không hoại diệt, được cảnh giới nội chứng thánh trí, đó gọi là bát nhã ba la mật.

Hai pháp tự tâm là Như Lai tạng bản tánh vốn thanh tịnh và tạng thức cũng vốn là Như Lai tạng nhưng đã bị nhiễm ô bởi phân biệt thành năng sở, tâm cảnh, ta người… Hai pháp tự tâm là tự tâm Vô tướng, Vô niệm, Vô trụ và tự tâm có sự xuất hiện của phân biệt, từ đó có vọng tưởng, chấp trước, nắm giữ, mà thành tướng, niệm và trụ.

Rõ biết các tướng, niệm, trụ đều là sự xuất hiện của phân biệt nên vô tự tánh, vô sở hữu, bất khả đắc, như huyễn như mộng bèn ngay đó trở lại và an trụ trong tự tâm xưa nay thanh tịnh. Sáu ba la mật đều y vào sự không khởi phân biệt tức là trí huệ tánh Không thấy tất cả như huyễn này. Bố thí mà không khởi phân biệt người cho, vật cho và người được cho, chính sự không phân biệt này là tánh Không, là xuất thế gian thượng thượng ba la mật. Giới là không có phân biệt vì như huyễn, nhẫn là nhẫn với tự tánh không phân biệt, không năng thủ sở thủ vì phân biệt của tất cả các pháp.

Đến đây chúng ta hiểu vì sao sau khi hỏi nghĩa sát na Bồ tát Đại Huệ hỏi tiếp về ba la mật. Ba la mật là phi sát na.

Trí huệ bát nhã là quán sát tâm vô phân biệt, tức là tự tâm vốn thanh tịnh, chẳng sa vào các danh tướng do phân biệt biến hiện, thấy chúng là như huyễn như mộng, do tâm biến hiện. Như vậy là chuyển thức y vào phân biệt bất tịnh thành trí thanh tịnh vốn vô phân biệt. Tu hành không phải là diệt thức  mà chuyển y nó thành trí, bằng cách thấy hoạt động của thức là như huyễn.

Ngay đây thấy, nghe… mà không có phân biệt danh tướng chen vào thì đây là cái gọi là tánh thấy, tánh nghe… hay Như Lai tạng. Ngay đây mà không có vọng tưởng phân biệt thì thức đang thấy, đang nghe chính là trí đang thấy, đang nghe.

Cho đến khi chuyển y thành tựu thì tất cả thức được nhiếp vào trong trí, toàn thức là trí, bất kỳ niệm nào khởi lên thì đó là trí. Phân biệt hay không phân biệt, tất cả đều là trí.

Bấy giờ Thế Tôn lại nói bài kệ:

Ngu phân biệt hữu vi

Không, vô thường, sát na

Phân biệt nghĩa sát na

Như sông, đèn, hạt giống.

Tất cả pháp không sanh

Tịch tĩnh không sở tác

Các sự, tánh đều lìa

Ta nói nghĩa sát na.

Sanh liên tục tức diệt

Chẳng vì phàm ngu nói

Pháp tương tục vô gián

Các nẻo phân biệt khởi.

Vô minh là nhân ấy

Tâm liền theo đó sanh

Khi sắc còn chưa đến

Trung gian, tâm ở đâu?

Vô gián tương tục diệt

Mà riêng có sắc khởi

Khi sắc, tâm chẳng trụ

Duyên vào đâu mà sanh?

Nếu duyên kia mà khởi

Nhân ấy tức hư vọng

Thể nhân vọng, chẳng thành

Làm sao sát na diệt?

Người tu hành chánh định

Kim cương, xá lợi Phật

Cùng với Quang âm cung

Sự thế gian chẳng hoại.

Trí viên mãn Như Lai

Và tỳ kheo chứng đắc

Tánh các pháp thường trụ

Làm sao thấy sát na?

Thành Càn thảy sắc huyễn

Do đâu phi sát na

Đại chủng không thật tánh

Làm sao nói năng tạo?

Sát na chẳng phải là sát na, nghĩa là sát na không sanh không diệt, do đó sát na là giải thoát.

Tất cả pháp, trong đó có tâm thức, không sanh đây là giải thoát hiện tiền. Nghĩa sát na Đức Phật nói chính là giải thoát Niết bàn tịch tĩnh: “Tất cả pháp không sanh, tịch tĩnh không sở tác, tánh của các sự là tánh lìa, ta nói nghĩa sát na”.

“Sanh vô gián tức diệt”, Kinh Pháp Hoa nói, “Các pháp vốn xưa nay, tướng thường tự tịch diệt”, nghĩa là chỉ có vô sanh, thấy có sanh là điên đảo vọng tưởng.

Tâm là vô sanh, không vì sắc đến làm duyên mà có, không vì sắc chưa đến làm duyên mà không có. Cho nên nói sát na sanh và sát na diệt đều là phân biệt vọng tưởng, thật tướng của sát na là chẳng sanh chẳng diệt.

Hãy thấy, hãy nghe… mà biết rõ Biến kế sở chấp tánh và Duyên khởi tánh hay Y tha tánh là vô sanh như huyễn thì đó là thấy nghe Viên thành thật tánh vốn vô sanh tịch tĩnh, thường trụ.

Xem Mục Lục

Kinh điển

Top Book

Top Book Mp3

Top Music Album

 
© Copyright 2009 - 2020 anphat.org - Chịu trách nhiệm nội dung: Thị Đức bienman0811@yahoo.com - Hỗ trợ kỹ thuật votamthoai@gmail.com