Xem Mục Lục

 Kinh Viên Giác - HT Thích Thanh Kiểm (1917-1990)

 Chương 9: Tịnh Chư Nghiệp Chướng

 

 

Chương 9: Tịnh Chư Nghiệp Chướng

Lúc đó, Bồ tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng, ở trong đại chúng, từ tòa ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, nhiễu phía hữu 3 vòng, quỳ dài chắp tay mà bạch Phật rằng:
Đại bi Thế Tôn! Xin Ngài vì lũ chngs con, nói rộng về hành tướng nhân địa của Như Lai, những việc không thể nghĩ bàn, mà chư đại chúng, chưa từng được nghe, và thấy rõ công dụng của hết thảy cảnh giới, cần khổ trải hẳng hà sa kiếp của Đức Điều Ngự, như là một niệm. Bồ tát chúng con rất đỗi an ủi vui mừng. Bạch Thế Tôn! Bằng như giác tâm bản tính thanh tịnh, nhân ô nhiễm gì mà khiến chư chúng sinh mê muội không vào được? Kính xin Như Lai, vì tất cả chúng con, khai ngộ pháp tính, khiến đại chúng đây và chúng sinh đời sau, làm con mắt tương lại.
Nói như thế rồi, 5 vóc gieo xuống đất, thỉnh cầu như thế, trước sau 3 lần.

Khi bấy giờ, Đức Thế Tôn, bảo Bồ tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng rằng: Tốt lắm thay! Tốt lắm thay! Thiện nam tử! Như các ông mới có thể vì chư Bồ tát và chúng sinh đời sau, hỏi về phương tiện như thế ở Như Lai. Ông nay nghe cho kỹ, ta sẽ vì ông mà nói.

Khi đó, Bồ tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng vui mừng, vâng lời Phật dạy và chư đại chúng đều im lặng lắng nghe.

Thiện nam tử! Hết thảy chúng sinh, từ vô thủy trở lại, vì còn vọng tưởng, nên chấp có ngã, nhân, chúng sinh cùng thọ mệnh, nhận 4 điên đảo làm thể thực ngã. Do đó liền sinh 2 cảnh yêu, ghét ở thể hư vọng, lại chấp hư vọng, 2 vọng cùng nương nhau, sinh ra đường vọng nghiệp. Vì có vọng nghiệp nên vọng thấy lưu chuyển, người chán lưu chuyển, vọng thấy Niết Bàn. Do đó không thể nào vào được thanh tịnh giác. Không phải giác chống lại mọi người hay chứng vào, dù có người hay chứng vào, nhưng cũng không phải giác chúng vào. Thế nên, động niệm cùng tắt niệm, đều quy về mê muội. Bởi cớ gì? Vì có vô minh vốn khởi ra từ vô thủy, làm chủ tể mình. Thế nên hết thảy chúng sinh, sinh ra không có con mắt tuệ, mọi tính thuộc thân tâm đều là vô minh. Ví như có người, chẳng tự đoạn mệnh của mình. Vì thế nên biết, cái thuận với sở thích của “ngã”, thì ngã tùy thuận theo, cái không tùy thuận với ngã, liền sinh ra oán ghét. Vì tâm yêu ghét nuôi thêm vô minh, cứ tiếp nối, nên sự cầu đạo đều không thành tựu được.

Thiện nam tử! Thế nào là ngã tướng? Nghĩa là phần tâm chỗ chứng, ở mọi chúng sinh. Thiện nam tử! Ví như có người, tân thể điều hòa thích ý, bỗng quên cả thân thể. Một khi tứ chi uể oải, nhiếp dưỡng trái điều độ, thêm vào, dùng kim để chích, dùng ngải để cứu, thời biết có ngã. Vì thế tới lúc “chứng thủ” mới hiện ngã thể. Thiện nam tử! Tâm đó dù có chứng tới Như Lai rốt ráo biết rõ Niết Bàn thanh tịnh, đó đều là ngã tướng.

Thiện nam tử! Thế nào là nhân tướng? Nghĩa là phần tâm “ngộ chứng” ở mọi chúng sinh. Thiện nam tử! Tâm ngộ có ngã, chẳng lại nhận ngã. Chỗ ngộ chẳng phải ngã, ngộ cũng như thế. Ngộ đã vượt qua hết thảy chứng thì đều là nhân tướng. Thiện nam tử! Tâm đó dù chứng tới viên ngộ Niết Bàn, cũng đều là ngã, vì tâm còn vướng chút vi ngộ, dù chứng lý đầy đủ, cũng đều gọi là nhân tướng.

Thiện nam tử! Thế nào là chúng sinh tướng? Nghĩa là phần tâm tự chứng ngộ chỗ chẳng kịp được của mọi chúng sinh. Thiện nam tử! Ví như có người nói thế này: Ta là chúng sinh, thời biết người kia nói chúng sinh ấy, chẳng phải ở ta, cũng chẳng phải ở kia. Thế nào là chẳng phải ở ta? Vì ta là chúng sinh, thời chẳng phải ở ta. Thế nào là chẳng phải ở kia? Vì ta là chúng sinh, nên chẳng phải ta ở kia. Thiện nam tử! Chỉ vì tất cả chúng sinh, liễu chứng, liễu ngộ, đều là ngã và nhân mà phần tướng ngã nhân chỗ chẳng kịp ấy, còn có chỗ liễu, gọi là tướng chúng sinh.

Thiện nam tử! Thế nào là tướng thọ mệnh? Nghĩa là phần tâm chiếu thanh tịnh giác chỗ liễu của mọi chúng sinh. Hết thảy nghiệp trí, chỗ không tự thấy được, cũng như là bệnh căn. Thiện nam tử! Nếu ở tâm, chiếu thấy hết thảy giác ấy đều là trần cấu. Bởi phần giác và sở giác, đều không lìa trần. Ví như băng tan trong nước nóng, không còn phần, có băng khác và biết băng tan. Còn ngã và giác ngã cũng lại như thế.

Thiện nam tử! Chúng sinh đời mạt, chẳng liễu ngộ 4 tướng, tuy trải nhiều kiếp, cần khổ tu đạo, chỉ gọi là hữu vi, trọn không thể thành hết thảy Thánh quả. Thế nên gọi là đời mạt của chính pháp. Bởi cớ gì? Vì nhận hết thảy ngã là Niết Bàn. Ví có chứng có ngộ gọi là thành tựu. Như có người nhận giặc làm con, của báu trong nhà đó, trọn không thể thành tựu. Bởi cớ gì? Vì có ngã ái cùng ái Niết Bàn, nso núp ở căn của ngã ái, làm tướng của Niết Bàn. Neus có ghét ngã, cũng là ghét sinh tử. Vì không biết ái, thực là gốc của sinh tử, chỉ ghét riêng sinh tử, gọi là pháp không giải thoát. Tại sao biết được pháp chẳng giải thoát? Thiện nam tử! Chúng sinh đời mạt kia, những người tu tâp Bồ Đề, lấy chỗ vì chứng của mình, làm tự tanh tịnh, nên vẫn chưa thể hết được cội rễ của ngã tướng. Nếu lại có người tán thán pháp kia, liến sinh hoan hỷ, bèn muốn tế độ. Hoặc lại có người, phỉ báng chỗ sở đắc kia, liền sinh sân hận. Thời biết ngã tướng còn chấp trì bền chắc, tiềm phục nơi tạng thức, du hý ở các căn, từng không gián đoạn.

Thiện nam tử! Người tu đạo kia, vì không trừ được ngã tướng, thế nên không thể vào được thanh tịnh giác, Thiện nam tử! Nếu biết ngã không, không cả phần hủy ngã, nhưng vì còn có ngã thuyết pháp, thì ngã chưa đoạn trừ. Tướng chúng sinh, tướng thọ mệnh, cũng lại như thế. Thiện nam tử! Chúng sinh đời mạt thì nói bệnh làm pháp, thế nên gọi là kẻ đáng thương xót, tuy siêng năng tinh tiến, chỉ tăng thêm mọi bệnh. Thế nên không thể vào được thanh tịnh giác. Thiện nam tử! Chúng sinh đời mạt, không liễu ngộ rõ 4 tướng, lấy chỗ hiểu và tu hành của Như Lai, làm chỗ tu hành của mình nên trọn không thành tựu. Hoặc có chúng sinh, chưa được noislaf được , chưa chứng bảo là chứng. Thấy kẻ tiến hơn, tâm sinh tật đố. Bởi chúng sinh kia, chưa đoạn được ngã ái, thế nên không thể vào được thanh tịnh giác.

Thiện nam tử! Chúng sinh đời mạt, hy vọng được thành đạo, không mong cầu ngộ, chỉ chuộng ở nghe nhiều, để tăng trưởng phần ngã kiến. Phải nên siêng năng hàng phục phiền não, khởi tâm đại dũng mãnh, chỗ chưa được khiến được, chỗ chưa đoạn khiến đoạn, tất cả tham, sân, ái, mạn, xiểm khúc, tật đố, khi đối cảnh chớ để phát sinh, ngã nhân ái kia, hết thảy đều tịch diệt. Phật nói người đó, lần lượt được thành tựu, tìm bậc thiện tri thức, không đọa vào tà kiến. Nếu chỗ sở cầu còn sinh chút yêu ghét nào khác, thời không thể vào được bể thanh tịnh giác.

Khi bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên, nên nói kệ rằng:

Tịnh Nghiệp ông nên biết
Hết thảy mọi chúng sinh
Đều do chấp ngã ái
Lưu chuyển vọng vô thủy
Chưa trừ 4 thứ tướng
Không thành tựu Bồ đề
Yêu ghét sinh ở tâm
Xiểm khúc còn mọi niệm
Thế nên nhiều mê muội
Không thể vào giác thành
Nếu trở về cõi ngộ
Trước bỏ tham sân si
Pháp ái chẳng vương tâm
Lần lượt sẽ thành tựu
Thân ta vốn chẳng có
Yêu ghét từ đâu sinh
Người này cầu thiện hữu
Trọn không đọa tà kiến
Cầu mà sinh phân biệt
Rốt ráo không thành tựu.

Xem Mục Lục

Top Book

Top Book Mp3

Top Music Album

 
© Copyright 2009 - 2018 anphat.org - Chịu trách nhiệm nội dung: Thị Đức bienman0811@yahoo.com - Hỗ trợ kỹ thuật votamthoai@gmail.com