Xem Mục Lục

 LUẬN ĐẠI TRÍ ĐỘ [MAHĀPRAJÑĀPĀRAMITĀ ŚĀSTRA] - Tác giả: NĀGĀRJUNA ( LONG THỌ) - Dịch Phạn ra Hán: CƯU MA LA THẬP - Dịch Hán ra Việt: THÍCH THIỆN SIÊU

  Lời nói đầu
Tác giả:  NĀGĀRJUNA (LONG THỌ)
Dịch Phạn ra Hán:   CƯU MA LA THẬP     
Dịch Hán ra Việt: THÍCH THIỆN SIÊU
 
 
 
 
LUẬN ĐẠI TRÍ ĐỘ  
[MAHĀPRAJÑĀPĀRAMITĀ ŚĀSTRA]
TẬP II
(CUỐN 21 ĐẾN CUỐN 40)
 
 
 
 
 
 
 
 


NHÀ XUẤT BẢN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1998

* Trang 1 *
device




VIỆN NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC VIỆT NAM
Thực hiện
 
LUẬN ĐẠI TRÍ ĐỘ 1:         Từ cuốn 1 đến cuốn 20
      xuất bản năm 1997.
LUẬN ĐẠI TRÍ ĐỘ 2:         Từ cuốn 21 đến cuốn 40
      xuất bản năm 1998.


___________

* Trang 2 *
device

LỜI NÓI ĐẦU
           
            Trong tập II này gồm có nửa sau của phẩm Tựa Đầu, từ chương 31 đến chương 46 (phẩm Tựa có 46 chương, 30 chương đầu đã in ở tập I – 1997). Tiếp đó là phẩm Dâng bát thứ hai, phẩm Tập Tương Ưng thứ ba, phẩm Vãng sanh thứ tư, phẩm Thán độ thứ năm, phẩm Tướng lưỡi thứ sáu. Tất cả trải dài trong 20 cuốn, Từ cuốn 21 đến cuốn 40.
            Ngài Cưu-ma-la-thập-dịch luận Đại Trí Độ này vào khoảng năm 402-404, trước Ngài Huyền Trang dịch trên hai thế kỷ, nên có những thuật ngữ rất xưa, ít được phổ cập. khi gặp các thuật ngữ như vậy, tôi đã đổi lại một số theo thuật ngữ của các vị dịch sau và đã được phổ cập nhiều hơn. Ví dụ:
            - Thuật ngữ ngũ tình, lục tình đổi lại là ngũ căn, lục căn.
            - Thuật ngữ ngũ chúng, ngũ thọ chúng, ngũ ấm, ngũ thọ ấm đổi lại ngũ uẩn, ngũ thủ uẩn.
            - Thuật ngữ ngũ vô học chúng đổi lại ngũ vô lậu uẩn.
            - Thuật ngữ ẩn một vô ký, phi ẩn một vô ký, đổi lại là hữu phú vô ký, vô phú vô ký.
            - Thuật ngữ sổ duyên tận, phi sổ duyên tận; sổ duyên duyệt; trí duyên tận, phi trí duyên tận; trí duyên diệt, phi trí duyên diệt ở các chương 23, 24, 29, 30, 43

* Trang 3 *
device

đều đổi lại là trạch diệt, phi trạch diệt.
            Phái Hữu Bộ (Sarvāstivāda) khái quát tất cả pháp vào 75 pháp, trong đó 72 pháp thuộc hữu vi và 3 pháp vô vi. Hữu vi là pháp có mang theo nó bốn tướng hữu vi là sanh, trụ, dị, diệt. Còn pháp vô vi thì tức là chơn lý, chơn không, không có bốn tướng ấy.
           Ba pháp vô vi:
           1. Hư không vô vi: chỉ cho tánh suốt thông không ngăn ngại của hư không đối với sự vật. Tính trống không của hư không thuộc sắc pháp, bị thay đổi sanh diệt, còn tính suốt thông không ngăn ngại của hư không thì không hề thay đổi sanh diệt, nên gọi là vô vi.
           2. Trạch diệt vô vi: do trí tuệ lựa chọn, quán sát pháp Tứ đế, diệt được pháp hữu lậu hữu vi phiền não, làm hiển lộ bản tánh thanh tịnh vô vi vô lậu ngoài bốn tướng hữu vi, đây tức là Niết bàn.
           3. Phi trạch diệt vô vi: đây không phải do trí tuệ lựa chọn làm tiêu diệt, mà chính vì thiếu duyên, hoặc bị trở ngại nên pháp hữu lậu hữu vi tương lai không sanh khởi được. không sanh tức không diệt, nên cũng gọi là vô vi.
           Ba vô vi như vậy, dù dịch thuật ngữ có sai khác thì ý nghĩa cũng đồng nhau mà thôi.
           Trong bản dịch này có đôi chỗ dựa theo kinh Đại Bát- nhã của Ngài Huyền Trang dịch.
           Đôi điều như vậy, tôi xin lưu ý quí vị độc giả.
 
 
PL: 2542. Từ Đàm, mùa An Cư Mậu Dần (1998)
THÍCH THIỆN SIÊU

* Trang 4 *
device

Xem Mục Lục

Top Book

Top Book Mp3

Top Music Album

 
© Copyright 2009 - 2018 anphat.org - Chịu trách nhiệm nội dung: Thị Đức bienman0811@yahoo.com - Hỗ trợ kỹ thuật votamthoai@gmail.com