Xem Mục Lục

 LUẬN ĐẠI TRÍ ĐỘ [MAHĀPRAJÑĀPĀRAMITĀ ŚĀSTRA] - Tác giả: NĀGĀRJUNA ( LONG THỌ) - Dịch Phạn ra Hán: CƯU MA LA THẬP - Dịch Hán ra Việt: THÍCH THIỆN SIÊU

  Giải thích Phẩm Tựa Đầu - Chương 45: Giải thích Đến bờ kia
CHƯƠNG 45.
GIẢI THÍCH: ĐẾN BỜ KIA V.V...

 
            KINH: Lại nữa, Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát muốn đến bờ kia của hết thảy pháp hữu vi vô vi, thời nên học Bát-nhã ba-la-mật.
            LUẬN: Bờ kia là đối với pháp hữu vi vô vi đến tận bờ mé nó.
            Thế nào là bờ kia? Là dùng đại trí tuệ biết rõ hết thảy pháp hữu vi, các tướng chung tướng riêng của nó đều biết rõ. Đối với pháp vô vi từ Tu-đà-hồn cho đến Phật, thảy đều biết rõ. Nghĩa của pháp tướng hữu vi vô vi, như trước đã nói.
            KINH: Bồ-tát ma-ha-tát muốn biết quá khứ, vị lai, hiện tại, các pháp như, các pháp tướng, vô sanh tế, (trong kinh đại bát-nhã ngài Huyền-trang dịch là chân như, pháp giới, pháp tánh, vô sanh, chân tế--N.D) nên học Bát-nhã ba-la-mật.
            Luận: Hỏi: Trên kia đã nói như, sao nay còn nói lại?
            Đáp: Trên chỉ nói ngay các pháp như, nay nói pháp ba đời đều như. Trên nói lược, đây nói rộng. Trên nói một, đây nói ba. Pháp tướng tức là pháp tánh, vô sanh tế tức là chân tế, 

* Trang 470 *
device

quá khứ pháp như tức là pháp tướng quá khứ, vị lai, hiện tại cũng như vậy.
           * Lại nữa, quá khứ pháp như, tức là vị lai, hiện tại pháp như; hiện tại pháp như, tức là quá khứ, vị lai pháp như; vị lai pháp như, tức là quá khứ, hiện tại pháp như, vì cớ sao? Vì tướng “như” chẳng phải một chẳng phải khác.
           * Lại nữa, như trước nói hai thứ như: 1. Thế gian như. 2. Xuất thế gian như. Dùng thế gian như thì ba đời mỗi mỗi khác, dùng xuất thế gian như thì ba đời là một.
           * Lại nữa, pháp tướng là nghiệp dụng của các pháp, lực, tạo tác, nhân duyên, quả báo của các pháp.[1] Như lửa là tướng nóng, nước là tướng ướt, như vậy phân biệt các tướng riêng khác về nhân duyên, quả báo của các pháp như trong mục “Thị xứ phi xứ lực” ở trước nói. Ấy gọi là pháp tướng thế gian. Nếu đối với các pháp ấy truy cầu tầm cứu nhập vào vô sanh pháp, không còn gì quá hơn nữa, ấy gọi là vô sanh tế.
           Hỏi: Như, pháp tướng có thể phân biệt có ba đời, còn vô sanh tế là pháp vị lai, làm sao có quá khứ, hiện tại? Như trong A-tỳ-đàm nói sanh pháp là quá khứ, hiện tại, vô sanh pháp là vị lai pháp vô vi,[2] làm sao muốn khiến cả pháp quá khứ, hiện tại có vô sanh?
            Đáp: Như trước các đoạn nói phá sanh pháp, thời hết thảy pháp đều vô sanh, chứ đâu chỉ vị lai vô sanh, như trong chương giải thích nghĩa chữ “Nhất thời” đã phá ba đời. Ba đời một tướng, đó là vô tướng. Như vậy là tướng vô sanh.
           * Lại nữa, vô sanh là Niết-bàn, vì Niết-bàn không sanh
 

[1] T. 9, Diệu pháp liên hoa kinh (Saddharmapuṇḍarīka-sūtra-妙法蓮華經), quyển 1, Phương tiện phẩm (方便品), tr.5c11-13: Mười như thị: nghĩa là các pháp tướng như vậy, tánh như vậy, thể như vậy, lực như vậy, tác như vậy, nhân như vậy, duyên như vậy, báo như vậy, bản mạt cứu cánh như vậy; Saddharmapuṇḍarīka sūtra: yallakṣaṇāśca te dharmāḥ, yatsvabhāvāśca te dharmāḥ, ye ca yathā ca yādṛśāśca yallakṣaṇāśca yatsvabhāvāśca te dharmā iti, teṣu dharmeṣu tathāgata eva pratyakṣo'parokṣaḥ.
[2] T. 26: Chúng sự phần a-tỳ-đàm luận (眾事分阿毘曇論), quyển 4, tr. 648a21-23: Thế nào là khởi pháp? Đó là quá khứ, hiện tại pháp. Thế nào là không khởi pháp? Đó là vị lai không sanh pháp và vô vi pháp. 

* Trang 471 *
device

không diệt, Niết-bàn là rốt ráo cuối cùng, không còn sanh trở lại, mà hết thảy pháp tức là Niết-bàn, nên Phật dạy hết thảy pháp đều do vô sanh tế.
            KINH: Lại nữa, Xá-lợi-phất Bồ-tát ma-ha-tát muốn ở trước hết thảy Thanh-văn, Bích-chi-phật; muốn hầu hạ chư Phật; muốn làm nội quyến thuộc của chư Phật; muốn được đại quyến thuộc; muốn được Bồ-tát làm quyến thuộc; muốn thanh tịnh báo đáp ơn đại thí, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
            LUẬN: Hỏi: Nếu Bồ-tát chửa được sạch hết lậu, làm sao được ở trước bậc Thánh nhân sạch hết lậu?
            Đáp: Bồ-tát khi mới phát tâm đã ở trước hết thảy chúng sanh, huống gì nhiều kiếp tu hành? Bồ-tát công đức trí tuệ lớn nên đời đời thường lớn, có thể làm lợi ích cho Thanh-văn, Bích-chi-phật. Chúng sanh biết ơn Bồ-tát nên tôn sùng kính trọng, cho đến ở trong súc sanh cũng là tôn trọng. Như Bồ-tát kiếp xưa làm nai, màu sắc như vàng, sừng bảy báu, năm trăm nai tùy tùng kính thờ. Nếu sanh trong lồi người, đời tốt thì làm chuyển luân Thánh vương, đời ác thường làm Đại vương, hộ trì Phật pháp lợi ích chúng sanh. Nếu xuất gia, gặp đời có Phật pháp thời làm vị đại độ sư cho đời, hưng hiển Phật pháp; nếu gặp đời không Phật pháp thì làm Đại sư ngoại đạo, tu hành bốn vô lượng tâm. A-la-hán, Bích-chi-phật, tuy vô lậu mà việc lợi ích ít, ví như một thăng váng sữa tuy tinh chẳng bằng cao sữa đầy nước

* Trang 472 *
device

biển lớn. Bồ-tát tuy trí tuệ hữu lậu mà đến khi thành thục, thời lợi ích vô lượng.
            Lại nữa, bốn sự cúng dường dụng cụ trợ đạo của La-hán, Bích-chi-phật phần nhiều do Bồ-tát mà có được như kinh Lăng-nghiêm nói: Văn-thù-sư-lợi bảy mươi hai ức kiếp làm Bích-chi-phật, giáo hóa người tu pháp Bích-chi-phật khiến họ được thành đạo.[1] Vì vậy nên Bồ-tát ở trước Thanh-văn, Bích-chi-phật.
            Muốn hầu hạ chư Phật: Thích-ca văn Phật khi chưa xuất gia, Xa-nặc hầu hạ, Ưu-đà-da làm trò vui, Ưu-ty-da, Da-du-đà các thể nữ làm nội quyến thuộc khi xuất gia tu khổ hạnh sáu năm, có năm người hầu hạ. Khi thành đạo có Di-hỷ, La-đà, Tu-na-sát-đa-la, A-nan, Mặc-tích-lực-sĩ v.v... ấy là nội quyến thuộc.
            Đại quyến thuộc: Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, Ma-ha Ca-diếp, Tu-bồ-đề, Ca-chiên-diên, Phú-lâu-na, A-nâu-lâu-đà các Thánh nhân, và Di-lặc, Văn-thù-sư-lợi, Bạt-đà-bà-la các Bồ-tát nhất sanh bổ xứ không thối chuyển. Ấy gọi là đại quyến thuộc.[2]
            Lại nữa, Phật có hai thân: 1. Là pháp tánh sanh thân. 2. Tùy thế gian thân. Quyến thuộc của thế gian thân như trước đã nói, quyến thuộc của pháp tánh sanh thân là vô lượng vô số Bồ-tát nhất sanh bổ xứ theo hầu, vì cớ sao? Vì như trong kinh Bất-khả-tư-nghì-giải-thốt nói: Lúc Phật sắp sanh có tám vạn bốn ngàn Bồ-tát nhất sanh bổ xứ ở tiền đạo, Bồ-tát (Phật) theo sau sanh ra, ví như mây tới đồng trăng;[3]
 

[1] T. 15: Phật thuyết thủ lăng nghiêm tam muội kinh (佛說首楞嚴三昧經), quyển 2, tr. 642a26-b24: Văn-thù-sư-lợi pháp vương tử bạch Phật rằng: Bạch đức Thế-tôn! Con nhớ quá khứ kiếp gọi là chiếu minh, con ở trong 360 ức kiếp làm Bích-chi Phật nhập Niết-bàn..... sau khi pháp diệt con ở trong chúng sanh giáo hoá mọi người tu pháp Bích-chi Phật, giả sử                 trăm ngàn ức Phật, vì chúng sanh thuyết pháp không tin không thọ, chỉ có thể dùng thân oai nghi pháp Bích-chi Phật, mới có thể độ thoát. những chúng sanh ấyđều cùng chí cầu Bích-chi Phật đạo, vào thời đó không có Bích-chi Phật xuất hiện, các chúng sanh không có nơi nào được chủng thiện căn nhơn duyên, lúc bấy giờ Ta vì chúng sanh giáo hóa nên tự xưng thân Ta là Bích-chi Phật.
[2] T. 24: Tỳ ni mẫu kinh (毘尼母經), quyển 5, tr. 827c12-14. 
[3] T. 9: Đại phương quảng phật hoa nghiêm kinh (Buddhāvataṃsaka-mahāvaipulya-sūtra-大方廣佛華嚴經), quyển 57, tr. 763c27-764a2: Vào lúc bấy giờ, Bồ-tát từ cung trời Đâu xuất giáng sanh, cùng 10 quốc độ Phật vi trần v.v… Bồ-tát đều câu hội, hết thảy đồng hành … Bồ-tát quyến thuộc vây quanh như vậy. 

* Trang 473 *
device

;[1] lại như kinh Pháp-hoa nói: Các Bồ-tát từ đất vọt lên; đều là nội quyến thuộc, đại quyến thuộc.[2]
            Bồ-tát làm quyến thuộc: có đức Phật lấy thuần Bồ-tát làm quyến thuộc, có đức Phật lấy thuần Thanh-văn làm quyến thuộc; có đức Phật lấy cả Bồ-tát và Thanh-văn xen lộn làm quyến thuộc. Cho nên nói chỉ muốn lấy Bồ-tát làm quyến thuộc, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
            Quyến thuộc có ba hạng: Thượng, trung, hạ. Hạ quyến thuộc thuần Thanh-văn; trung quyến thuộc lẫn lộn Thanh-văn Bồ-tát, thượng quyến thuần là Bồ-tát.
            Thanh tịnh báo đáp ơn đại thí: có người nói Bồ-tát chứa nhiều phước nhưng chưa trừ hết phiền não, nên thọ của người tín thí, chưa thể thanh tịnh báo đáp. Phật dạy: Bồ-tát tu hành Bát-nhã ba-la-mật, thấy các pháp đều không, không thể có được, huống gì các kiết sử. Bồ-tát vào trong pháp tánh, không chứng thật tế cho nên có thể thanh tịnh báo đáp phước thí chủ.
            Lại nữa, công đức Bồ-tát rộng lớn, từ khi phát tâm lại đây, muốn thay thế hết thảy chúng sanh chịu mọi sự khổ, muốn đem hết thảy công đức cho hết thảy chúng sanh, vậy sau mới cầu Phật đạo cho mình, nhưng việc ấy không thể được nên mới tự thành Phật để độ hết thảy chúng sanh.
            Lại chí nguyện Bồ-tát không ràng buộc theo vô số kiếp, cũng như thế gian như, pháp tánh, thật tế, hư không trụ lâu, tăng Bồ-tát trụ thế gian làm lợi ích chúng sanh cũng lâu như thế, không có cùng tận. Bồ-tát như vậy mà không thể
 

[1] T. 9: Đại phương quảng phật hoa nghiêm kinh (Buddhāvataṃsaka-mahāvaipulya-sūtra-大方廣佛華嚴經), quyển 57, tr. 763c27-764a2: Vào lúc bấy giờ, Bồ-tát từ cung trời Đâu xuất giáng sanh, cùng 10 quốc độ Phật vi trần v.v… Bồ-tát đều câu hội, hết thảy đồng hành … Bồ-tát quyến thuộc vây quanh như vậy. 
[2] T. 9: Diệu pháp liên hoa kinh (Saddharmapuṇḍarīka-sūtra-妙法蓮華經), quyển 5, An lạc hạnh phẩm 14 (安樂行品 14), tr. 41a29-b6: Các đại Bồ-tát ma-ha-tát vô lượng vô biên a-tăng kỳ kiếp từ đất vọt lên, các ông xưa chưa từng thấy, Ta đối với thế giới ta-bà chứng đắc vô thượng bồ-đề, giáo hóa dạy đạo mà tâm của các Bồ-tát điều phục, khiến phát đạo ý, các Bồ-tát này đang trú ở hư không giới thế giới ta-bà, đối với kinh điển đọc tụng thông lợi, tư duy phân biệt, chánh ức niêm.  

* Trang 474 *
device

thanh tịnh báo đáp phước thí chủ thì ai có thể thanh tịnh báo đáp: Như cha mẹ tuy có kiết sử các ái, vì một đời làm lợi ích cho con nên nhận được sự cúng dường, khiến nó được đại phước, huống gì Bồ-tát không có các kiết sử, mà trụ vô biên đời làm lợi ích chúng sanh mà không thanh tịnh báo đáp?
            Lại nữa, Bồ-tát chỉ có bi tâm, không có Bát-nhã mà còn có thể lợi ích, huống gì tu hành Bát-nhã ba-la-mật.
            Hỏi: Nếu Bồ-tát không còn kiết sử, tại sao còn thọ sanh ở thế gian?
            Đáp: Trước đã nói: Bồ-tát được vô sanh pháp nhẫn, được pháp tánh sanh thân, nơi nơi biến hóa để độ chúng sanh, trang nghiêm thế giới, do công đức ấy nên tuy chưa thành Phật mà có thể thanh tịnh báo đáp phước thí chủ.
            KINH: Lại nữa, Xá-lợi-phất Bồ-tát ma-ha-tát muốn chẳng phá khởi tâm xan lẫn, tâm phá giới, tâm sân nhuế, tâm giải đãi, tâm tán loạn, tâm si, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
            LUẬN: Sáu thứ tâm này xấu làm chướng ngại sáu Ba-la-mật, như khi Bồ-tát tu hành bố thí, nếu có tâm xan lẫn nỗi lên, thời làm cho việc bố thí không thanh tịnh, tức là không thể đem vật tốt thí, hoặc cho vật tốt, không thể cho nhiều, hoặc cho vật ngoại, không thể cho vật trong; hoặc có thể cho vật trong, không thể cho hết; đều do tâm xan lẫn. Bồ-tát tu hành Bát-nhã ba-la-mật biết hết thảy pháp không ta, không của ta, các pháp đều không, như mộng như huyễn, đem thân,

* Trang 475 *
device

đầu, mắt, xương, tủy bố thí như thí cỏ cây. Bồ-tát tuy chưa đắc đạo mà muốn thường không khởi tâm xan lẫn, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
            Các người khác lìa dục đắc đạo, nên không sanh tâm phá giới, Bồ-tát tu hành Bát-nhã ba-la-mật nên không thấy sự phá giới, vì cớ sao? Vì giới là trú xứ của hết thảy công đức thiện, ví như đất là nương tựa của muôn vật, phá giới còn không được các đạo quả khác, huống được vô thượng chánh đẳng bồ-đề. Vì vậy nên không khởi tâm phá giới. Lại nghĩ rằng pháp của Bồ-tát là an lạc chúng sanh, nếu phá giới là não loạn tất cả, vì vậy Bồ-tát còn không khởi tâm phá giới huống gì phá giới.
            Hàng tiểu thừa và phàm phu còn không nên khởi tâm tức giận huống gì Bồ-tát phát tâm vô thượng chánh đẳng bồ-đề; thân là đồ chứa khổ, pháp phải tự chịu khổ não, ví như người phạm tội, tự chịu hình giết, tự làm tự chịu, không nên ốn người. Chỉ nên tự thủ hộ tâm đừng cho khởi niệm ác, ví như người gặp gió mưa, nóng, rét, cũng không nỗi giận. Lại nghĩ rằng: Bồ-tát cầu Phật đạo, lấy tâm đại bi làm gốc, nếu ôm lòng sân hận, thời tiêu mất chí nguyện. Người sân hận còn không được cái vui thế gian, huống gì cái vui của đạo. Người sân hận tự không được vui, làm sao có thể đem vui cho người.
            Người giải đãi còn không thể thành được việc tốt thế gian, huống gì vô thượng chánh đẳng bồ-đề, ví như dùi cây lấy lửa mà thường nghĩ, thời không hẹn đượckhông thể cho vật trong; hoặc có thể cho vật trong, không thể cho hết; đều do tâm xan lẫn. Bồ-tát tu hành Bát-nhã ba-la-mật biết hết thảy pháp không ta, không của ta, các pháp đều không, như mộng như huyễn, đem thân,

* Trang 476 *
device

được lúc có lửa; tâm tán loạn, ví như đèn giữa gió, đèn tuy có sáng mà không thể chiếu vật. Trí tuệ ở giữa loạn tâm cũng như vậy. Trí tuệ là cội gốc của hết thảy thiện pháp, nếu muốn thành tựu trí ấy, trước phải nhiếp tâm, vậy sau mới thành được,ví như người say cuồng, việc tự lợi, lợi tha, tốt xấu đều không hay biết, tâm tán loạn cũng như vậy. Việc tốt thế gian còn không thể biết rõ, huống gì pháp xuất thế gian.
            Tâm người ngu si, tất cả việc thành bại, đều không biết nổi, huống gì nghĩa lý vi diệu sâu xa, ví như người không có mắt, hoặc sa hầm hố, hoặc vào đường quấy. Người vô trí cũng lại như vậy. Không con mắt trí tuệ nên thọ nhận say đắm tà pháp, không lảnh thọ chánh kiến. Người như vậy, việc gần thế gian còn không thành được, huống gì Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
            Bồ-tát do lực tu hành Bát-nhã ba-la-mật nên có thể chướng ngăn sáu tệ ấy, và thanh tịnh sáu Ba-la-mật. Do vậy nên nói nếu muốn không khởi lên sáu tệ, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
            KINH: Lại nữa, này Xá-lợi-phất, Bồ-tát ma-ha-tát muốn khiến hết thảy chúng sanh, an lập nơi chỗ bố thí, chỗ phước trì giới, chỗ phước tu định, chỗ phước khuyến đạo, muốn khiến chúng sanh an lập nơi chỗ phước tài của, trước giáo pháp, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
            Luận: Hỏi: Thế nào gọi là chỗ phước?
dFragment--> không thể cho vật trong; hoặc có thể cho vật trong, không thể cho hết; đều do tâm xan lẫn. Bồ-tát tu hành Bát-nhã ba-la-mật biết hết thảy pháp không ta, không của ta, các pháp đều không, như mộng như huyễn, đem thân,

* Trang 477 *
device

Đáp: Trong A-tỳ-đàm nói: Phước là nghiệp thân, khẩu, ý hữu lậu thiện.[1] Lại có người nói: Phước là vô phú, vô ký. Vì cớ sao? Vì là quả báo do nghiệp hữu lậu thiện nên được vô phú vô ký. Phước là quả báo, cũng gọi là phước. Như người đời thành được đại sự, làm nên nhiều việc, gọi đó là người phước đức. Phước này lược nói có ba thứ: Là bố thí, trì giới, tu định.
            Thế nào là bố thí? Có người đem y phục, đồ nằm, uống ăn, hoa hương, chuỗi ngọc v.v... cho người, ấy gọi là bố thí.
            Hỏi: Vật ẩm thực v.v... là bố thí hay còn có sự bố thí?
Đáp: Vật ẩm thực chẳng phải bố thí, mà khi lấy vật ẩm thực v.v... đem cho, trong tâm phát sanh một pháp gọi xả, ngược lại với tâm xan lẫn, ấy gọi là phước đức bố thí, nó hoặc là hữu lậu, hoặc là vô lậu, thường là tâm số pháp thiện, tương ưng với tâm, theo tâm hành, cùng với tâm sanh, không sắc không hình, hay làm, duyên, tương ưng với nghiệp, theo nghiệp thành, cùng nghiệp sanh, chẳng phải quả báo của nghiệp trước, được tu, hành tu, tuệ chứng, thân chứng, người phàm phu được và Thánh nhân được.
            Có người nói: Tư tương ưng với pháp xả, ấy gọi là phước đức bố thí, vì cớ sao? Vì nghiệp hay sanh quả báo. Từ tức là nghiệp, thân miệng không gọi là nghiệp, từ tư tâm sở sanh, nên được gọi là nghiệp.
            Bố thí có hai thứ: 1. Tịnh, 2. Bất tịnh. Bất tịnh là cho thẳng mà thôi. Hoặc sợ mất của nên cho; hoặc sợ trách mắng nên cho; hoặc không cần dùng nên đem cho; hoặc
 

[1] T. 28: Tôn bà tu mật bồ-tát sở tập luận (尊婆須蜜菩薩所集論), quyển 10, tr. 803b21-22: Có phước có ác là: phước, là thiện hữu lậu hành ấm; ác là bất thiện; T. 26: Tập dị môn túc luận (集異門足論), quyển 5, tr. 385c21-23: Phước: nghĩa là thí đầy đủ hành thân luật nghi, ngữ luật nghi, mạng thanh tịnh, ấy gọi là phước. Nghiệp: nghĩa là thí đầy đủ hành các tư đẳng, tư hiện đẳng, tư dĩ tư, tư loại làm tâm ý nghiệp, ấy gọi là nghiệp.   
class=MsoFootnoteReference>[2]T. 24: Tỳ ni mẫu kinh (毘尼母經), quyển 5, tr. 827c12-14. 
[3] T. 9: Đại phương quảng phật hoa nghiêm kinh (Buddhāvataṃsaka-mahāvaipulya-sūtra-大方廣佛華嚴經), quyển 57, tr. 763c27-764a2: Vào lúc bấy giờ, Bồ-tát từ cung trời Đâu xuất giáng sanh, cùng 10 quốc độ Phật vi trần v.v… Bồ-tát đều câu hội, hết thảy đồng hành … Bồ-tát quyến thuộc vây quanh như vậy. 

* Trang 478 *
device

thân ái nên cho; hoặc vì cầu thế nên cho; vì cho nên đưa đến nhiều thế lực; hoặc chết gần kề nên cho; hoặc cầu tiếng khen nên cho; hoặc cầu ngang danh kẻ quý thắng nên cho; hoặc đố kỵ ganh ghét nên cho; hoặc kiêu mạn nên cho; nghĩ rằng tiểu nhân ngu hèn còn cho được, huống ta là đại nhân quý trọng, làm sao không cho; hoặc vì chú nguyện phước đức nên cho; hoặc cầu tốt trừ xấu nên cho; hoặc tìm vào bạn đảng nên cho; hoặc không nhất tâm, không cung kỉnh, khinh hèn người thọ nhận mà cho. Các nhân duyên như vậy, là vì đời nay nên cho. Vì ngược lại với tịnh, nên gọi là bất tịnh.
            Tịnh thí là như trong Kinh nói đối tự tâm nên cho, trang nghiêm ý nên cho, vì được đệ nhất lợi nên cho, sanh tâm thanh tịnh hay phân biệt và giúp Niết-bàn nên cho, ví như hoa tươi chưa héo, sắc đẹp lại thơm, tịnh tâm bố thí cũng như vậy. Như nói chưa thiên, bố thí tâm không thanh tịnh, thời ánh sáng cung điện mỏng ít, nếu bố thí với tâm thanh tịnh thời ánh sáng cung điện thêm rộng lớn. Nghiệp bố thí ấy tuy quá khứ cho đến ngàn vạn đời không mất, thí như bằng khống giao ước.
            Hỏi: Phước bố thí ấy làm sao tăng trưởng?
            Đáp: Đáng thời bố thí được, nên được phước tăng trưởng. Như Kinh nói: Thí lúc đói khát, được phước tăng nhiều, thí cho người đi xa, người qua đường hiểm, đường vắng hoặc thường bố thí không dứt, hoặc thường nhớ bố thí, nên bố thí được tăng trưởng. Như trên nói về niệm xả trong sáu niệm. Hoặc

* Trang 479 *
device

thí lớn nên được phước nhiều, hoặc thí cho người tốt, hoặc thí cho Phật, hoặc người thí người thọ đều thanh tịnh, hoặc tự lực làm ra của thí, hoặc tùy của có nhiều ít có thể thí hết, hoặc giao hẹn đem vật thí, hoặc đem ruộng vườn, người giúp việc thí v.v... bố thí như vậy chỉ có Bồ-tát lấy thân, tâm mới thật hành nổi. Như Bồ-tát Vỹ-la-ma trong mười hai năm bố thí, đã nghiên sức bát bảy báu, bò sữa, thể nữ, mỗi thứ tám vạn bốn ngàn, và các vật ẩm thực khác không kể số.
            Lại như Bồ-tát Tu-đề-lệ-noa (Tu-đại-noa)[1] đem voi trắng thiện thắng thí cho kẻ oan gia, rồi vào ở núi sâu, đem hai đứa con yêu quý thí cho Bà-la-môn Thập-nhị-xú, lại đem vợ và con mắt thí cho Bà-la-môn hóa thân của trời Đế-thích. Bấy giờ đất rung động mạnh, trời sấm chớp, ở giữa hư không mưa hoa.
            Lại như Tát-bà-đạt-đa vương[2] tự trói thân thí cho Bà-la-môn.
            Lại như vua Tỳ-thi (Śibi)[3] vì một chim bồ câu mà tự đem thịt mình đổi mạng cho nó.
            Lại như Bồ-tát từng làm thân thỏ, tự nướng thịt mình thí cho tiên nhân.
            Các việc như vậy, trong kinh Bồ-tát bổn sanh[4] nói đủ.
            Lại có người Thanh-văn bố thí, như Tỳ-kheo-ni Tu-di-đà, cùng với hai bạn đồng học làm tinh-xá cho Ca-na-già Mâu-ni. Mà được làm chuyển luân Thánh vương và phước vua trời trong vô lượng ngàn vạn đời.
 

[1] T. 3, Thái tử tu đại noa kinh (太子須大拏經), quyển 1, tr.418c21-424a23.
[2] T. 4: Đại trang nghiêm kinh luận (Sūtrālaṃkāra-śāstra-大莊嚴經論), quyển 15, tr.339b-340a; T. 4: Tạp thí dụ kinh (雜譬喻經), kinh số 34, tr. 530a-c; T. 3: Lục độ tập kinh (六度集經), quyển 1, kinh số 10, tr.5a-6a.
[3] T. 3: Lục độ tập kinh (六度集經), quyển 1, tr.1b23-c2; T. 4, Đại trang nghiêm luận kinh (Sūtrālaṃkāra-śāstra-大莊嚴論經), quyển 12, tr.322c3-11; T. 4: Hiền ngu kinh (賢愚經), quyển 1, tr.351c16-352a6; T. 4: Phật bản hành kinh (佛本行經), quyển 5, tr.89b16-19; T. 11: Đại bảo tích kinh (Ratnakūṭa-sūtra大寶積經), quyển 102, thiện trụ ý thiên tử hội (善住意天子會), tr.574a16-18; T. 3: Sư tử tố đà bà vương đoạn nhục kinh (師子素馱娑王斷肉經), quyển 1, tr.392c25-393a7. 
[4] T. 3: Bồ tát bản duyên kinh (菩薩本緣經), quyển 3, tr.64c25-66c1; T. 12: Phật thuyết hộ quốc tôn giả sở vấn đại thừa kinh (佛說護國尊者所問大乘經), quyển 2, tr.6b13-14; T. 4: Tạp bảo tạng kinh (雜寶藏經), quyển 2, tr.454b21-c10; T. 3: Sanh kinh (生經), quyển 4, Phật thuyết thố vương (佛說兔王), kinh 31, tr.94b3-c13; T. 3: Bồ tát bản sanh man luận (菩薩本生鬘論), quyển 2, Thố vương xả thân cúng dường phạm chí duyên khởi đệ lục (兔王捨身供養梵志緣起第六), tr.337b6-338b4; T. 11: Đại bảo tích kinh (大寶積經), quyển 80, hộ quốc bồ-tát hội (護國菩薩會), tr.462c16-17.
H-TW>ánh ức niêm.  

* Trang 480 *
device

Lại như Bà-la-môn Thi-bà[1] đem một bát cao sữa thí Tăng, mà đời đời thọ vui, nay được thân A-la-hán, thọ vui nhất trong những người thọ vui.
            Lại như phu nhân Mạt-lợi,[2] cúng dường tôn-giả Tu-bồ-đề, nên đời nay quả báo được làm vợ vua Ba-thi-na-thi (Ba-tư-nặc).
            Lại như Thi-bà cúng dường ông Chiên-diên nên quả báo đời nay được làm vợ vua Chiên-đà-ba-châu-đà.
            Lại như cư-sĩ Uất-già-đà cúng dường Xá-lợi-phất và năm trăm A-la-hán ngay trong ngày được quả báo năm trăm khách buôn được đồ ăn thừa kia, mỗi người đều lấy hạt châu anh lạc cho lại, bổng được giàu to, bèn gọi là Tốt-uất-già-đà.
            Bố thí như như được báo ngay trong đời nay. Nên biết luận nghị về bố thí nói không hết được.
            Chỗ phước trì giới: Phật nói về phước của năm giới.
            Hỏi: Thế nào là tướng trọng tội sát?
            Đáp: Biết đó là chúng sanh mà cố ý cướp mạng sống, mắc tội sát. Chẳng phải không cố ý, tâm khối trá an ổn, mắc tội sát, chẳng phải tâm tán loạn si cuồng; cướp mạng sống mắc tội sát, chẳng phải chỗ đã thương, chết tội mắc tội sát, chẳng phải chưa chết; thân, nghiệp làm là tội sát, chẳng phải miệng bảo: Thân làm là tội sát, chẳng phải chỉ tâm sanh miệng ác. Các tội như vậy, ngưng không làm, là tướng trạng thiện của giới thứ nhất.
 

[1] T. 2: Tăng nhất a-hàm kinh (Ekottarikāgama增壹阿含經), quyển 25, ngũ vương phẩm 33, tr. 685c27-686c19.
[2] T. 32: Thành thật luận (Satyasiddhi-śāstra-成實論), quyển 8, tr.297c17-18: Như Mạt-lợi phu nhân lấy phần thức ăn của mình cúng dường Phật, nguyện hiện thế làm phu nhân của vua. (如末利夫人以自食分施佛,願現世為王夫人)
otnote'>[3]T. 9: Đại phương quảng phật hoa nghiêm kinh (Buddhāvataṃsaka-mahāvaipulya-sūtra-大方廣佛華嚴經), quyển 57, tr. 763c27-764a2: Vào lúc bấy giờ, Bồ-tát từ cung trời Đâu xuất giáng sanh, cùng 10 quốc độ Phật vi trần v.v… Bồ-tát đều câu hội, hết thảy đồng hành … Bồ-tát quyến thuộc vây quanh như vậy. 

* Trang 481 *
device

            Hoặc có người nói: Đó là vô phú vô ký; hoặc hệ thuộc cõi Dục, hoặc không hệ thuộc, hoặc chẳng phải tâm, chẳng phải tâm số pháp, chẳng phải tâm tương ưng, chẳng phải theo tâm hành, hoặc cùng với tâm sanh, hoặc không cùng tâm sanh, chẳng phải tương ưng với nghiệp, chẳng phải theo nghiệp hành, hoặc cùng nghiệp sanh, hoặc chẳng cùng nghiệp sanh, chẳng phải quả báo của nghiệp trước, được tu, hành tu, thân chứng, tuệ chứng, hoặc tư duy đoạn, hoặc chẳng đoạn, khi xa lìa tham dục của cõi Dục được đoạn biến trừ, phàm phu và Thánh nhân cùng có. Ấy gọi là tướng trạng giới không sát sanh. Các giới khác cũng như vậy, tùy nghĩa mà phân biệt.
            Luận nghị tán thán các giới, như đã nói trong mục Thi-la ba-la-mật.
            Chỗ phước tu định: Tuy trong Kinh nói tu từ là phước tu định, cũng nói thiền định, thiền định có thể sanh quả báo, tổng quát gọi là phước do tu định. Vì ở cõi Dục sân nhiều tán loạn nhiều nên trước nói từ tâm là phước do ta định. Được phương tiện từ, nguyện cho chúng sanh được vui, sau thật sự thấy chúng sanh thọ vui, pháp tương ưng với tâm ấy, gọi là pháp từ. Pháp ấy hoặc hệ thuộc cõi Sắc, hoặc không hệ thuộc, ấy là chơn từ; còn phương tiện từ tâm hệ thuộc cõi Dục, thường theo tâm hành, theo tâm sanh, vô hình vô đối hay duyên pháp, chẳng phải nghiệp, tương ưng với nghiệp mà theo nghiệp hành, cùng nghiệp sanh, chẳng phải quả báo của nghiệp trước đắc tu, hành tu, thân chứng, tuệ chứng, hoặc tư duy

* Trang 482 *
device

duy đoạn, hoặc chẳng đoạn. Xa lìa tham dục của cõi Sắc được đoạn biến tri có giác có quán, cũng không giác có quán, cũng là không giác không quán, hoặc có mừng hoặc không có mừng, hoặc có hơi thở hoặc không có hơi thở, phàm phu và Thánh nhân cũng được. Hoặc tương ưng với thọ khổ, hoặc tương ưng với thọ không khổ, không vui, trước duyên được tướng liễu giải, sau duyên thật nghĩa. Ở trong bốn thiền căn bản, hoặc quá bốn thiền. Nương bốn thiền mà được thì có sức bền chắc.
            Từ nên gọi là thân ái, vì không ốn không tranh nên gọi là thân ái. Hay duyên vô lượng chúng sanh, nên gọi là vô lượng. Hay lợi ích chúng sanh, hay lìa dục nên gọi là phạm hạnh. Các luận nghị khác về từ tâm, như đã nói trong chương Bốn vô lượng tâm.
            Hỏi: Trong phước do tu định cớ sao Phật chỉ từ tâm mà không nói các tâm khác?
            Đáp: Trong bốn vô lượng, từ tâm vô lượng hay sanh phước đức lớn. Bi tâm vì ưu sầu nên bỏ phước đức, hỷ tâm vì tự nhớ công đức nên phước đức chẳng sân, xả tâm vì phóng xả nên phước cũng ít.
            * Lại nữa, Phật dạy từ tâm có năm điều lợi, không nói tâm khác. Những gì là năm? 1. Đạo không làm thương. 2. Độc không làm hại. 3. Lửa không làm cháy. 4. Phước không chìm. 5. Hết thảy chúng sanh sân nộ ác độc thảy đều hoan hỷ.
            Bi tâm v.v... không các việc như vậy, nên chỉ nói phước của tu định là từ. Các tâm khác đi theo. Và các định hữu lậu

* Trang 483 *
device

có thể sanh quả báo.
            Chỗ phước khuyến đạo: Nếu Tỳ-kheo không thể tọa thiền, không thể tụng kinh, mà giáo hóa khuyến đạo người tu lập phước đức. Hoặc có Tỳ-kheo hay tọa thiền, tụng kinh thấy các Tỳ-kheo áo cơm thiếu thốn, đem sức dẫn dắt, và tu hành khuyến đạo, và các Bồ-tát thương xót chúng sanh nên lấy nhân duyên phước đức để khuyến hóa họ.
            Lại người xuất gia, nếu cầu tài của, đối với giới bị mất cho nên lấy nhân duyên để khuyến đạo. Phước về tài của là y phục, ẩm thực, đồ nằm, thuốc thang, vàng bạc, xe ngựa, ruộng nhà.
            Hỏi: Trên nói chỗ phước do bố thí, ở đây nói phước về tài của, có gì sai khác?
            Đáp: Bố thí, là tổng quát hết thảy thí. Tài thí, pháp thí, tục thí, đạo thí. Nay muốn phân biệt pháp thí, tài thí.
            Pháp thí như lấy tâm đại từ, bắt đầu chuyển pháp luân, vô lượng chúng sanh đắc đạo, sau Xá-lợi-phất theo Phật chuyển pháp luân, các Thánh nhân khắc tủy chẳng phải chuyển pháp luân, cũng vì chúng sanh thuyết pháp, làm cho họ đắc đạo, cũng gọi là pháp thí.
            Lại có Bồ-tát Biến-cát, Quán-thế-âm, Đắc-đại-thế, Văn-thù-sư-lợi, Bồ-tát Di-lặc v.v... dùng hai lực thần thông là quả báo thần thông, tu đắc thần thông, trụ trong đó lấy các nhân duyên về phước đức, lực phương tiện, hào quang, thần túc v.v... để khai độ chúng sanh, cũng gọi là pháp thí.

* Trang 484 *
device

            Các Bích-chi-phật bay lên giữa hư không, nói một bài kệ dẫn đạo chúng sanh, khiến gieo trồng thiện căn, cũng gọi là pháp thí.
            Lại đệ tử Phật chưa đắc Thánh đạo, ngồi thiền, tụng kinh, không phá hoại pháp tướng, giáo hóa đệ tử, đều gọi là pháp thí.
            Các thứ như vậy, gọi là tướng trạng của pháp thí. Vì vậy nên nói: Muốn an lập chúng sanh nơi sáu phước thí, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
            KINH: Lại nữa, này Xá-lợi-phất, Bồ-tát ma-ha-tát muốn được năm mắt, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
            LUẬN: Năm mắt (pañca-cakṣūṃṣi) là nhục nhãn (māṃsa-cakṣus), thiên mắt (divya-cakṣus), tuệ nhãn (prajđā-cakṣus), pháp nhãn (dharma-cakṣus), Phật nhãn (buddha-cakṣus) (Mười ba chữ này nguyên ở trong văn kinh, nay y theo đại chánh tạng đưa vào trong văn luận).
            Nhục nhãn (mắt thịt) thấy gần không thấy xa, thấy trước không thấy sau, thấy ngồi không thấy trong, thấy ngày không thấy đêm, thấy trên không thấy dưới, vì bị chướng ngại như vậy nên cầu thiên nhãn (mắt trời).
            Được thiên nhãn (mắt trời), xa gần đều thấy, trước sau, trong ngồi, ngày đêm, trên dưới đều thấy không chướng ngại. Nhưng mắt trời chỉ thấy vật giả danh do nhân duyên hòa hợp sanh, không thấy được thật tướng là không, vô tướng, vô tác, vô sanh, vô diệt, như trước, giữa, sau cũng như vậy. Vì thật tướng nên cầu tuệ nhãn (mắt tuệ).

* Trang 485 *
device

            Được tuệ nhãn, (mắt tuệ) không thấy chúng sanh, diệt hết tướng một khác, lìa bỏ các chấp trước, không thọ nhận hết thảy pháp, trí tuệ phân biệt tự diệt từ bên trong, ấy gọi là tuệ nhãn. Nhưng tuệ nhãn không thể độ chúng sanh, vì cớ sao? Vì không còn phân biệt, vì vậy nên cầu pháp nhãn (mắt pháp).
            Pháp nhãn (mắt pháp) khiến cho người ấy tu hành pháp ấy, chứng được đạo ấy, biết hết thảy chúng sanh và dùng các môn phương tiện khiến cho họ được chứng đạo. Nhưng pháp nhãn không thể biết khắp đạo phương tiện độ sanh, vì vậy nên cầu Phật nhãn (mắt Phật).
            Phật nhãn (mắt Phật) không việc gì không biết, thấy hết tất cả sự che kín, việc dối người khác rất xa, đối với Phật rất gần, đối với người khác tối tăm, đối với Phật sáng tỏ, đối với người khác nghi ngờ, đối với Phật quyết định, đối với người khác vi tế, đối với Phật thô thiển, đối với người khác sâu, đối với Phật rất cạn, Phật nhãn không gì không nghe, không gì không thấy, không gì không biết, không việc gì khó, không suy nghĩ gì, đối với mọi pháp, Phật nhãn thường soi sáng, nghĩa năm mắt, phần sau sẽ nói rộng.[1]
            KINH: Bồ-tát ma-ha-tát muốn dùng thiên nhãn thấy chư Phật trong mười phương thế giới nhiều như cát sông hằng, muốn dùng thiên nhĩ nghe mười phương chư Phật thuyết pháp, muốn biết tâm chư Phật, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
            LUẬN: Đúng nghĩa thì thiên nhãn thấy được không quá
 

[1] T. 8: Ma-ha bát-nhã ba-la-mật kinh (mahāprajñāpāramitā-摩訶般若波羅蜜經), quyển 2, vãng sanh phẩm đệ 4 (往生品第四), tr.227b10-228b1. 

* Trang 486 *
device

ba ngàn đại thiên thế giới, nay do lực Bát-nhã ba-la-mật nên thấy chư Phật trong mười phương thế giới nhiều như cát sông hằng, vì cớ sao? Vì đối với Bát-nhã ba-la-mật, thì không gần không xa, không có gì chướng ngại.
            Hỏi: Như kinh Ban-châu nói:[1] Do lực Ban-châu Tam-muội nên tuy chưa được thiên nhãn vẫn thấy được chư Phật hiện tại trong mười phương, với ở đây Bồ-tát dùng thiên nhãn thấy mười phương chư Phật có gì khác nhau?
            Đáp: Thiên nhãn này thuộc vô phú vô ký, Ban-châu Tam-muội, người lìa dục, người chưa lìa dục đều được, thiên nhãn chỉ có người lìa dục có được. Ban-châu Tam-muội, nhớ tưởng phân biệt, thường tập cho nên thấy, còn thiên nhãn tu thần thông được con mắt sắc trần do bốn đại của cõi Sắc tạo ra, thấy bốn phía khắp sáng, ấy là khác Ban-châu Tam-muội. Công năng của thiên nhãn dễ, ví như mặt trời mọc, thấy sắc không khó, công năng của Tam-muội khó, ví ban đêm đốt đèn, thấy sắc không dễ, thiên nhĩ (tai trời) cũng như vậy.
            Biết tâm chư Phật: Hỏi: Như ở thượng địa mà độn căn không biết được tâm lợi hạ địa; Bồ-tát còn không biết được tâm một đức Phật, huống gì biết được tâm chư Phật trong mười phương nhiều như cát sông hằng?
            Đáp: Do thần lực của Phật làm cho Bồ-tát biết, như Kinh nói hết thảy không ai được tâm Phật, nếu Phật dùng thần lực làm cho biết, thì cho đến côn trùng cũng biết được. Vì vậy nên biết, Phật dùng thần lực làm cho Bồ-tát biết tâm Phật.
 

[1] T. 13: Ban châu tam muội kinh (pratyutpannasamādhi-般舟三昧經), quyển thượng, hành phẩm đệ nhị, tr.905a23-27. 

* Trang 487 *
device

            Lại nữa, Bát-nhã ba-la-mật, không có tướng ngăn ngại, thô tế, sâu cạn, ngu Thánh đều không sai khác. Tâm chư Phật như, tâm Bồ-tát như, nhất như không sai khác. Bồ-tát theo “Như” ấy nên biết được tâm chư Phật.
            Lại nữa, việc khó hiếm có, không thể biết mà biết, vì vậy nên nói: Muốn được như vậy nên học Bát-nhã ba-la-mật.
            KINH: Muốn nghe mười phương chư Phật thuyết pháp, nghe rồi cho đến khi chứng được Vô thượng chánh đẳng bồ-đề vẫn không quên, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
            LUẬN: Hỏi: Pháp của một đức Phật nói còn khó ghi nhớ, huống gì pháp của vô lượng chư Phật nói mà muốn ghi nhớ không quên?
            Đáp: Bồ-tát do lực của năng trì Đà-la-ni nên thọ lảnh được. Do lực của Đà-la-ni ức niệm bền chắc nên không quên.
            Lại nữa, trong đây nói lực của Bát-nhã ba-la-mật, rốt ráo thanh tịnh không dính mắc, ví như biển lớn hàm thọ các dòng, giữ mãi không quên.
            Lại nữa, Bát-nhã ba-la-mật không thể ví dụ như hư không. Như lúc ngọn lửa kiếp tận đối sạch, mưa lớn đầy nhẩy, trận mưa ấy trừ hư không ra không còn chỗ nào dung chứa. Mưa pháp của chư Phật mười phương, từ miệng Phật tuôn ra, từ Bồ-tát tu hành Bát-nhã ba-la-mật, không còn có ai lãnh

* Trang 488 *
device

thọ được. Vì vậy nên nói: Muốn nghe pháp của mười phương chư Phật nói, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
            KINH: Lại nữa, này Xá-lợi-phất, Bồ-tát ma-ha-tát muốn thấy thế giới của chư Phật quá khứ, vị lai và thấy thế giới của mười phương chư Phật hiện tại, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
            LUẬN: Hỏi: Nếu thấy mười phương Phật là đã thấy thế giới, nay cớ sao còn nói muốn thấy thế giới?
            Đáp: Bồ-tát khi chưa thiền định vào sâu, nếu thấy mười phương thế giới, núi sông, cây cỏ, thời tâm tán loạn, nên chỉ xem thấy chư Phật, như đã nói trong chương nói về niệm Phật. Hành giả chỉ xem chư Phật, không xem đất nước, núi sông, cây cỏ, khi được lực thiền định thì tùy ý xem rộng.
            Lại nữa, cõi Phật thanh tịnh khó thấy, cho nên nói muốn thế giới của chư Phật, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
            Lại một đức Phật có vô lượng trăm ngàn thứ thế giới, như trước nói có thế giới nghiêm tịnh, có thế giới không nghiêm tịnh, có thế giới xen tạp, có thế giới rốt ráo thanh tịnh khó thấy, do lực Bát-nhã ba-la-mật mà thấy được cả, ví như thiên tử khi ngồi ở điện nghe chính sự thời, người ngồi thấy rõ mà người ở thâm cung nội điện không thấy được.
            Hỏi: Thế giới hiện tại trong mười phương có thể thấy, còn thế giới của chư Phật quá khứ, vị lai làm sao thấy?
            Đáp: Bồ-tát có thứ Tam-muội thấy quá khứ vị lai, khi
 

[1] T. 13: Ban châu tam muội kinh (pratyutpannasamādhi-般舟三昧經), quyển thượng, hành phẩm đệ nhị, tr.905a23-27. 

* Trang 489 *
device

vào Tam-muội ấy thì thấy việc quá khứ vị lai, như việc thấy trong mộng.
            Lại nữa, Bồ-tát có thứ Tam-muội không diệt trừ, khi vào Tam-muội ấy, không thấy chư Phật có diệt mất.
            Hỏi: Hai pháp ấy chẳng phải mắt làm sao thấy được?
            Đáp: Đây chính là trí tuệ giả gọi là mắt.
            Lại nữa, như trong kinh Chuyển-pháp-luân, đối với bốn đế được nhẫn, trí, minh, giác.[1]
            Lại nữa, Bồ-tát thấy thế giới Phật hiện tại trong mười phương, chắc chắn biết thế giới chư Phật trong quá khứ vị lai cũng như vậy, vì cớ sao? Vì hết thảy chư Phật công đức đồng nhau, việc ấy như trước đã nói.[2]
            Lại nữa, trong Bát-nhã ba-la-mật, giống như hiện tại, quá khứ, vị lai bình đẳng không khác, vì một như, một pháp tánh. Vì thế nên không nên nạn.
            KINH: Lại nữa, Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát muốn nghe mười hai bộ kinh[3] mười phương chư Phật nói là Tu-đa-la, Kỳ-dạ, Thọ-ký, Già-đà, Ưu-đà-na, Nhân-duyên, A-ba-đa-na, Như-thị-ngữ, Bổn-sanh, Phương-quảng, Vị-tằng-hữu, Luận-nghị, mà hàng Thanh-văn nghe cũng chẳng được nghe, đều muốn đọc tụng thọ trì tất cả, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
            LUẬN: Trước nói muốn nghe hết thảy pháp của mười phương chư Phật thuyết, nên học Bát-nhã ba-la-mật. Pháp chư
 

[1] T. 27: Đại tỳ-bà-sa  luận (Abhidharma-mahāvibhāsā-śāstra-大毘婆沙論), quyển 79, tr.411a18-26: Như khế kinh nói, Phật bảo các tỳ-kheo: Ta đối với tứ thánh đế 12 hành tướng, nhãn sanh, trí, minh, giác sanh. Hỏi: 12 chuyển 48 hành tướng, vì sao chỉ nói 3 chuyển 12 hành tướng? Đáp: tuy quán mỗi mỗi đế đều có 3 chuyển 12 hành tướng, mà bất quá 3 chuyển 12 hành tướng nên nói như vậy. như Dự-lưu bảy lần tái sanh dục giới, và bảy thiện xứ cùng hai pháp v.v… Trong đây nhãn là pháp trí nhẫn. Trí là pháp trí. Minh là loại trí nhẫn. Giác là loại trí. Lại nữa, nhãn là nghĩa quán kiến, trí là nghĩa quyết đoán, minh là nghĩa chiếu liễu, giác là nghĩa quán sát; T. 2: Tạp a-hàm kinh (Saṃyuktāgama-雜阿含經), quyển 15, kinh số 379, tr.103c13-104c29.
[2] T. 29: A tỳ đạt ma câu xá luận (Abhidharmakośa-śāstra-阿毘達磨俱舍論), quyển 27, tr.141b3-6: Do ba việc nên chư Phật đều đồng đẳng; (1) do tư lương đồng đẳng viên mãn, (2) do pháp thân đồng đẳng thành biện, (3) do tự lợi lợi tha đồng đẳng cứu cánh.   
[3] T. 1: Trường a-hàm kinh (Dīrghāgama-長阿含經), quyển 12, đệ nhị phần thanh tịnh kinh đệ thập tam (第二分清淨經第十三), tr.74b19-24: Đối với 12 bộ kinh tự thân tác chứng, nên rộng lưu bố: quán kinh, kỳ dạ kinh, thọ ký kinh, kệ kinh, pháp cú kinh, tương ưng kinh, bổn duyên kinh, quảng kinh, vị tằng hữu kinh, thí dụ kinh, đại giáo kinh. Hãy khéo thọ trì, quán sát rõ ràng, rộng diễn phân bố.; T. 2: Biệt dịch tạp a-hàm kinh (別譯雜阿含經), quyển 6, kinh số 116, tr.415a29-b3; T. 2, Tăng nhất a-hàm kinh (Ekottarikāgama-增壹阿含經), quyển 46, phóng ngưu phẩm (放牛品), tr.794c28-795a1: Này các tỳ-kheo đối với 12 bộ kinh quyết trạch tu hành. Đó là khế kinh, kỳ dạ, thọ quyết, kệ, nhơn duyên, bổn mạt, phương đẳng, thí dụ, sanh kinh, thuyết, quãng phổ và vị tằng hữu pháp. 

* Trang 490 *
device

Phật thuyết tức là mười hai bộ kinh.
            Trong các Kinh, những lời nói thẳng gọi là Tu-đa-la, đó là bốn bộ A-hàm, và các Kinh Đại thừa, Kinh hai trăm năm mươi giới, ngồi ba tạng ấy cũng có kinh khác, đều gọi là Tu-đa-la (sūtra - khế kinh).
            Các bài kệ trong các Kinh gọi là Kỳ-dạ (Geya - trùng tụng).
            Chúng sanh trong chín đạo là ba thừa và sáu thú được Thọ ký (Vyākaraṇa - ký biệt) rằng: Người ấy trãi bấy nhiêu vô số kiếp sẽ được làm Phật, hoặc ký trãi bấy nhiêu sẽ làm Phật, thọ ký hàng Thanh-văn đời này hoặc đời sau đắc đạo. Thọ ký hàng Bích-chi-phật chỉ đời sau đắc đạo. Thọ ký chúng sanh trong sáu thú (sáu đạo) đời sau chịu báo. pháp của chư Phật khi muốn thọ ký cho chúng sanh trước tiên nên cười, vô lượng hào quang từ bốn cái răng phóng ra, đó là hào quang xanh, vàng, đỏ, trắng, tía v.v... từ hai răng trên phóng ra chiếu ba đường ác, từ hào quang đó diễn nói vô lượng pháp, nói hết thảy pháp tạo tác là vô thường, hết thảy pháp vô ngã, Niết-bàn an ổn. Chúng sanh gặp được hào quang cũng nghe thuyết pháp thân tâm an lạc, được sanh cõi người cõi trời, từ nhân duyên ấy đều được hết khổ. Hào quang từ hai răng dưới phóng ra chiếu lên cõi người cõi trời, cho đến cõi Thiền-hữu-đỉnh, kẻ đui mù, câm ngọng, bệnh cuồng đều được trừ khỏi. Trời Lục-dục và A-tu-la họ vui ngũ dục, gặp hào quang của Phật và nghe tiếng thuyết pháp, đều sanh nhàm chán dục lạc, thân tâm an lạc. Chư thiên ở cõi Sắc, khi thọ cái

* Trang 491 *
device

cái vui thiền định gặp hào quang của chư Phật và nghe tiếng thuyết pháp, cũng sanh nhàm chán, mà đi đến chỗ Phật.
Các hào quang lại đến mười phương chiếu khắp sáu đường làm Phật sự xong, trở lại nhiễu quanh thân Phật bảy vòng rồi. Nếu thọ ký cho địa ngục, thì hào quang từ dưới chân vào, nếu thọ ký cho súc sanh, thì hào quang từ từ đùi chân vào; nếu thọ ký cho ngạ quỷ, thì hào quang từ vế vào; nếu thọ ký cho nhân đạo, thì hào quang từ rún vào; nếu thọ ký cho thiện đạo, thì hào quang từ ngục vào; nếu thọ ký cho Thanh-văn, thì hào quang từ miệng vào; nếu thọ ký Bích-chi-phật thì hào quang từ giữa tướng hai my vào; nếu thọ ký được thành Phật, thì hào quang ấy từ đảnh vào. Nếu muốn thọ ký thời trước tiên hiện tướng ấy, vậy sau các đệ tử như A-nan v.v... phát ra lời hỏi.
            Hết thảy kệ gọi là Kỳ-dạ, sáu câu, ba câu, năm câu, mỗi câu nhiều ít không nhất định, cũng gọi là Kỳ-dạ, cũng gọi là Già-đà (Gāthā - Phúng tụng - Cô khởi).
            Ưu-đà-na (Udāna - Tự thuyết)[1] là có pháp Phật cần phải nói nhưng không có ai hỏi, Phật lược mới cho hỏi, như Phật ở thành Xá-bà-đề, trên nhà Tỳ-xá-khư, đi kinh hành chỗ tối, tự nói Ưu-đà-na, đó là “Vô ngã, vô ngã sở, việc ấy lành thay”. Bấy giờ một Tỳ-kheo chấp tay bạch Phật rằng: Bạch Thế-tôn! Thế nào là vô ngã, vô ngã sở, việc ấy lành thay?[2] Phật bảo Tỳ-kheo, người phàm phu chưa được vô lậu đạo, điên đảo che tâm nên đối với lý vô ngã, vô ngã sở, tâm rất kinh sợ, còn nếu Phật và đệ tử Phật nghe pháp hay thời hoan
 

[1] T. 54: Phiên phạn ngữ (翻梵語), quyển 1, tr.983b17: Ưu-đà-na cũng gọi là âu-đà-na, cũng gọi là ưu-đà-na, dịch vô vấn tự thuyết.; T. 54: Nhất thiết kinh âm nghĩa (一切經音義), quyển 22, tr.442c17: Ưu-đà-na, trung hoa dịch Vô vấn tự thuyết. ( 優陀那(此云: 無問自說).
[2] T. 2: Tạp a-hàm kinh (Saṃyuktāgama-雜阿含經), quyển 3, kinh số 64, tr.16c5-29. 

* Trang 492 *
device

hỷ phụng hành, không điên đảo nên không còn tạo nghiệp trở lại. Điều như vậy, trong Tạp A-hàm nói rộng.[1]
            Lại như trong phẩm, Bát-nhã ba-la-mật,[2] các thiên tử tán thán pháp của Tu-bồ-đề nói rằng: Lành thay! Lành thay! Hy hữu Thế-tôn! Hy hữu Thế-tôn! Ấy gọi là Ưu-đà-na.
            Lại như sau khi Phật Niết-bàn, các đệ tử sao tập những bài kệ thiết yếu, những bài kệ nói về vô thường gom lại thành phẩm Vô thường, cho đến những bài kệ nói về Bà-la-môn gom lại thành phẩm Bà-la-môn, cũng gọi là Ưu-đà-na, sao tập các việc tốt đều gọi là Ưu-đà-na. Như vậy gọi là Ưu-đà-na kinh (cũng gọi là Vô vấn tự thuyết).
            Ni-đà-na (Nidāna - Nhân duyên)[3] là nói nhân duyên chính khởi nói Phật pháp. Vì nhân gì Phật việc ấy. Trong Tu-đa-la, có người hỏi nên Phật nói việc ấy. Trong luật vì có người phạm việc ấy nên Phật kiết giới ấy. Duyên khởi sự của hết thảy lời Phật, đều gọi là Ni-đà-na.[4]
            A-ba-đà-na (Avadāna - Thí dụ)[5] là tương tợ lời nói thô thiển nhu nhuyến của thế gian, như kinh Trường A-la-đà-na[6] trong Trung A-hàm; kinh Đại A-ba-đà-na[7] trong Trường A-hàm; Ức nhĩ A-bà-đà-na, Nhị thập ức A-bà-đà-na ở trong luật; Dục A-ba-đà-na nhất bộ trong kinh Giải-nhị Bách-ngũ Thập-giới, Bồ-tát A-ba-đà-na xuất ra một bộ, như vậy có vô lượng A-ba-đà-na.
            Như thị ngữ (Itivuttaka - Y đế mục đa-già - Bổn-sự) có hai: 1. Là lời kết cú, rằng trước ta hứa nói nay đã nói xong. 2. Là ngồi ba tạng và đại thừa. Còn có kinh tên gọi là Nhất
 

[1] T. 2: Tạp a-hàm kinh (Saṃyuktāgama-雜阿含經), quyển 11, kinh số 273, tr.72c12-16: Này các tỳ-kheo! Chư hành như huyễn, như nhiệm, sát na sanh diệt, không thật đến thật đi. Vì thế cho nên, này các tỳ-kheo! Nên biết các hành là không, thường tư niệm các hành không, thường, hằng,  trú, bất biến dị pháp, không vô ngã, ngã sở. Ví như sĩ phu mắt sáng, tay cầm đèn sáng, đi vào nhà không, quán sát nhà không ấy.; T. 2: Tạp a-hàm kinh (Saṃyuktāgama-雜阿含經), quyển 35, kinh số 928, tr.255b19-24: đức Phật bảo Xá-lợi-phất: nếu có chúng sanh đối với thức thân và cảnh giới bên ngoài hết thảy tướng, vô ngã, ngã sở, ngã mạn, cho đến tâm giải thoát (cetovimutti), tuệ giải thoát (paññāvimutti), hiện pháp tự biết tác chứng cụ túc trú. đối với thức thân và cảnh giới bên ngoài hết thảy tướng, vô ngã, ngã sở, ngã mạn, cho nên tâm Ta giải thoát, tuệ giải thoát, hiện pháp tự biết tác chứng cụ túc trú.; T. 2: Biệt dịch tạp a-hàm kinh (別譯雜阿含經), quyển 1, kinh số 10, tr.376b16-19.
[2] T. 8: Ma-ha bát-nhã ba-la-mật kinh (mahāprajñāpāramitā-摩訶般若波羅蜜經), quyển 14, tr.325c15-19: Các thiên tử tán thán rằng: Lành thay Thế-tôn! Bát-nhã ba-la-mật thâm sâu, chư Phật thường thực hành Bát-nhã ba-la-mật, nhờ thực hành được đắc đạo A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, đã đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, thông đạt hết thảy pháp tướng, hoặc là tướng sắc, hoặc là thọ, tưởng, hành, thức tướng, cho đến hết thảy chủng trí tướng.  
[3] T. 54: Nhất thiết kinh âm nghĩa (一切經音義), quyển 22, tr.442c16: Ni-đà-na Tàu dịch Nhân duyên, có ba loại, nhân thưa thỉnh mà thuyết, nhân phạm mà chế giới và nhân sự mà thuyết pháp.; T. 54: Phiên phạn ngữ (翻梵語), quyển 1, tr.983b23: Ni-đà-na dịch là nhân duyên. (尼陀那(譯曰因緣).
[4] T. 27: Đại tỳ-bà-sa  luận (Abhidharma-mahāvibhāsā-śāstra-大毘婆沙論), quyển 126, tr. 660a13-16: Thế nào là nhân duyên? Nghĩa là trong các kinh gặp các nhân duyên mà thuyết, như nghĩa phẩm v.v… các loại nhân duyên, như tỳ-nại-da nói như vậy, do Thiện-tài-tử v.v.. ban đầu phạm tội nên đức Thế-tôn nhóm các tỳ-kheo chế ra học xứ.
[5] T. 54: Phiên phạn ngữ (翻梵語), quyển 1, tr.983b11: A-ba-đà kinh cũng gọi là a-ba-đà-na, cũng gọi là a-ba-đàn-na. Dịch thí dụ. (阿波陀經(應云:阿波陀那, 亦云: 阿婆檀那. 譯曰: 譬喻).
[6] T. 1: Trung a-hàm kinh (Madhyamāgama-中阿含經), quyển 17, trường thọ vương phẩm (長壽王品), kinh số 71, tr.532c-539b.
[7] T. 1: Trường a-hàm kinh (Dīrghāgama-長阿含), quyển 2, Đại bản kinh (Mahāpadhāna-suttanta-大本經), tr.11b8-11. 

* Trang 493 *
device

Mục-đa-ca,[1] có người nói là Mục-đa-ca. Tên Mục-đa-ca ở cả ba tạng và Đại-thừa. Là thế nào? Như Phật dạy: Vua Tịnh-phạm bắt buộc những người trong dòng họ Thích xuất gia làm đệ tử Phật. Phật chọn năm trăm người có thể đắc đạo, đem đến thành Xá-bà-đề, vì cớ sao? Vì họ chưa lìa dục, nếu ở gần bà con, sợ họ phá giới, nên đem đến thành Xá-bà-đề bảo Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên giáo hóa. Đầu đêm cuối đêm chuyên tinh không ngủ, siêng tu tinh tấn, nên được đạo. Được đạo rồi Phật lại đem họ trở về bản quốc. Phép của chư Phật, khi trở lại bản quốc, cùng với đại hội các thiên chúng ở trong rừng tiên nhân thuộc thành Ca-tỳ-la-bà (Ca-tỳ-la-vệ). Rừng này cách thành Ca-tỳ-la-bà năm mươi dặm, đó là vườn dạo chơi của người họ Thích. Các Tỳ-kheo Thích-tử này khi còn ở thành Xá-bà-đề, đầu đêm, cuối đêm chuyên tinh không ngủ, nên thấy đêm dài; từ trong rừng đi vào thành khất thực, mới biết dặm đường dài xa.[2] Bấy giờ Phật biết tâm họ nhân, nhân có một con sư tử đi đến lễ dưới chân Phật, rồi sang một bên, Phật lấy ba nhân duyên ấy nói kệ rằng:
                        “Không ngủ, đêm dài,
                        Mỏi mệt, đường dài,
                        Ngu, sanh tử dài,
                        Không biết chánh pháp.”[3]
            Phật bảo Tỳ-kheo, khi các người chưa xuất gia, tâm kia phóng dật ngủ nghỉ nhiều nên không biết đêm dài, nay đầu đêm, cuối đêm, chuyên tinh cầu đạo, tỉnh giảm ngủ nghỉ nên
 

[1] T. 54: Phiên phạn ngữ (翻梵語), quyển 1, tr.983b24: Mục-đa-ca kinh dịch là thắng vậy. (目多迦經(譯曰勝也).
[2] T. 4: Soạn tập bách duyên kinh (撰集百緣經), tr.248c14.
[3] T. 4: Xuất diệu kinh (出曜經), quyển 2, vô thường phẩm (無常品), tr.616c17-25. 

* Trang 494 *
device

thấy đêm dài. Rừng Ca-tỳ-la-bà này trước các ngươi vốn cỡi xe dạo chơi, nên không biết xa, nay các người mặc y ôm bát, đi bộ mệt mỏi, nên biết đường xa. Con sư tử này từ thời đức Phật Tỳ-bà-thi, làm vị thầy Bà-la-môn, thấy Phật thuyết pháp, đi đến chỗ Phật, bấy giờ đại chúng vì đang nghe pháp, không cùng nói năng, sư tử mới nghĩ ác, phát lời ác mắng rằng: Bọn trọc này, khác gì súc sanh không phân biệt người tốt, không biết nói năng. Vì nghiệp ác khẩu ấy, nên từ thời đức Phật Tỳ-bà-thi cho đến nay, chín mươi mốt kiếp, thường ra vào súc sanh. Người ấy lúc đó đáng lẽ đắc đạo, song vì ngu si mà tự làm cho sanh tử lâu dài. Nay ở chỗ Phật, vì tâm thanh tịnh nên sẽ được giải thốt.
            Các Kinh như vậy gọi là xuất nhân duyên. Từ chỗ nào xuất? Từ trong ba tạng và Đại thừa xuất ra, nên gọi là xuất. Sao gọi nhân duyên? Là gốc của ba sự ấy (không ngủ, mỏi mệt, ngu không biết Chánh pháp) nên gọi là Nhân duyên Kinh.
            Kinh Bổn-sanh (Jātaka - Xà-già-đà)[1] là nói về sự tích của Bồ-tát ở quá khứ, như xưa Bồ-tát từng làm con sư tử ở trong rừng, cùng với một con khỉ kết bạn thân, khỉ đem hai con khỉ con gởi cho sư tử, khi ấy có con chim ó, đói đi kiếm mồi, gặp sư tử đang ngủ, cố bắt khỉ con đem đi, đậu ở trên cây, sư tử tỉnh dậy tìm khỉ con không được, thấy chim ó bắt đem trên cây, nói với chim ó rằng: Ta nhận khỉ gởi hai đứa con, giữ không cẩn thận, để người bắt đem đi, phụ lòng tin của khỉ xin người cho ta. Ta là chúa trong loài thú, ngươi là chúa trong loài chim,
 

[1] T. 13: Đại phương đẳng đại tập kinh (大方等大集經), quyển 11, hải huệ bồ tát phẩm (海慧菩薩品), tr.70a23-b18; T. 53: Kinh luật dị tướng (經律異相), quyển 46, tr.244b16-c9.
;font-family:"CN-Times","serif"'> T. 13: Ban châu tam muội kinh (pratyutpannasamādhi-般舟三昧經), quyển thượng, hành phẩm đệ nhị, tr.905a23-27. 

* Trang 495 *
device

thế lực quý trọng ngang nhau, ngươi nên trả lại.
            Chim ó nói: Ngươi không biết thời, ta nay đang đói, đâu cần luận đồng khác.
            Sư tử biết nói vô ích, tự lấy móng sắc bén móc thịt ở vế đùi mình để đổi lấy khỉ con.
            Lại trong đời quá khứ, nhân dân nhiều người mắc bệnh liệt,[1] nóng da vàng trắng. Bấy giờ Bồ-tát tự bèn biến làm thân cá đỏ, tự lấy thịt bố thí cho người bệnh, để cứu khổ họ.[2]
            Lại xưa Bồ-tát làm thân một con chim, trú ở trong rừng, thấy một người đi vào trong nước sâu, không phải chỗ của người đi, bị lưới của thủy thần bắt giữ theo phép lưới thủy thần bắt giữ không thể nào cỡi được. Chim biết cách cỡi, liền bay đến núi hương lấy một món cỏ thuốc đặt trên lưới kia, giây liền tan hoại, người được thốt khỏi.
            Vô lượng việc đời trước cứu giúp như vậy, ấy gọi là Bản sanh kinh.
            Phương quảng kinh (Vaipulya - Tỳ-phật-lược)[3] gọi là Đại thừa, đó là kinh Bát-nhã ba-la-mật, kinh sáu Ba-la-mật, kinh Hoa-thủ, kinh Pháp-hoa, kinh Phật-bản-khởi-nhân-duyên, kinh Vân, kinh Pháp-vân, kinh Đại-vân, vô lượng vô số các kinh như vậy, vì để chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nên nói là Tỳ-phật-lược.
            Vị-tằng-hữu (Adbhuta-dharma - A-phù-đà-đạt-ma). Như Phật hiện các thần thông, chúng sanh lấy làm lạ cho là việc chưa từng có. Đó là lúc Phật sanh ra thân phóng hào quang
 

[1] T. 4: Soạn tập bách duyên kinh (撰集百緣經), quyển 4, xuất sanh bồ tát phẩm (出生菩薩品), liên hoa vương xả thân tác xích ngư duyên (蓮華王捨身作赤魚緣), tr.217a6-c4.
[2] T. 3: Lục độ tập kinh (六度集經), quyển 1, tr.2a4-8.; T. 3: Bồ tát bản hành kinh (菩薩本行經), quyển 3, tr.119b21-27.; T. 4: Soạn tập bách duyên kinh (撰集百緣經), quyển 4, tr.217b12-14: Hết thảy dân chúng, nhiều người mắc bệnh khổ, rất nhiều người chết, bấy giờ bồ-tát biến làm thân cá đỏ, tự lấy thịt bố thí cho người bệnh, bệnh mới hết, Ta nay muốn bỏ thân này, làm hình cá đỏ, trị bệnh của nhân dân.  
[3] T. 44: Đại thừa nghĩa chương (大乘義章), quyển 1, tr.70a16-b9: Thứ mười gọi là Tỳ-phật-lược kinh, Tàu dịch là Phương quảng. Lý chánh gọi là phương. Nghĩa đầy đủ gọi là quảng. Giáo lý từ nhân duyên này gọi là Phương quảng kinh. Nếu y Tiểu-thừa, chánh gọi là phương, đa gọi là quảng. Thứ mười một gọi là A-phù-đà-đạt-ma. dịch là Vị-tằng-hữu kinh.  

* Trang 496 *
device

lớn, chiếu ba ngàn đại thiên thế giới và u ám; lại chiếu ba ngàn đại thiên thế giới của vô lượng chư Phật trong mười phương. Bấy giờ trước Phật mẫu có ao đẹp thanh tịnh, để tắm cho Bồ-tát, Phạm vương cầm lọng, Đế-thích tắm thân, hai rồng phun nước.
            Lại lúc mới sanh, không cần phò trì mà tự đi bảy bước chỗ dấu chân đi đều có hoa sen, và cất tiếng nói: “Ta là người độ hết thảy chúng sanh khỏi khổ, già, bệnh, chết”. Đất chấn động mạnh, trời mưa các hoa, cây phát âm thanh, trổi kỷ nhạc trời. Vô lượng việc hy hữu như vậy, ấy gọi là kinh Vị-tằng-hữu (Adbhuta-dharma).
            Kinh luận nghị (Upadeśa - Ưu-bà-đề-xá) là đáp các câu hỏi, giải thích lý do. Lại nói rộng các nghĩa như Phật nói bốn đế, thế nào là bốn? Đó là bốn Thánh đế (catvāri-ārya-satyāni). Những gì là bốn? Đó là Khổ, Tập, Diệt, Đạo Thánh đế. Ấy gọi là luận nghị. Thế nào là Khổ thánh đế? Đó là tám khổ, là sanh khổ v.v... Thế nào là sanh khổ? Đó là các chúng sanh nơi chỗ sanh ra chịu khổ. Hỏi đáp như vậy, giải rộng nghĩa kia, ấy gọi là Ưu-bà-đề-xá (luận nghị). Như không Đại thừa Phật dạy sáu Ba-la-mật (ṣaḍ-pāramita). Những gì là sáu? Đó là Đàn Ba-la-mật cho đến Bát-nhã ba-la-mật. Thế nào là Đàn Ba-la-mật? Đàn Ba-la-mật có hai: 1. Đầy đủ. 2. Không đầy đủ. Thế nào là đầy đủ? Bố thí hợp cùng với Bát-nhã ba-la-mật cho đến Bồ-tát Thập trụ thành tựu được, gọi là đầy đủ. Không đầy đủ là Bồ-tát mới phát tâm, chưa được vô sanh pháp nhẫn, chưa hợp cùng với Bát-nhã ba-la-mật. Ấy gọi là không đầy đủ. Cho đến thiền 

* Trang 497 *
device

Ba-la-mật cũng như vậy.
            Bát-nhã ba-la-mật đầy đủ là có năm lực phương tiện lớn, chưa đầy đủ là không có năng lực phương tiện.
            Lại nữa, Phật nói Luận nghi kinh, Đại Ca-chiên-diên (Mahā-kātyāyana) giải thích Khế kinh cho đến trong đời tượng pháp, kẻ phàm phu đúng như pháp mà thuyết, ấy gọi là Ưu-bà-đề-xá.
            Pháp hàng Thanh-văn không nghe được là pháp Phật chỉ nói cho Bồ-tát, không có hàng Thanh-văn nghe.
            Lại nữa, Phật dùng lực thần thông, biến hóa thân vô số khắp mười phương thế giới nhất thừa nói pháp.
            Lại nữa, Phật vì trời Dục giới, trời Sắc giới nói pháp, không có các đệ tử, cho nên không được nghe.
            Hỏi: Các A-la-hán được sáu thông, nếu lúc Phật thuyết pháp, tuy ở trong tại tòa, mà dùng thiên nhĩ, thiên nhãn có thể nghe được thấy được, nếu dùng túc mạng thông, thời biết luôn cả việc quá khứ, cớ sao nói không nghe được?
            Đáp: Chỗ thần thông lực của Thanh-văn không đến kịp, cho nên không nghe được.
            Lại nữa, Phật vì các đại Bồ-tát nói kinh bất khả tư nghì giải thốt, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên ở hai bên Phật mà không nghe được, vì không gieo nhân duyên nghe pháp tu hành Đại thừa, ví như người tọa thiền, khi vào định nhất thiết xứ, có thể quán hết thảy đều là nước, đều là lửa, mà người khác không trông thấy. Như trong kinh Bất Khả Tư
 

[1] T. 13: Đại phương đẳng đại tập kinh (大方等大集經), quyển 11, hải huệ bồ tát phẩm (海慧菩薩品), tr.70a23-b18; T. 53: Kinh luật dị tướng (經律異相), quyển 46, tr.244b16-c9.
;font-family:"CN-Times","serif"'> T. 13: Ban châu tam muội kinh (pratyutpannasamādhi-般舟三昧經), quyển thượng, hành phẩm đệ nhị, tr.905a23-27. 

* Trang 498 *
device

Nghì Giải Thốt nói rộng.[1]
            Muốn thọ trì hết là nghe mà phụng hành là thọ, lâu dài không quên mất là trì.
 
(Hết cuốn 33 theo bản Hán)
 

[1] T. 9, Đại phương quảng phật hoa nghiêm kinh (Buddhāvataṃsaka-mahāvaipulya-sūtra-大方廣佛華嚴經), quyển 44, tr.679c26-680a6: Các công đức không cùng Thanh-văn, bích-chi-phật đồng. Ấy là nhân duyên các đại đệ tử, không thấy, không nghe, không vào, không biết, không giác, không niệm, không thể quán khắp, cũng không sanh ý niệm, vì sao? Vì cảnh giới trí tuệ Bồ-tát này không phải cảnh giới trí tuệ của các Thanh-văn. Vì thế nên các đại đệ tử ở trong tinh xá Kỳ-hoàn không thấy Như-lai tự tại thần lực, cũng không tam-muội thanh tịnh trí nhãn đối với chỗ vi tế thấy các cảnh giới, cũng không pháp môn thần lực cảnh giới, cũng không có các lực công đức thù thắng, cũng không xứ trí, cũng không trí nhãn có thể thấy, nghe, giác, tri và sanh ý niệm, cũng không nhạo thuyết, không thể tán thán, không thể hiển hiện, không thể ban cho, không thể khuyến hóa an lập chúng sanh đối với diệu pháp đó.
family:"CN-Times","serif"'>[1]T. 13: Đại phương đẳng đại tập kinh (大方等大集經), quyển 11, hải huệ bồ tát phẩm (海慧菩薩品), tr.70a23-b18; T. 53: Kinh luật dị tướng (經律異相), quyển 46, tr.244b16-c9.
;font-family:"CN-Times","serif"'> T. 13: Ban châu tam muội kinh (pratyutpannasamādhi-般舟三昧經), quyển thượng, hành phẩm đệ nhị, tr.905a23-27. 

* Trang 499 *
device

Xem Mục Lục

Top Book

Top Book Mp3

Top Music Album

 
© Copyright 2009 - 2018 anphat.org - Chịu trách nhiệm nội dung: Thị Đức bienman0811@yahoo.com - Hỗ trợ kỹ thuật votamthoai@gmail.com