Xem Mục Lục

 LUẬN ĐẠI TRÍ ĐỘ [MAHĀPRAJÑĀPĀRAMITĀ ŚĀSTRA] - Tác giả: NĀGĀRJUNA ( LONG THỌ) - Dịch Phạn ra Hán: CƯU MA LA THẬP - Dịch Hán ra Việt: THÍCH THIỆN SIÊU

  Giải thích Phẩm Tựa Đầu - Chương 34: Giải thích 10 tưởng
CHƯƠNG 34
GIẢI THÍCH: MƯỜI TƯỞNG
            KINH: Mười tưởng[1] là tưởng vô thường, tưởng khổ, tưởng vô ngã, tưởng ăn đồ bất tịnh, tưởng tất cả thế gian không thể vui, tưởng chết, tưởng bất tịnh, tưởng dứt, tưởng lìa dục, tưởng tận.[2]
            LUẬN: Hỏi: Hết thảy pháp hành trì ấy sao có khi gọi là trí (jñāna), có khi gọi là niệm (anusmṛti), có khi gọi là tưởng (saṃjñā)?
            Đáp: Bắt đầu nhóm thiện pháp, vì để không mất nên chỉ gọi là niệm;[3] có thể chuyển tưởng và chuyển tâm nên gọi là tưởng;[4] quyết định biết không còn nghi ngờ, gọi là trí.[5]
            Quán hết thảy pháp hữu vi vô thường, tướng ấy tương ưng với trí tuệ, ấy gọi là vô thường tưởng.
            Hết thảy pháp hữu vi vô thường là vì sanh diệt mới mãi, vì thuộc nhân duyên, vì chứa thân được.[6]
            Lại nữa, khi sanh không chỗ đến, diệt không chỗ đi, cho nên gọi vô thường (anitya).
            Lại nữa, hai thứ thế gian vô thường, nên nói vô
 

[1] T. 27: A-tỳ-đạt-ma đại tỳ bà sa luận (Abhidharma-mahā-vibhāṣa-śāstra-阿毘達磨大毘婆沙論), quyển 166, tr. 836c23-837c27.
[2] T. 5: Đại bát nhã ba la mật đa kinh (Mahā-prajñā-pāramitā-sūtra-大般若波羅蜜多經), quyển 3, tr. 12a20-24; Quyển 37, tr. 204a20-26; Quyển 37, tr. 7c1-4; T. 8: Ma ha bát nhã ba la mật kinh (mahāprajñāpāramitā-摩訶般若波羅蜜經), quyển 1, tr. 219a11-13.
[3] T. 29: A-tỳ-đạt-ma câu xá luận (Abhidharmakośa- 阿毘達磨俱舍論), quyển 4, tr. 19a20-21: Niệm có nghĩa là đối với duyên rõ ràng không quên mất. (smṛtirālambanāsampramoṣaḥ).
[4] T. 29: A-tỳ-đạt-ma câu xá luận (Abhidharmakośa-阿毘達磨俱舍論), quyển 4, tr. 19a18, Tưởng nghĩa là đối với cảnh chấp thủ tướng sai biệt. (saṃjñā saṃjñānaṃ viṣayanimittodgrahaḥ).
[5] T. 29: A-tỳ-đạt-ma câu xá luận (Abhidharmakośa-阿毘達磨俱舍論), quyển 4, tr. 19a20: Tuệ: nghĩa là đối với các pháp có thể giản trạch. (matiḥ prajñā dharmapravicayaḥ).
[6] Xem T. 25: Đại trí độ luận quyển 43.

* Trang 86 *
device

thường, ấy là chúng sanh vô thường và thế giới vô thường, như nói:
            “Đại địa cỏ cây đều tiêu diệt,
            Tu-di biển cả cũng lỡ khô,
            Chỗ ở chư thiên đều cháy hết,
            Bấy giờ thế giới vật gì thường?
            Mười phương Thế-tôn thân sáng đủ,
            Trí tuệ chiếu sáng cũng vô lượng,
            Độ thoát hết thảy các chúng sanh,
            Tiếng tăm lan khắp cả mười phương.
            Ngày nay trống rống đâu còn gì?
            Đâu có người trí không cảm thương.”
            Như vậy các Thánh nhân Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, Tu-bồ-đề v.v..., chuyển luân Thánh vương, các quốc vương, thiên vương thường vui và các trời, bậc Thánh đức Tôn giả đều cũng tận diệt, ngọn lửa sáng lớn bổng bị tắt, thế gian chuyển hoại như đèn giữa gió, như cây ở bở hiểm, như đồ lủng đựng nước, không lâu bị khô trống. Như vậy hết thảy chúng sanh và chỗ ở của chúng sanh, đều vô thường nên gọi là vô thường.
            Hỏi: Bồ-tát vì sao thật hành tưởng vô thường ấy?
            Đáp: Vì chúng sanh đắm theo điên đảo chấp thường, chịu các khổ không khỏi sống chết, hành giả có được tưởng vô thường nên giáo hóa chúng sanh rằng: Các pháp đều vô thường các ngươi chớ đắm theo điên đảo chấp thường, mất

* Trang 87 *
device

thời giờ hành đạo. Pháp thượng diệu của chư Phật là bốn chân đế. Trong bốn đế, khổ đế đứng đầu, trong bốn hành tướng của khổ đế hành tướng vô thường đứng đầu.[1] Do vậy nên Bồ-tát thật hành tưởng vô thường.
            Hỏi: Có người thấy việc vô thường đến, lại càng đắm cứng, như phu nhân bảo nữ của quốc vương từ đất sanh ra, bị quỉ La-sát mười đầu bắt mang đi qua biển cả, vua rất ưu sầu. Bề tôi có trí can ngăn rằng: Trí lực của vua đầy đủ, phu nhân vẫn không sống lâu được, cớ sao ôm lòng ưu sầu? Vua đáp: Ta không lo vợ ta không thể sống lâu được, mà chỉ sợ thời trai tráng dễ qua. Cũng như người ưa hoa ra quả, thấy thời giờ sắp trôi qua bèn càng sanh tâm đắm trước. Như vậy biết vô thường lại sanh các kiết sử chứ sao nói biết vô thường có thể khiến tâm nhàm chán, phá các kiết sử?
            Đáp: Thấy vô thường như vậy, là biết vô thường một phần ít, là không đầy đủ, chẳng khác gì cầm thú thấy vô thường. Vì vậy Phật bảo Xá-lợi-phất hãy đầy đủ tu vô thường tưởng.
            Hỏi: Thế nào là đầy đủ vô thường tưởng?
            Đáp: Quán pháp hữu vi niệm niệm sanh diệt, như gió thổi bụi, như nước chảy trên núi, như ngọn lửa tắt, hết thảy pháp hữu vi không bền chắc, không thể thủ, không thể đắm, như huyển hóa, dối gạt kẻ phàm phu, nhân vô thường ấy mà được vào cửa “Không.” Trong “Không” ấy tất cả đều không thể có được, vô thường cũng không thể có được. Vì cớ sao? Vì trong một niệm tướng sanh, trụ, diệt là không thể có được,
 

[1] T. 29: A-tỳ-đạt-ma câu xá luận (Abhidharmakośa-阿毘達磨俱舍論), quyển 23, tr. 119b15-15: Quán khổ thánh đế tu bốn hành tướng: vô thường, khổ, không, vô ngã (duḥkhaṃ caturbhirākāraiḥ paśyati-anityataḥ, duḥkhataḥ, śūnyataḥ, anātmataś ca.
 


 
 

* Trang 88 *
device

khi sanh không thể có được trụ, diệt, khi trụ không có được sanh, diệt, khi diệt không có được sanh, trụ. Tướng sanh, trụ, diệt tánh nó trái nhau cho nên không. Vì tướng ấy không, cho nên vô thường cũng không.
            Hỏi: Nếu không có vô thường, cớ sao trong khổ đế Phật nói vô thường?
            Đáp: Người phàm phu sanh tà kiến cho thế gian là thường, Phật vì dứt trừ thường kiến ấy nên nói vô thường. Chứ không phải vì vô thường là thật có nên nói.
            Lại nữa, lúc Phật chưa ra đời, người phàm phu chỉ dùng thế tục đạo, ngăn các phiền não, nay muốn nhổ hết gốc rễ phiền não nên nói vô thường.
            Lại nữa, pháp của các ngoại đạo chỉ do thân hình lìa năm dục cho là giải thoát. Phật nói đó là do tà tướng nên bị trói buộc, quán vô thường chánh tướng nên được giải thoát.
            Lại có hai lối quán tướng vô thường: một là hữu dư, hai là vô dư. Như Phật nói hết thảy người vật đều diệt tận chỉ còn lại cái tên, ấy là hữu dư; nếu người vật diệt tận, cái tên cũng diệt, ấy gọi là vô dư.
            Lại có hai lối quán tướng vô thường: Một là thân chết diệt tận, hai là sanh diệt mới mãi.
            Lại nữa, có người nói trì giới là trọng, vì sao? Vì nương giới mà thứ lớp sạch hết lậu. Có người nói: Đa văn là trọng, vì sao? Vì nương trí tuệ nên có chỗ sở đắc.

* Trang 89 *
device

Có người nói: Thiền định là trọng, như Phật nói định có thể đắc đạo. Có người nói: Mười hai hạnh đầu đà là trọng, vì sao? Vì hay làm cho giới hạnh thanh tịnh. Như vậy mỗi mỗi cho sở hành là quý, không còn cần cầu Niết-bàn.
            Phật dạy: “Các công đức ấy đều là phần đưa đến Niết-bàn, còn nếu quán các pháp vô thường ấy mới là chơn đạo đưa đến Niết-bàn.”[1] Do các nhân duyên như vậy, các pháp tuy không mà nói là vô thường tưởng.
            Lại nữa, vô thường tưởng tức là tên khác của Thánh đạo. Phật nói đạo với nhiều tên, hoặc nói là bốn niệm xứ, hoặc nói bốn đế, hoặc nói vô thường tưởng. Như trong Kinh nói: Khéo tu vô thường tưởng, có thể dứt hết thảy dục ái, sắc ái, vô sắc ái, trạo cử, kiêu mạng, vô minh hết sạch, có thể trừ kiết sử ba cõi,[2] do vậy nên gọi là đạo.
            Vô thường tưởng này hoặc hữu lậu-sāsrava, hoặc vô lậu (anāsrava). Chính thức được vô thường là vô lậu, khi mới học vô thường là hữu lậu. Trong pháp Đại thừa, các Bồ-tát có tâm quảng đại, đủ các cách giáo hóa chúng sanh, thì vô thường tưởng ấy cũng hữu lậu cũng vô lậu. Nếu vô lậu thì ở tại chín địa, nếu hữu lậu thì ở tại mười một địa,[3] duyên ba cõi, năm thọ uẩn, tương ưng bốn căn, trừ khổ căn, phàm phu và Thánh nhân đều được. Do các nhân duyên như vậy, nói các công đức của vô thường tưởng.
            Khổ tưởng là hành giả nhớ nghĩ rằng: Hết thảy pháp
 

[1] T. 2: Tạp a hàm kinh (Saṃyuktāgama-雜阿含經), quyển 10, kinh số 270, tr. 70c25-71a2.
[2] T. 2: Tạp a hàm kinh (Saṃyuktāgama-雜阿含經), quyển 10, tr. 70c2-71a4: Khéo tu vô thường tưởng, có thể đoạn tận hết thảy dục ái, sắc ái, vô sắc ái, traọ cử, mạn, vô minh, có thể trừ kết sử trong ba cõi.
[3] T. 27: A-tỳ-đạt-ma đại tỳ bà sa luận (阿毘達磨大毘婆沙論), quyển 166, tr. 838a1-8.
 

* Trang 90 *
device

hữu vi vô thường nên khổ.
            Hỏi: Nếu pháp hữu vi vô thường nên khổ, thời pháp hữu vi vô lậu của các bậc thần thánh cũng phải nên khổ?
            Đáp: Các pháp tuy vô thường, mà đắm mới sanh khổ, không ưa đắm gì thì không khổ.
            Hỏi: Có vị Thánh nhân tuy không ưa đắm gì cũng đều có khổ như Xá-lợi-phất bị phong nhiệt làm đau khổ,[1] Tất-lăng-già-bà-ta bị mắt đau khổ.[2] La-bà-na-bạt-đề (âm thanh đệ nhất) bị bệnh trỉ khổ,[3] cớ sao nói không khổ?
            Đáp: Có hai thứ khổ: Một là thân khổ, hai là tâm khổ. Các Thánh nhân ấy do sức trí tuệ nên không còn tâm khổ ưu sầu, tật đố, sân giận; nhưng đã chịu thân tứ đại tạo thành do nghiệp đời trước thời phải các khổ về thân già, bệnh, đói, khát, lạnh, nóng. Về thân khổ cũng mỏng ít, như người biết rõ đã mắc nợ người khác cho nên phải trả lại không cho là khổ. Nếu người không nhớ đã mắc nợ, bị chủ nợ cưởng đoạt lại thì sân não mà sinh khổ.
            Hỏi: Khổ thọ là pháp của tâm tâm số, còn thân như cây cỏ, lìa tâm thời không tri giác, làm sao nói Thánh nhân chỉ thọ thân khổ?
            Đáp: Người phàm phu khi thọ khổ tâm sanh sầu não, bị kiết sử sân sai khiến, tâm chỉ hướng theo năm dục. Như Phật dạy: Người phàm phu trừ năm dục ra không còn biết có cách ra khỏi khổ, trong khi thọ vui thì bị kiết sử tham dục sai khiến, trong khi thọ không khổ không vui thì bị kiết sử vô minh sai khiến. Người phàm phu khi thọ khổ, bên trong chịu
 

[1] T. 22, Tứ phần luật (Dharmagupta-vinaya-四分律), quyển 42, tr. 867b29-c19; T. 23: Thập tụng luật (十誦律), quyển 26, tr. 190c24-191a8; T. 23: Tát bà đa tỳ ni tỳ bà sa (薩婆多毘尼毘婆沙), quyển 4, tr. 528c18-21.
[2] T. 22: Tứ phần luật (Dharmagupta-vinaya-四分律), quyển 42, tr. 867b27-29; T. 23: Thập tụng luật (十誦律), quyển 26, tr. 184c12-23; T. 24: Tỳ ni mẫu kinh (毘尼母經), quyển 3, tr. 815c26-29.
[3] T. 24: Căn bổn thuyết nhất thiết hữu bộ tỳ nại da dược sự (Mūla-sarvāstivāda-vinaya-kṣudraka-vastu-根本說一切有部毘奈耶藥事), quyển 17, tr. 89c11-90a11.
 

* Trang 91 *
device

ba thứ độc khổ, bên ngoài chịu lạnh, nóng, roi, gậy khổ, như người bên trong bị nóng thạnh, bên ngoài bị nóng thạnh. Như Kinh nói: người phàm phu bị mất vật yêu quý thì thân tâm đều chịu khổ, như hai mũi tên cùng bắn vào, còn các thần thánh không có cái khổ ưu sầu, chỉ có thân khổ chứ không còn khổ gì khác.[1]
            Lại nữa, cái khổ tương ưng với năm thức và cái khổ do ngoại duyên roi, gậy, lạnh, nóng đưa đến, ấy là thân khổ, tàn dư của khổ ấy gọi là tâm khổ.
            Lại nữa, tôi nói pháp hữu vi vô lậu, vì không ưa đắm nên không khổ. Thánh nhân còn có thân là hữu lậu, pháp hữu lậu thời khổ, có lỗi gì đâu. Đó là thân cuối cùng chịu khổ, cũng chút ít thôi.
            Hỏi: Nếu vô thường nên khổ thì đạo cũng là khổ, làm sao lấy khổ để lìa khổ?
            Đáp: Vô thường tức là khổ, là nói vì năm thọ uẩn, còn đạo tuy là pháp tạo tác nên vô thường nhưng không gọi là khổ, vì cớ sao? Vì nó hay dứt khổ không làm sanh ra tâm ưa đắm, cùng với trí không, vô ngã hòa hợp. Chỉ là vô thường mà chẳng khổ. Như các A-la-hán khi đắc đạo nói:
                        “Chúng ta không tham sống,
                        Mà cũng không ưa chết,
                        Nhất tâm và trí tuệ,
                        Chờ thời đến thì đi.”[2]
            Lúc Phật vào Niết-bàn các vị chưa ly dục như A-nan
 

[1] T. 2: Tạp a hàm kinh (Saṃyuktāgama-雜阿含經), quyển 10, tr. 119c28-120b15.
[2] T. 1: A na luật bát niệm kinh (阿那律八念經), quyển 1, tr. 836c20-837a2.
 

* Trang 92 *
device

vì chưa khéo tu tám chánh đạo nên đều than khóc ưu sầu. Các vị A-na-hàm đã ly dục thì kinh ngạc, các vị lậu tận A-la-hán thì tâm không biến đổi, chỉ nói: “Con mắt thế gian diệt mau quá.” Do sức đắc đạo, nên tuy theo Phật được lợi ích lớn, biết trọng công đức vô lượng của Phật mà không sanh ra khổ.[1] Do vậy, biết đạo tuy vô thường mà chẳng phải nhân duyên sanh ra khổ, nên không gọi là khổ, chỉ có thân năm thọ uẩn là khổ. Vì sao? Vì ưa đắm, vì vô thường bại hoại, như nghĩa chữ khổ đã nói rộng ở đoạn nói về thọ niệm xứ.
            Lại nữa, khổ, có thân thường là khổ, vì ngu si nên không biết, như nói:
                        “Vì cỡi xe mệt mõi,
                        Tìm cầu chỗ đứng dừng,
                        Vì đứng dừng mệt mõi,
                        Tìm cầu chỗ ngồi nghĩ,
                        Ngồi lâu bị mệt mõi.
                        Tìm cầu chỗ nằm yên,
                        Mệt mõi do làm sanh,
                        Mới đầu vui sau khổ,
                        Xem ngó thở ra vào,
                        Co, duỗi, ngồi, nằm, dậy.
                        Đi đứng và qua lại.
                        Việc ấy đều là khổ.”
            Hỏi: Năm thọ uẩn ấy tất cả đều là khổ, hay vì quán
 

[1] T. 1: Trường a hàm kinh (Dīrghāgama-長阿含經), quyển 4, Du hành kinh (遊行經), tr. 23c6-25c12.
 

* Trang 93 *
device

tưởng khổ nên khổ? Nếu tất cả đều khổ, tại sao Phật nói có ba thứ thọ là thọ khổ, thọ vui, thọ không khổ không vui? Nếu do quán tưởng khổ nên khổ, tại sao Phật nói khổ đế là thật khổ?
            Đáp: Năm thọ uẩn tất cả đều khổ, người phàm phu do bốn điên đảo, bị dục bức bách, lấy năm dục làm vui như người bôi ghẻ lỡ, cái đau lớn tạm ngưng nên cho là vui, chứ ghẻ lỡ chẳng phải là vui. Phật dạy ba thứ thọ là vì theo thế gian, chứ trong Phật pháp chẳng phải là vui.[1] Nếu trong năm thọ uẩn[2] thật có vui, cớ sao Phật nói dứt năm thọ uẩn gọi là vui.
            Lại nữa, tùy chỗ ưa thích, tâm vui thời sanh vui, không nhất định. Cái vui nếu là có thật nhất định, thì không cần chờ có tâm ưa đắm, như lửa thật nóng thì không đợi ưa đắm nó vẫn đắm. Vì cái vui không nhất định, cho nên gọi là khổ.
            Lại nữa, cái vui điên đảo của thế gian hay mắc phải vô lượng quả báo khổ đời này đời sau, cho nên gọi là khổ, thí như trong biển nước lớn chỉ bỏ vào một ít độc, không làm cho nước đổi khác, cũng như vậy, cái vui theo độc điên đảo của thế gian không hiện ra giữa biển nước tất cả đại khổ. Như nói:
                        “Khi từ trời sanh xuống địa ngục,
                        Nhớ việc hoan lạc ở trên trời,
                        Cung quán, thể nữ đầy trước mắt,
                        Vườn hoa, áo tắm để vui thích,
 

[1] T. 2: Tạp a hàm kinh (Saṃyuktāgama-雜阿含經), quyển 44, kinh số 476, tr. 121c13-28.
[2] Xem T. 25: Đại trí độ luận (Mahāprajñāpāramitā-śāstra), quyển 44.
 

* Trang 94 *
device

                        Lại thấy lửa ngục đến đốt thân,
                        Tự như lửa lớn đốt rừng tre,
                        Khi ấy tuy thấy vui trên trời,
                        Luống tự cảm tiếc không ích gì.”
            Sự nhiếp và duyên của khổ tưởng này cũng giống vô thường tưởng. Các cách phân biệt khổ như vậy, gọi là khổ tưởng.
            Vô ngã tưởng: Khổ thời là vô ngã. Vì cớ sao? Vì trong năm thọ uẩn đều là khổ, khổ tưởng là không có tự tại, nếu không tự tại ấy thời là vô ngã, nếu có ngã tự tại thời không khổ làm cho thân có khổ. Như nói:
                        “Có các người vô trí,
                        Chấp thân tâm là ngã,
                        Tạm gần đính chắc cứng,
                        Không biết pháp vô thường,
                        Thân này không ai làm,
                        Cũng không có người thọ,
                        Thân này là vô chủ,
                        Mà làm đủ các việc,
                        Duyên nơi sáu căn trần,
                        Sáu thức được sanh ra,
                        Do ba sự hòa hiệp,
                        Làm duyên sanh ra xúc,

* Trang 95 *
device

                        Do xúc làm nhân duyên,
                        Có thọ niệm nghiệp sanh,
                        Như mặt trời cỏ củi.
                        Hòa hiệp sanh ra lửa,
                        Căn trần thức hòa hiệp,
                        Thành sự nghiệp tạo tác,
                        Tương tục tương tợ có,
                        Như giống có mầm, cành.”
            Lại nữa, ngã tướng là không thể có được cho nên vô ngã. Hết thảy pháp vì có tướng nên biết là có, như thấy khói, cảm giác nóng nên biết có lửa. Đối với năm trần mỗi mỗi khác biệt, nên biết có căn, suy nghĩ trù lượng các pháp môn biết có tâm tâm số pháp. Còn ngã nếu không có tướng cho nên biết vô ngã.
            Hỏi: Có hơi thở ra vào, thời đó là tướng ngã. Xem ngó, tâm thọ mạng, khổ vui, thương ghét, tinh cần v.v... ấy là tướng ngã. Nếu vô ngã thì ai có hơi thở ra vào, xem ngó, tâm thọ mạng, khổ vui, thương ghét, tinh cần v.v... đó. Cho nên có ngã ở bên trong lay động phát sanh vậy. Tâm thọ mạng cũng là ngã, nếu vô ngã thì như bò không cương, có ngã mới có thể chế ngự tâm và pháp, không cho phóng dật. Nếu vô ngã thì ai chế ngự tâm. Thọ khổ vui là ngã, nếu vô ngã thì như cây cỏ, không thể phân biệt khổ vui. Thương ghét, tinh cần cũng như vậy. Ngã tuy vi tế, không thể dùng năm căn biết được. Chỉ nhân nơi tướng có thể biết là có?

* Trang 96 *
device

            Đáp: Các tướng ấy đều là tướng của thức. Có thức thời hơi thở ra vào, xem ngó, thọ mạng v.v... nếu thức lìa thân thời không có các việc ấy. Cái ngã của các ông là thường hằng và biến khắp vậy, người chết cũng nên có sự xem ngó, hơi thở ra vào và thọ mạng v.v...
            Lại nữa, tôi thở ra vào v.v... là sắc pháp, theo sức của tâm và gió lay động phát sanh, đó là tướng của thức, không phải tướng của ngã. Thọ mạng là tâm bất tương ưng hành pháp, ngã là tướng của thức.
            Hỏi: Nếu vào vô tâm định, hoặc khi ngủ say, cũng có hơi thở ra vào, có thọ mạng, tại sao nói đều là tướng của thức?
            Đáp: Trong vô tâm định, tuy thức tạm không, nhưng không lâu phát sanh lại, vì thức không bỏ rời thân, lúc có thức (hoạt động) thì nhiều, lúc không có thức (hoạt động) thì ít, cho nên gọi tướng của thức,[1] như người ra đi, không thể nhà ấy vô chủ, khổ vui, thương ghét, tinh cần v.v... là pháp tương ứng với tâm, cùng sở duyên, theo tâm hành động, nên tâm có thì liền có, tâm không thì liền không. Do vậy biết đó là tướng của thức chứ chẳng phải tướng của ngã.
            Lại nữa, nếu có ngã, ngã có hai thứ là hoặc thường hoặc vô thường. Như nói:
                        “Nếu ngã là thường,
                        Thời không thân sau,
                        Vì thường, không sanh,
 

[1] T. 29: A-tỳ-đạt-ma câu xá luận (Abhidharmakośa-阿毘達磨俱舍論), quyển 5, tr. 24b12-26a22.
 

* Trang 97 *
device

                        Cũng không giải thoát,
                        Cũng không quên không làm,
                        Do vậy cho nên biết,
                        Không kẻ làm tội phước,
                        Cũng không có kẻ thọ,
                        Bỏ ngã và ngã sở,
                        Vậy sau được Niết-bàn,
                        Nếu mà thật có ngã,
                        Không nên bỏ ngã tâm,
                        Nếu ngã là vô thường,
                        Thời nên theo thân diệt,
                        Như bờ lớn sa nước,
                        Cũng không có tội phước.”
            Như vậy, ngã và kẻ biết, kẻ không biết, kẻ làm, kẻ không làm như đã nói trong đoạn Đàn Ba-la-mật. Vì không có được ngã tướng nên biết hết thảy pháp vô ngã. Nếu biết hết thảy pháp vô ngã thời không nên sanh tâm chấp ngã. Nếu không tâm chấp ngã và ngã sở, ngã ngã sở xa lìa, thời không có trói buộc, nếu không trói buộc thời là Niết-bàn. Thế nên hành giả nên thật hành vô ngã tưởng.
            Hỏi: Vô thường, khổ, vô ngã là một hay ba sự? Nếu là một thì không nên nói ba, nếu ba cớ sao Phật nói vô thường tức là khổ. Khổ tức là vô ngã?
            Đáp: Chỉ là một, đó là thọ thuộc pháp hữu lậu, vì phân

* Trang 98 *
device

biệt theo mặt quán sát nên có ba thứ sai khác nhau. Tương ưng với hành tướng vô thường, ấy là vô thường tưởng, tương ưng với hành tướng khổ, ấy là khổ tưởng; tương ưng với hành tưởng vô ngã, ấy là vô ngã tưởng. Vô thường, không làm cho rơi vào ba cõi; khổ, làm cho biết tội lỗi trong ba cõi; vô ngã, thời xả ly ba cõi.
            Lại nữa, vô thường thì sanh tâm nhàm chán, khổ thì sanh sợ hãi, vô ngã thì kéo ra khiến cho giải thoát. Vô thường là thật nói năm thọ uẩn là vô thường, khổ là Phật nói vô thường thời là khổ, vô ngã là Phật nói khổ tức là vô ngã. Vô thường là Phật chỉ thị tướng diệt tận của năm thọ uẩn, khổ là Phật chỉ thị như mũi tên găm vào tâm, vô ngã là Phật chỉ thị tướng xả ly. Vô thường là chỉ thị dứt ái, khổ là chỉ thị dứt tập khí ngã mạn, vô ngã là chỉ thị dứt tà kiến. Vô thường thì ngăn kiến chấp thường, khổ thì ngăn kiến chấp vui Niết-bàn hiện tại, vô ngã thì ngăn chỗ chấp trước. Vô thường là chỗ pháp thường của thế  gian chấp trước, khổ là chỗ vui của thế gian chấp trước, vô ngã là chỗ chấp ngã kiên cố của thế gian. Ấy là tướng phân biệt giữa ba tưởng. Vô ngã tưởng duyên và nhiếp giống như đã nói trong khổ tưởng.
            Thực yểm tưởng: Quán đồ ăn từ nhân duyên bất tịnh sanh, như thịt từ thủy đạo tinh huyết sanh, là chỗ ở của trùng mủ. Váng sữa, sữa, lạc. Do huyết biến thành, không khác gì mủ thối nát, mồ hôi nhớp của người nhà bếp và các thứ bất tịnh. Nếu bỏ vào miệng thì từ não bộ có hai dòng nước dãi thối nát chảy xuống hòa với nước miếng sau mới thành vị,

* Trang 99 *
device

tướng trạng như mữa, đi vào cửa bụng, đất duy trì, nước rửa mát, gió chuyển động, lửa rang nấu, giống như cái chỗ nấu chín nhừ, cặn bả lóng xuống dưới, nước trong nỗi lên trên. Ví như gây rượu phần cặn bả là phân, phần trong là nước dãi. Eo lưng có ba lỗ, gió thổi nước béo tan vào trăm mạch, hòa hợp với huyết sẳn có trước, ngưng đọng biến thành thịt. Từ thịt tươi sanh mở, xương, tủy, từ trong đó sanh thân căn, từ thịt mới thịt cũ hợp lại sanh năm căn, từ năm căn sanh năm thức, năm thức thứ lớp sanh ý thức, phân biệt thủ lấy tướng, trù lượng tốt xấu, vậy sau mới sanh các phiền não và các tội nghiệp theo tâm chấp ngã, ngã sở. Quán đồ ăn có nhân duyên gốc ngọn đủ thứ bất tịnh như vậy, biết rằng bốn đại bên trong bốn đại bên ngoài không khác nhau, chỉ vì ngã kiến mà cưởng cho là có ngã.
            Lại nữa, suy nghĩ đồ ăn này do đào bới cày bừa thu hoạch xay, dã đào thảy, thổi nấu mới thành, dụng công rất nặng. Tính ra một bát cơm so với công sức mồ hôi của nông phu góp lại thì đồ ăn ít mà mồ hôi nhiều làm ra đồ ăn này công phu cay đắng nặng nề như vậy, mà ăn vào miệng thì liền thành bất tịnh, không chút giá trị, trải qua một đêm đã biến thành phân nước dãi. Vốn là đồ ngon mà người ăn vào biến thành bất tịnh gớm không muốn thấy. Hành giả tự suy nghĩ: Đồ ăn tệ như vậy, nếu ta tham đắm thì sẽ đọa địa ngục, nuốt hoàn sắc nóng, từ địa ngục ra khỏi sẽ làm súc sanh trâu, dê, lạc đà, đều trả nợ cũ, hoặc làm chó heo, thường ăn đồ nhơ. Quán đồ ăn như vậy thời tư tưởng nhàm chán. Nhân

* Trang 100 *
device

nhàm chán đồ ăn mà đối năm dục đều nhàm chán, ví như một bà Bà-la-môn tu pháp tinh khiết, có duyên sự đi đến một nước bất tịnh, tự suy nghĩ ta sẽ làm sao để khỏi thứ bất tịnh này, chỉ phải ăn đồ khô, mới thanh tịnh được. Thấy một bà già bán thứ bánh khô, tủy trắng khô liền nói với rằng: “Tôi có duyên sự ở đây một trăm ngày, hãy làm thứ bánh khô này đem cho tôi, tôi sẽ trả giá nhiều.” Bà già mỗi ngày làm bánh khô đem đến, Bà-la-môn tham đắm, ăn no hoan hỷ. Bà già làm bánh, lúc đầu trắng sạch, lần về sau không màu sắc, không hương vị. Bà-la-môn hỏi bà già tại sao như vậy? Bà già đáp: “Nhọt lỡ đã lành.” Bà-la-môn hỏi: Câu nói ấy nghĩa sao? Bà già đáp: Phu nhân tôi ở chỗ khuất sanh mụt nhọt, lấy bột gạo váng sữa đắp vào, mụt nhọt vỡ mủ ra, đem hòa với bánh váng sữa, cứ mỗi ngày như vậy, lấy làm bánh đem cho ông. Vì vậy mà bánh ngon. Nay phu nhân tôi đã lành mụt, tôi còn biết chỗ nào có được nữa? Bà-la-môn nghe xong, nắm hai tay đánh đầu, đấm ngực nôn khan nói tại sao ta phá hỏng pháp thanh tịnh này? Thôi ta hỏng mất rồi! Bỏ duyên sự trở về nước cũ. Hành giả cũng như vậy, tham đắm ăn uống, hoan hỷ ưa thích,  chỉ thấy màu sắc nó đẹp, mịn trơn, thơm ngon khoái miệng, mà chẳng quán sát bất tịnh, sau chịu khổ báo, hối tiếc làm sao kịp, nếu hay quán xét đồ ăn gốc ngon như vậy sanh tâm chán ghét. Nhân lìa thực dục mà bốn dục đều lìa (tài dục, sắc dục, danh dục, thụy dục). Lìa bỏ mọi dục lạc trong cõi Dục, dứt năm dục ấy, thì năm hạ phần kiết cũng dứt. Do các nhân

* Trang 101 *
device

duyên tội ác như vậy, không còn ưa đắm. Ấy gọi là thực yểm tưởng.
            Hỏi: Vô thường, khổ, vô ngã tưởng tương ưng với trí tuệ vô lậu còn bốn tưởng kế tiếp như thực yểm tưởng v.v... tương ưng với trí tuệ hữu lậu, theo lẽ thứ lớp thì bốn tưởng này nên nói ở trước chứ tại sao nói ở sau?
            Đáp: Phật pháp có hai đạo là kiến đạo (darśana-mārga) và tu đạo (bhāvanā-mārga). Trong kiến đạo dùng ba tưởng, phá các tà kiến, đắc Thánh quả, vẫn chưa lìa dục. Vì lìa dục nên sau ba tưởng tiếp nói bốn tưởng là thực yểm tưởng v.v... thời lìa được các phiền não dâm dục v.v... ba tưởng đầu chỉ thị kiến đế đạo, bốn tưởng giữa chỉ thị học đạo, ba tưởng chót chỉ thị vô học đạo. Trong khi bắt đầu tu tập thân niệm xứ, tuy có thực yểm tưởng, song công dụng ít cho nên Phật không nói. Nay vì bậc Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm cần phải vượt qua tham dục nên tiếp theo vô ngã tưởng nói đến bốn tưởng là thực yểm tưởng v.v...[1]
            Hết thảy thế gian không thể vui tưởng: Nếu nhớ nghĩ các sự vui của thế gian như sắc dục, vị ngon, xe ngựa, phục sức, quán xá, vườn nhà thời sanh lạc tưởng; nếu nhớ nghĩ các sự ác tội của thế gian thời tâm sanh tưởng nhàm chán. Các việc ác tội gì? Việc ác có hai: Một là chúng sanh. Hai là thổ địa.
            Chúng sanh bị hoạn nạn về tám khổ là sanh, già, bệnh, chết, ân ái xa lìa, oan thù gặp gỡ, cầu mong không được, tóm lại là năm thọ uẩn khổ.[2]
 

[1] T. 27: A-tỳ-đạt-ma đại tỳ bà sa luận (Abhidharma-mahā-vibhāṣa-śāstra-阿毘達磨大毘婆沙論), quyển 166, tr. 840a19-b23.
[2] T. 27: A-tỳ-đạt-ma đại tỳ bà sa luận (Abhidharma-mahā-vibhāṣa-śāstra-阿毘達磨大毘婆沙論), quyển 78, tr. 402b7-29.
 

* Trang 102 *
device

           Tội của chúng sanh là người dâm dục nhiều thì không phân biệt tốt xấu, không theo lời dạy bảo của cha mẹ sư trưởng, không biết tàm quý, chẳng khác cầm thú, người sân nhuế nhiều thì không phân biệt nhẹ nặng, sân độc cuồng phát, cho đến không chịu lời Phật, không muốn nghe pháp, không sợ ác đạo, roi gậy đánh bừa, chẳng biết cái khổ của người khác, đi vào trong đại tối không trông thấy gì. Người ngu si thì đều mong cầu không theo đạo lý, không rõ sự duyên, như vắt sừng tìm sữa, bị vô minh che lấp, tuy mặt trời chiếu sáng mà vĩnh viễn không thấy gì. Người xan tham nhiều thì nhà nó như mồ hoang, không ai bước tới. Người kiêu mạn nhiều thì không kính Hiền thánh, không hiếu với cha mẹ, kiêu xa phóng dật tự bại hoại, vĩnh viễn không chút giá trị. Người tà kiến nhiều thì không tin đời này đời sau, không tin tội phước, không thể ở chung. Các phiền não như vậy nhiều thì tệ bại không chút có giá trị. Người ác nghiệp nhiều thì tạo tội vô gián hoặc giết cha mẹ, hoặc làm thương hại Hiền thánh, đón bắt thời cơ sang, vinh quý, dèm pha làm hại kẻ trung trinh, giết hại thân thích.
            Lại nữa, chúng sanh ở thế gian người lành tốt ít, kẻ tệ ác nhiều, hoặc tuy có người hành thiện mà bị nghèo hèn bỉ lậu, hoặc tuy giàu sang đoan chánh mà sở hành bất thiện. Hoặc tuy ưa bố thí mà nghèo thiếu không tài vật, hoặc tuy giàu có tài báu mà lẫn tiếc tham đắm, không chịu bố thí. Hoặc thấy người trầm lặng suy nghĩ không nói bèn cho đó là tự nuôi tánh kiêu mạn cao ngạo, không biết hạ mình tiếp vật,

* Trang 103 *
device

hoặc thấy người ưa hạ mình tiếp vật, ân huệ nhuần khắp, bèn cho đó là trang sức dối trá dua nịnh, hoặc thấy người nói hay luận giỏi, bèn cho đó là ỷ thị tiểu trí để kiêu mạn; hoặc thấy người chất trực thiện hảo bèn cùng dối trá bắt ép, dẫn dắt lôi kéo lấn bước coi thường, hoặc thấy người tâm lành nhu nhuyến bèn cùng khinh khi lấn bước chà đạp, không tiếp đãi theo đạo lý. Nếu thấy người giữ giới thanh tịnh bèn cho đó là làm việc kiêu căng kỳ dị, khinh hèn không kể. Các chúng sanh tệ ác như vậy, không có một điều đáng ưa.
            Thổ địa ác: Hết thảy thổ địa nhiều suy hoại không lành tốt. Lạnh nóng đói khát, tật bệnh ôn dịch, khí độc xâm hại, sợ hãi già, bệnh, chết không chỗ nào không có. Chỗ nào thân đi đến đều có các khổ  đi theo, không nơi nào tránh khỏi. Tuy có quốc độ tốt, giàu vui an ổn, phần nhiều bị các phiền não bức bách, thời không thể gọi là quốc độ an lạc. Hết thảy đều có hai thứ khổ là thân khổ và tâm khổ. Không quốc độ không có. Như nói:
                        “Có quốc độ lạnh nhiều,
                        Có quốc độ nóng nhiều,
                        Có nước không cứu hộ,
                        Có nước nhiều tai ác,
                        Có nước thường đói khát,
                        Có nước nhiều bệnh tật,
                        Có nước không tu phước,
                        Như vậy không đâu vui.”

* Trang 104 *
device

            Chúng sanh và thổ địa có các ác như vậy, suy nghĩ đến thế gian không một điều chi đáng vui. Ác sự ở cõi Dục như vậy. Ở hai cõi trên. Khi chết khi thối đọa, càng sanh áo não hơn ở cõi dưới, ví như bị rơi từ chỗ rất cao, tan nát tiêu hoại!
            Hỏi: Vô thường tưởng, khổ tưởng, vô ngã tưởng, hết thảy thế bất khả lạc tưởng, có gì sai khác mà nói riêng?
            Đáp: Có hai cách quán là quán chung, quán riêng. Trước là quán chung, đây là quán riêng. Lại có hai quán là quán pháp và quán chúng sanh, trước là quán trách mắng hết thảy pháp, đây là quán chúng sanh tội ác chẳng đồng. Lại nữa trước kia là vô lậu đạo, đây là hữu lậu đạo. Trước là kiến đến đạo, đây là tư duy đạo. Các thứ sai khác như vậy nhiếp vào trong hết thảy địa, và duyên các pháp trong ba cõi. Ấy gọi là hết thảy thế gian bất khả lạc tưởng.
            Tử tưởng: Như đã nói ở trong đoạn về niệm chết.[1]
            Bất tịnh tưởng: Như đã nói ở trong đoạn nói về thân niệm xứ.[2]
            Đoạn tưởng,[3]ly tưởng, tận tưởng: Duyên tướng Niết-bàn. Vì đã dứt các kiết sử nên gọi là ly tưởng,[4] vì sạch hết kiết sử nên gọi là tận tưởng.[5]
            Hỏi: Nếu như vậy thì một tưởng cũng đủ, vì sao nói ba?
            Đáp: Như trước, một pháp mà có ba cách nói. Vô
 

[1] T. 27: A-tỳ-đạt-ma đại tỳ bà sa luận (Abhidharma-mahā-vibhāṣa-śāstra-阿毘達磨大毘婆沙論), quyển 166, tr. 840b23-841b2.
[2] T. 27, A-tỳ-đạt-ma đại tỳ bà sa luận (Abhidharma-mahā-vibhāṣa-śāstra-阿毘達磨大毘婆沙論), quyển 166, tr. 839b27-840a19.
[3] T. 27: A-tỳ-đạt-ma đại tỳ bà sa luận (Abhidharma-mahā-vibhāṣa-śāstra-阿毘達磨大毘婆沙論), quyển 29, tr. 149a17-18.
[4] T. 27: A-tỳ-đạt-ma đại tỳ bà sa luận (Abhidharma-mahā-vibhāṣa-śāstra-阿毘達磨大毘婆沙論), quyển 29, tr. 149c18-19: Thế nào gọi là ly tưởng? Đáp: đoạn hết các tưởng ái kiết, gọi là ly tưởng.
[5] T. 27: A-tỳ-đạt-ma đại tỳ bà sa luận (Abhidharma-mahā-vibhāṣa-śāstra-阿毘達磨大毘婆沙論), quyển 29, tr. 149c19-20,
 

* Trang 105 *
device

thường tức là khổ, khổ tức là vô ngã, đây cũng như vậy. Vì hết thảy thế gian tội ác sâu nặng cho nên có ba cách trách mắng, giống như đốt cây ta, không thể chặt một lát mà dứt được. Pháp Niết-bàn vi diệu, từ xưa chưa chứng được cho nên tán thán nhiều cách gọi là đoạn tưởng, ly tưởng, tận tưởng.
            Lại nữa, dứt ba độc gọi là đoạn, lìa ái gọi là ly, diệt hết thảy khổ không còn sanh lại nữa gọi là tận.
            Lại nữa, hành giả ở nơi noãn pháp, đảnh pháp, nhẫn pháp, thế đệ nhất pháp,[1] chánh trí tuệ quán sát, xa lìa các phiền não, ấy gọi là ly tưởng. Chứng đắc vô lậu đạo, dứt các kiết sử, ấy gọi là đoạn tưởng, khi vào Niết-bàn dứt năm thọ uẩn, không còn tương tục, ấy gọi là tận tưởng. Đoạn tưởng, hữu dư Niết-bàn (sopādhiśeṣa-nirvāṇa); tận tưởng, vô dư Niết-bàn (nirupadhiśeṣa-nirvāṇa); ly tưởng, của phương tiện của hai Niết-bàn. Ba tưởng này vì là hữu lậu (āsrava) vô lậu (anāsrava) nên nhiếp vào trong hết thảy địa.[2]
             
                       
___________
 

[1] T. 29: A-tỳ-đạt-ma câu xá luận (Abhidharmakośa-阿毘達磨俱舍論), quyển 23, tr. 119b12-120.
[2] T. 27: A-tỳ-đạt-ma đại tỳ bà sa luận (Abhidharma-mahā-vibhāṣa-śāstra-阿毘達磨大毘婆沙論), quyển 166, tr. 837c28-839b21.
 

* Trang 106 *
device

Xem Mục Lục

Top Book

Top Book Mp3

Top Music Album

 
© Copyright 2009 - 2018 anphat.org - Chịu trách nhiệm nội dung: Thị Đức bienman0811@yahoo.com - Hỗ trợ kỹ thuật votamthoai@gmail.com