Xem Mục Lục

 LUẬN ĐẠI TRÍ ĐỘ [MAHĀPRAJÑĀPĀRAMITĀ ŚĀSTRA] - Tác giả: NĀGĀRJUNA ( LONG THỌ) - Dịch Phạn ra Hán: CƯU MA LA THẬP - Dịch Hán ra Việt: THÍCH THIỆN SIÊU

  Giải thích Phẩm Bốn nhiếp thứ 78
GIẢI THÍCH: PHẨM BỐN NHIẾP THỨ 78
(Kinh Đại Bát-nhã hội 2 ghi: phẩm Chúng Đức Tướng thứ 76)

KINH: Tu-bồ-đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn, nếu các pháp như mộng, như tiếng vang, như ảnh, như sóng nắng, như huyễn, như hóa, không có thật sự, không có tính sở hữu, tự tướng không, thời làm sao phân biệt ấy là pháp lành, là pháp chẳng lành, là pháp thế gian, là pháp xuất thế gian, là pháp hữu lậu, là pháp vô lậu, là pháp hữu vi, là pháp vô vi, là pháp có thể được quả Tu-đà-hồn cho đến quả A-la-hán, là pháp có thể được đạo Bích-chi Phật, được Vô thượng chánh đẳng chánh giác?
Phật bảo Tu-bồ-đề: Người phàm phu ngu si thấy có mộng, thấy có người thấy mộng, cho đến thấy hóa, thấy có người thấy hóa mà khởi lên nghiệp thân, miệng, ý thiện, bất thiện, vô ký; khởi lên phước nghiệp, tội nghiệp, bất động nghiệp. Bồ-tát ấy hành Bát-nhã ba-la-mật trú trong hai không là rốt ráo không và vô thỉ không. 

* Trang 299 *
device

. Vì chúng sinh thuyết pháp rằng: Này các chúng sinh, sắc ấy không, không có sở hữu; thọ, tưởng, hành, thức ấy không, không có sở hữu; mười hai nhập, mười tám giới không, không có sở hữu. Sắc là mộng; thọ, tưởng, hành, thức là mộng, mười hai nhập, mười tám giới là mộng. Sắc là tiếng vang, là ảnh, là sóng nắng, là huyễn, là hóa; thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy. Mười hai nhập, mười tám giới là mộng, là tiếng vang, là ảnh, là sóng nắng, là huyễn, là hóa; trong ấy không có năm uẩn, mười hai nhập, mười tám giới, không có mộng, cũng không có người thấy mộng, không tiếng vang, cũng không có người nghe tiếng vang; không có ảnh, cũng không có người thấy ảnh; không có sóng nắng, cũng không có người thấy sóng nắng; không có huyễn, cũng không có người thấy huyễn; không có hóa, cũng không có người thấy hóa. Hết thảy pháp không có cội gốc, thật tính không có sở hữu.[1] Các ngươi ở trong chỗ không có năm uẩn thấy năm uẩn, không có mười hai nhập thấy mười hai nhập, không có mười tám giới thấy mười tám giới; các pháp ấy đều do nhân duyên hòa hợp sinh, vì khởi tâm điên đảo, nó thuộc quả báo của nghiệp, các người cớ gì đối với các pháp không, không có cội gốc mà chấp thủ tướng cội gốc? Khi ấy Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật dùng sức phương tiện đối với sự xan tham,
 

[1] T. 8: Phóng quang Bát-nhã kinh (放光般若經), quyển 18, phẩm Trụ nhị không thứ 78 (住二空品78),  tr. 125c15-21: Đại Bồ-tát thực hành Bát-nhã ba-la-mật, an trụ ở hai thứ không, từ đầu đến cuối cũng đều là không, vì giáo hoá chúng sanh nên nói có năm ấm, mười hai xứ, mười tám giới đều là không. Các pháp này như mộng, như tiếng vang, như huyễn, như hóa, như sóng nắng, trong đó không có năm ấm, mười hai xứ, mười tám giới, cũng không có mộng, tiếng vang, huyễn hóa, sóng nắng, tất cả đều không thấy. Các pháp đều là không có hình tướng, không có sở hữu, không có năm ấm; T. 7: Đại Bát-nhã ba-la-mật-đa kinh (大般若波羅蜜多經), quyển 468, tr. 369c8-371a6: Các Bồ-tát Ma-ha-tát khi hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa, đem hai thứ không quan sát các pháp. Những gì là hai không? Một, không rốt ráo. Hai, không không ngằn (vô tế không). Bồ-tát Ma-ha-tát an trụ trong hai thứ không như thế, vì các hữu tình tuyên nói Chánh pháp, khởi lời này rằng: các ngươi nên biết, sắc là không, lìa ngã ngã sở; thọ tưởng hành thức là không, lìa ngã ngã sở…..Lại nói lời này: các ngươi nên biết, tất cả pháp đều không sự thật, vô tánh làm tánh.

 

* Trang 300 *
device

kéo chúng sinh ra khỏi bằng cách dạy họ hành bố thí, đem công đức bố thí ấy được quả báo lớn; từ phước báo lớn được ra khỏi rồi dạy họ khiến trì giới, do công đức trì giới được sinh cõi trời tôn quý; lại kéo ra khỏi khiến trú vào sơ thiền, do công đức sơ thiền được sinh cõi Phạm thiên; nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, vô biên không xứ, thức xứ, vô sở hữu xứ, Phi-hữu-tưởng Phi-vô-tưởng xứ cũng như vậy. Đối với chúng sinh hành bố thí và quả báo bố thí ấy, trì giới và quả báo trì giới, thiền định và quả báo thiền định ấy dùng mỗi mỗi nhân duyên kéo ra khỏi mà an trí nơi Vô dư Niết-bàn và ở trong đạo Niết-bàn, đó là bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác phần, tám phần thánh đạo, Không, Vô tướng, Vô tác, giải thốt môn, tám bội xả, định chín thứ lớp, mười lực của Phật, bốn điều không sợ, bốn trí không ngại, mười tám pháp không chung, mà an ổn chúng sinh, khiến ở vào thánh pháp vô lậu, vô sắc, vô hình, vô đối. Thấy người có thể được quả Tu-đà-hồn thời an ổn giáo hóa khiến trú ở quả Tu-đà-hồn; thấy người có thể được quả Tu-đà-hồn cho đến đạo Bích-chi Phật thời khiến an trú quả Tu-đà-hồn cho đến đạo Bích-chi Phật; thấy người có thể được Vô thượng chánh đẳng chánh giác thời an ổn giáo hóa khiến trú trong Vô thượng chánh đẳng chánh giác.

* Trang 301 *
device

Tu-bồ-đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn, các Bồ-tát rất hiếm có, khó sánh kịp, các vị ấy có thể hành Bát-nhã ba-la-mật sâu xa, đối với các pháp không có tính sở hữu, rốt ráo không, vô thỉ không, mà phân biệt các pháp là thiện, là bất thiện, là hữu lậu, là vô lậu cho đến là hữu vi, là vô vi.
Phật bảo Tu-bồ-đề: Như vậy, như vậy. Các Bồ-tát rất hiếm có, khó bì kịp, các vị ấy có thể hành Bát-nhã ba-la-mật sâu xa, đối với các pháp không có tính sở hữu, rốt ráo không, vô thỉ không mà phân biệt các pháp. Này Tu-bồ-đề, các ông nếu biếât pháp hiếm có, khó bì của Bồ-tát ấy, thời biết hết thảy Thanh-văn, Bích-chi Phật không thể có được, huống gì người khác![1]
Tu-bồ-đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn, những gì là pháp hiếm có, khó bì kịp của Bồ-tát? Các Thanh-văn, Bích-chi Phật không có được?
Phật bảo Tu-bồ-đề: Phải nhất tâm lắng nghe. Có Bồ-tát hành Ba-la-mật, trú trong sáu Ba-la-mật do quả báo được và trú trong năm thần thông do quả báo được, 37 pháp trợ đạo; trú trong các Đà-la-ni, các trí không ngại, đi đến mười phương thế giới; đối với người có thể do bố thí nhiếp độ, thời dùng bố thí nhiếp độ; đối với người có thể do trì giới nhiếp độ, thời lấy trì giới nhiếp độ; đối với
 

[1] T. 7: Đại Bát-nhã ba-la-mật-đa kinh (大般若波羅蜜多經), quyển 469, tr. 371c6-10: Các ngươi nếu biết các Bồ-tát Ma-ha-tát khi hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa có bao nhiêu pháp rất lạ hiếm có, Thanh-văn, Độc-giác đều không thành tựu, chẳng so lường được. Các ngươi tất cả Thanh-văn, Độc-giác đối với biện vấn các Bồ-tát Ma-ha-tát không thể đối được, huống các hữu tình khác mà có thể thù đáp.

 

* Trang 302 *
device

người do nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, thời tùy sự thích ứng mà nhiếp độ; đối với người có thể do sơ thiền nhiếp độ, thời lấy sơ thiền nhiếp độ; đối với người có thể do nhị thiền, tam thiền, cho đến Phi-hữu-tưởng Phi-vô-tưởng xứ nhiếp độ, thời tùy theo chỗ thích ứng mà nhiếp độ; đối với người có thể do tâm từ, bi, hỉ, xả nhiếp độ, thời lấy tâm từ, bi, hỉ, xả nhiếp độ; đối với người có thể do bốn niệm xứ, cho đến tám phần thánh đạo, do Không, Vô tướng, Vô tác tam-muội nhiếp độ, thời tùy chỗ thích ứng mà nhiếp độ.
Bạch đức Thế Tôn, làm sao Bồ-tát lấy bố thí lợi ích chúng sinh?
Này Tu-bồ-đề, Bồ-tát khi hành Bát-nhã ba-la-mật, bố thí tùy theo chỗ người cần dùng hoặc ăn uống, y phục, xe ngựa, hương hoa, anh lạc đều cấp thí cho, như cúng dường Phật, Bích-chi Phật, A-la-hán, A-na-hàm, Tư-đà-hàm, Tu-đà-hồn ngang nhau không khác. Hoặc thí cho người tu tám phần thánh đạo và người phàm, cho đến cầm thú đều không có phân biệt, bình đẳng bố thí,[1] vì sao? Vì hết thảy pháp không khác, không phân biệt. Bồ-tát ấy bố thí không khác, không phân biệt rồi sẽ được quả báo không có phân biệt, đó là trí Nhất thiết chủng. Này Tu-bồ-đề, nếu Bồ-tát thấy người hành khất hoặc sinh tâm như vầy: Phật là
 

[1] T. 7: Đại Bát-nhã ba-la-mật-đa kinh (大般若波羅蜜多經), quyển 469, tr. 372a14-19: Khi thí như thế nơi tâm bình đẳng không tưởng sai khác mà hành bố thí. Như thí trì giới phạm giới cũng vậy. Như thí người phi người cũng vậy. Như thí nội đạo ngoại đạo cũng vậy. Như thí các Thánh, dị sanh cũng vậy. Như thí tôn quý, hạ tiện cũng vậy. Trên từ chư Phật, dưới đến bàng sanh, bình đẳng bố thí không sở phân biệt, không xem phước điền có khác hơn kém.

 

* Trang 303 *
device

ruộng phước, ta nên cúng dường; cầm thú chẳng phải phước điền, không nên cúng dường. Như vậy chẳng phải pháp Bồ-tát, vì sao? Vì Bồ-tát phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác không nghĩ rằng đối với chúng sinh này nên bố thí làm lợi ích, đối với chúng sinh kia không nên bố thí, vì bố thí cho chúng sinh ấy nên được sinh dòng lớn Sát lợi, dòng lớn Bà-la-môn, đại gia cư sĩ, cho đến do nhân duyên bố thí ấy lấy pháp ba thừa độ cho khiến vào Vô dư Niết-bàn. Nếu chúng sinh đi theo Bồ-tát xin, cũng không sinh tâm phân biệt sai khác: nên cho hay không nên cho. Vì sao? Vì Bồ-tát ấy vì chúng sinh nên phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác, nếu phân biệt lựa chọn bèn rơi vào chỗ bị quở trách của chư Phật, Bồ-tát, Bích-chi Phật, học nhân, vô học nhân và trời, người rằng: Ai cầu ông phát tâm cứu chúng sinh, làm nhà cho chúng sinh, là chỗ thủ hộ cho chúng sinh, làm chỗ nương cho chúng sinh, mà ông phân biệt, lựa chọn nên cho hay không nên cho? Lại, nếu Bồ-tát khi hành Bát-nhã ba-la-mật, hoặc người, chẳng phải người đi đến muốn xin Bồ-tát thân thể, tay chân, khi ấy không nên sinh hai tâm là hoặc cho hoặc không cho, vì sao? Vì Bồ-tát vì chúng sinh nên thọ thân, nay chúng sinh đi đến xin lấy, sao có thể không cho? Ta vì lợi ích chúng sinh nên thọ thân này, chúng sinh không xin, tự

* Trang 304 *
device

mình nên đem cho, huống gì chúng sinh đến xin mà không cho! Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật nên học như vậy.
* Lại nữa, Tu-bồ-đề, Bồ-tát thấy người đến xin nên nghĩ rằng: Trong đây ai cho, ai nhận, cho vật gì? Vì hết thảy pháp tự tính đều không thể có được, đều rốt ráo không. Pháp không tướng không có cho, không có cướp đoạt, vì sao? Vì rốt ráo không, nội không, ngoại không, nội ngoại không, đại không, đệ nhất nghĩa không, tự tướng không. Trú trong rốt ráo không ấy bố thí, khi ấy đầy đủ Thí ba-la-mật. Đầy đủ Thí ba-la-mật; nếu khi bị dứt pháp bên trong thân, pháp bên ngồi thân, liền nghĩ rằng: Cắt ta là ai? xẻ ta là ai?
* Lại nữa, Ta dùng mắt Phật thấy các Bồ-tát ở phương đông nhiều như cát sông Hằng, vào địa ngục lớn để làm tắt lửa, nước sôi nguội; dùng ba việc giáo hóa:[1] một là thần túc thông, hai là tha tâm thông, ba là thuyết pháp. Bồ-tát do sức thần thông làm cho lửa địa ngục lớn tắt, nước sôi nguội; do tha tâm thông đem tâm từ, bi, hỉ, xả tùy ý thuyết pháp.[2] Chúng sinh ấy đối với Bồ-tát sinh tâm thanh tịnh, nên từ địa ngục được thốt khỏi, dần dần lấy pháp ba thừa dứt hết khổ não. Phương nam, tây, bắc, bốn góc, trên, dưới cũng như vậy.
 

[1] T. 1: Trường a-hàm kinh (Dīrghāgama-長阿含經), quyển 1, tr. 9c18-19:
Như Lai lại thị hiện bằng ba việc để giáo hoá: một là thần túc, hai là quán tha tâm, ba là giáo giới; T. 2: Tăng nhất a-hàm kinh (Ekottara-āgama- 增壹阿含經), quyển 15, phẩm 24: Cao tràng (高幢品 24), tr. 622b10-11: Thế-tôn dùng ba việc để giáo hóa. Thế nào là ba? Đó là thần túc giáo hóa, ngôn giáo giáo hóa, huấn hối giáo hóa; T. 8: Ma-ha Bát-nhã ba-la-mật kinh (摩訶般若波羅蜜經), quyển 24, phẩm Tứ nhiếp thứ 78 (四攝品78), tr. 393b29; T. 22: Tứ phần luật (四分律), quyển 33, tr. 797a13-14: Ba việc giáo hóa: thần túc giáo hóa, ức niệm giáo hóa, thuyết pháp giáo hóa.
[2] T. 7: Đại Bát-nhã ba-la-mật-đa kinh (大般若波羅蜜多經), quyển 469, tr. 372c20-373a2: Lại nữa, Thiện Hiện! Ta dùng Phật nhãn xem khắp trong các thế giới mười phương Hằng hà sa v.v…, có Bồ-tát Ma-ha-tát, vì muốn lợi lạc các loại hữu tình, bởi cố nghĩ muốn nguyện vào địa ngục lớn, thấy các hữu tình chịu các khổ dữ dội. Thấy rồi phát khởi ba thứ chỉ dẫn. Những gì là ba? Một là thần biến chỉ dẫn; hai là ghi nói chỉ dẫn; ba là dạy răn chỉ dẫn.
Bồ-tát Ma-ha-tát này dùng thần biến chỉ dẫn diệt trừ địa ngục, nước sôi lửa đao thảy các thứ dụng cụ khổ. Dùng ghi nói chỉ dẫn ghi tâm chỗ nghĩ hữu tình kia mà vì nói pháp. Dùng dạy răn chỉ dẫn đối với hữu tình phát khởi từ, bi, hỷ, xả mà vì nói pháp, khiến các loại hữu tình địa ngục kia đối Bồ-tát được sanh lòng tịnh tín. Nhờ nhân duyên đây từ địa ngục ra, được sanh lên trời, hoặc sanh trong người, lần hồi nương Tam thừa hết ngằn mé khổ, chứng cõi Niết bàn an vui rốt ráo.

 

* Trang 305 *
device

* Lại nữa, Tu-bồ-đề, Ta dùng mắt Phật xem mười phương thế giới thấy các Bồ-tát trong quốc độ nhiều như cát sông Hằng, làm thị giả cho chư Phật, cúng dường chư Phật, tùy ý hoan hỉ, cúng kính; nếu chư Phật thuyết pháp đều có thể thọ trì cho đến khi được Vô thượng chánh đẳng chánh giác trọn không quên mất.[1]
* Lại nữa, Ta dùng mắt Phật xem thấy Bồ-tát trong mười phương các cõi nước nhiều như cát sông Hằng, vì súc sinh nên xả bỏ đời sống kia, cắt xẻ thân thể, phân tán đi các phương. Có các chúng sinh ăn thịt các Bồ-tát ấy, đều ưa kính Bồ-tát. Vì tâm ưa kính ấy nên liền được lìa khỏi đường súc sinh, gặp chư Phật, nghe Phật thuyết pháp như thuyết tu hành, dần dần nhờ pháp ba thừa mà vào Vô dư Niết-bàn. Như vậy, các Bồ-tát làm lợi ích rất nhiều, giáo hóa chúng sinh khiến phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác, như thuyết tu hành, cho đến khi vào Vô dư Niết-bàn.
* Lại nữa, Tu-bồ-đề, Ta dùng mắt Phật xem thấy Bồ-tát trong mười phương các cõi nước nhiều như cát sông Hằng, trừ cái khổ đói khát của ngạ quỷ, các ngạ quỷ ấy đều ái kính Bồ-tát. Do tâm ái kính nên được lìa khỏi đường ngạ quỷ, gặp chư Phật, nghe Phật thuyết pháp như thuyết tu hành, dần dần do pháp ba thừa mà vào Vô dư
 

[1] T. 7: Đại Bát-nhã ba-la-mật-đa kinh (大般若波羅蜜多經), quyển 469, tr. 373a2-7: Lại nữa, Thiện Hiện! Ta dùng Phật nhãn xem khắp trong các thế giới mười phương Hằng hà sa thảy, có Bồ-tát Ma-ha-tát thừa sự cúng dường chư Phật Thế Tôn. Bồ-tát Ma-ha-tát khi thừa sự cúng dường Phật Thế Tôn, thâm tâm vui mừng mến mộ cung kính, chẳng quên vui mừng mến mộ cung kính các Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác đã thuyết Chánh pháp, cung kính lóng nghe, thọ trì đọc tụng, cho đến Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề trọn không quên mất. 

 

* Trang 306 *
device

Niết-bàn. Như vậy, Bồ-tát vì độ chúng sinh hành tâm đại bi.
* Lại nữa, Tu-bồ-đề, Ta dùng mắt Phật thấy Bồ-tát ở trên cõi trời Tứ thiên vương thuyết pháp; ở trên cõi trời Ba mươi ba, cõi trời Dạ-ma, trời Đâu suất đà, trời Hóa lạc, trời Tha hóa tự tại thuyết pháp. Các trời nghe Bồ-tát thuyết pháp, dần dần nhờ pháp ba thừa mà được diệt độ. Trong chúng chư thiên ấy, có người tham trước năm dục, thời Bồ-tát ấy thị hiện lửa cháy đốt cung điện họ mà vì họ thuyết pháp, nói rằng: Này chư thiên, hết thảy pháp hữu vi đều vô thường, đâu được an ổn!
* Lại nữa, Tu-bồ-đề, Ta dùng mắt Phật xem thấy Bồ-tát trong mười phương các cõi nước, thấy các Phạm thiên ở trong các cõi nước nhiều như cát sông Hằng tham trước tà kiến. Các Bồ-tát dạy khiến xa lìa tà kiến, nói rằng: Các ông làm sao ở trong các pháp tướng không, hư vọng mà sinh tâm tà kiến? Như vậy, Bồ-tát trú trong tâm đại từ vì chúng sinh thuyết pháp. Đó là pháp hiếm có khó bì kịp của các Bồ-tát.
* Lại nữa, Tu-bồ-đề, Ta dùng mắt Phật xem thấy các Bồ-tát trong mười phương các cõi nước nhiều như cát sông Hằng, lấy bốn việc nhiếp thủ (catuḥ-saṃgraha-vastu)

* Trang 307 *
device

 chúng sinh. Bốn việc là bố thí (dāna), ái ngữ (priyavacana), lợi hành (arthakṛtya) và đồng sự (samānārthatā).
Bồ-tát lấy việc bố thí nhiếp thủ chúng sinh như thế nào? Này Tu-bồ-đề, Bồ-tát do hai cách bố thí nhiếp thủ chúng sinh, là tài thí và pháp thí. Tài thí nhiếp thủ chúng sinh là thế nào? Đó là Bồ-tát lấy vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, chân châu, mã não, san hô, các vật báu; hoặc đồ ăn uống, y phục, đồ nằm, phòng xá, đèn đuốc, hoa hương, anh lạc, hoặc trai, hoặc gái, hoặc trâu dê, voi ngựa, xe cộ, hoặc thân mình cấp thí cho chúng sinh, nói với chúng sinh rằng: Các ngươi nếu có cần gì hãy đến lấy như lấy vật của mình, đừng nghi ngại, khó khăn. Bồ-tát thí rồi, dạy ba Quy y là quy Phật, quy y Pháp quy y Tăng. Hoặc dạy thọ năm giới; hoặc dạy thọ giới trong một ngày; hoặc dạy các thiền định, sơ thiền cho đến Phi-hữu-tưởng Phi-vô-tưởng xứ định; hoặc dạy từ, bi, hỉ, xả; hoặc dạy niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm giới, niệm xả, niệm thiên; hoặc dạy quán bất tịnh, quán hơi thở ra vào, hoặc tướng, hoặc xúc; hoặc dạy bốn niệm xứ cho đến tám phần thánh đạo;[1] hoặc dạy Không, Vô tướng, Vô tác tam-muội, tám bội xả, cho đến mười tám pháp không chung, hoặc dạy đại từ đại bi, 32 tướng, 80 vẻ đẹp tùy hình; hoặc dạy quả Tu-đà-hồn cho đến đạo Bích-chi Phật Vô thượng chánh đẳng
 

[1] T. 7: Đại Bát-nhã ba-la-mật-đa kinh (大般若波羅蜜多經), quyển 469, tr. 373c20-22: … Hoặc khuyên tu học quán bất tịnh, nhớ đếm hơi thở. Hoặc khuyên tu học tưởng vô thường cho đến tưởng diệt. Hoặc khuyên tu học bốn niệm trụ cho đến tám thánh đạo chi…

 

* Trang 308 *
device

chánh giác. Như vậy, Bồ-tát tu Bát-nhã ba-la-mật, do sức phương tiện dạy chúng sinh tài thí rồi, lại dạy khiến được Niết-bàn vô thượng an ổn. Này Tu-bồ-đề, ấy gọi là pháp hiếm có khó bì kịp của Bồ-tát.
 Này Tu-bồ-đề, Bồ-tát dùng pháp thí nhiếp thủ chúng sinh là thế nào? Này Tu-bồ-đề, pháp thí có hai là thế gian và xuất thế gian. Pháp thí thế gian là thế nào? Đó là diễn giải, chỉ bày pháp thế gian, như quán bất tịnh, quán hơi thở ra vào, bốn thiền, bốn tâm vô lượng, bốn định vô sắc. Pháp thế gian như vậy là pháp tu chung với phàm phu; ấy gọi là pháp thí theo thế gian. Bồ-tát pháp thí theo thế gian như vậy rồi, dùng mỗi mỗi nhân duyên giáo hóa, khiến xa lìa pháp thế gian. Xa lìa pháp thế gian rồi, dùng sức phương tiện khiến được thánh pháp vô lậu và thánh quả vô lậu. Thế nào là thánh pháp và thánh quả vô lậu? Thánh pháp vô lậu là 37 pháp trợ đạo, ba môn giải thốt. Thánh quả vô lậu là quả Tu-đà-hồn cho đến quả A-la-hán, đạo Bích-chi Phật và Vô thượng chánh đẳng chánh giác.
* Lại nữa, Tu-bồ-đề, thánh pháp vô lậu của Bồ-tát là trí tuệ đối với quả Tu-đà-hồn cho đến quả A-la-hán; trí tuệ đối với đạo Bích-chi Phật; trí tuệ đối với ba mười bảy pháp trợ đạo, sáu Ba-la-

* Trang 309 *
device

mật cho đến đại từ đại bi; trí tuệ hoặc thế gian, hoặc xuất thế gian, hoặc hữu lậu, hoặc vô lậu, hoặc hữu vi, hoặc vô vi. Đối với các pháp như vậy là trí Nhất thiết chủng, ấy gọi là thánh pháp vô lậu của Bồ-tát.
 Thế nào là thánh quả vô lậu? Đó là dứt hết thảy phiền não và tập khí, gọi là thánh quả vô lậu.
Tu-bồ-đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn, Bồ-tát được trí Nhất thiết chủng chăng?
Phật dạy: Như vậy, như vậy, Bồ-tát được trí Nhất thiết chủng.
Tu-bồ-đề thưa: Bồ-tát với Phật có gì sai khác?
Phật dạy: Có khác. Bồ-tát được trí Nhất thiết chủng gọi là Phật, vì sao? Vì tâm Bồ-tát với tâm Phật không có sai khác. Bồ-tát trú trong trí Nhất thiết chủng đối với hết thảy pháp không có điều gì không hiểu rõ; ấy gọi là Bồ-tát pháp thí theo thế gian. Bồ-tát nhân pháp thí theo thế gian mà được pháp thí theo xuất thế gian. Như vậy, Bồ-tát dạy chúng sinh, khiến được pháp thế gian, do sức phương tiện dạy khiến được pháp xuất thế gian.
Này Tu-bồ-đề, thế nào là pháp xuất thế gian? Đó là pháp không chung cùng với pháp phàm

* Trang 310 *
device

phàm phu, như bốn niệm xứ, bốn chánh cần, cho đến tám phần thánh đạo; ba môn giải thốt, tám bội xả, cho đến mười tám pháp không chung, 32 tướng, 80 vẻ đẹp tùy hình, 500 môn Đà-la-ni; ấy gọi là pháp xuất thế gian.
Này Tu-bồ-đề, thế nào là bốn niệm xứ (catvāri smṛty-upasthānāni)? Là Bồ-tát quán nội thân trên thân, quán ngoại thân trên thân, quán nội ngoại thân trên thân, siêng tinh tấn nhất tâm trí tuệ quán thân, quán nhân duyên tập khởi của thân, quán thân biệt, quán sự tập khởi của thân diệt. Hành đạo ấy không nương tựa gì, đối với thế gian không có ái nhiễm; quán thọ, tâm, pháp, niệm xứ cũng như vậy.
Này Tu-bồ-đề, thế nào là bốn chánh cần (catvāri prahāṇāni)? Là đối với pháp ác bất thiện chưa sinh, vì làm cho đừng sinh nên siêng sinh tâm tinh tấn. Đối với pháp ác bất thiện đã sinh, vì làm cho đoạn dứt nên siêng sinh tâm tinh tấn. Đối với thiện pháp chưa sinh, vì làm cho phát sinh nên siêng sinh tâm tinh tấn. Đối với pháp thiện đã sinh, vì làm cho tăng trưởng đầy đủ nên siêng sinh tâm tinh tấn; ấy gọi là bốn chánh cần.
Này Tu-bồ-đề, thế nào là bốn như ý túc (catvāra-ṛddhipādāḥ)? Đó là tu dục tam-muội, đoạn phiền não thành tựu, là như ý túc đầu; tu tinh tấn tam-muội, tâm tam-

* Trang 311 *
device

muội, tư duy tam-muội, đoạn phiền não thành tựu, là như ý túc thứ hai, ba, tư.
Thế nào là năm căn (pañcendriyāṇi)? Đó là tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn và huệ căn.
Thế nào là năm lực (pañca balāni)? Đó là tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực và huệ lực.
Thế nào là Bảy giác phần (saptabodhyaṅga)? Đó là niệm giác phần, trạch pháp giác phần, tinh tấn giác phần, hỷ giác phần, trừ giác phần (tức khinh an giác phần - ND), định giác phần và xả giác phần.
Thế nào là tám phần thánh đạo (āryāṣṭāṅgika-mārga)? Đó là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định.
Thế nào là ba môn tam-muội (trayaḥ samādhayaḥ)?[1] Đó là môn Không tam-muội, môn Vô tướng, Vô tác tam-muội.
Thế nào là Không tam-muội? Lấy hạnh Không, vô ngã để nhiếp tâm, ấy gọi là Không tam-muội.
Thế nào là Vô tướng tam-muội? Lấy hạnh tịch diệt, hạnh viễn ly nhiếp tâm, ấy là Vô tướng tam-muội.
 

[1] Xem Đại trí độ luận, quyển 20.

 

* Trang 312 *
device

Thế nào là Vô tác tam-muội? Lấy hạnh vô thường, hạnh khổ nhiếp tâm, ấy là Vô tác tam-muội.
Thế nào là tám bội xả (aṣṭa-vimokṣa)?[1] Bên trong có sắc tướng bên ngồi quán sắc, là bội xả đầu; bên trong không có sắc tướng bên ngồi quán sắc, là bội xả hai; tịnh bội xả, là bội xả ba; vượt qua hết thảy sắc tướng, diệt tướng hữu đối, không nghĩ đến hết thảy tướng sai khác, quán hư không vô biên, vào vô biên không xứ cho đến vượt qua hết thảy Phi-hữu-tưởng Phi-vô-tưởng xứ vào diệt thọ tưởng bội xả; ấy gọi là tám bội xả.
Thế nào là Định chín thứ lớp (navānupūrva-samāpattayaḥ)?[2] Đó là hành giả lìa dục, lìa pháp ác bất thiện, có giác có quán, lìa dục sinh hỷ lạc vào sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, cho đến vượt qua Phi-hữu-tưởng Phi-vô-tưởng xứ, vào định Diệt thọ tưởng; ấy gọi là định chín thứ lớp.
Thế nào là mười lực của Phật (daśa balāni)?[3] Đó là trí biết như thật: phải đạo lý, không phải đạo lý; trí biết các nghiệp, các pháp thọ báo; biết chỗ tạo nghiệp; biết nhân duyên; biết quả báo của chúng sinh quá khứ, vị lai, hiện tại; trí biết như thật các thiền định, giải thốt, tam-muội định, phân biệt tướng nhơ, sạch; biết các căn cao thấp sai khác của chúng sinh; biết các tính dục, kiến giải sai
 

[1] Xem Đại trí độ luận, quyển 21.
[2] Xem Đại trí độ luận, quyển 21.
[3] Xem Đại trí độ luận, quyển 24. 

 

* Trang 313 *
device

khác của chúng sinh; biết các tính của thế gian; biết chỗ đi đến của hết thảy; biết đời trước từ một đời cho đến vô lượng kiếp; biết như thật thiên nhãn thấy chúng sinh, sinh đường lành, đường dữ; như thật biết lậu hoặc hết nên được tâm vô lậu giải thốt; ấy là mười lực của Phật.
Thế nào là bốn điều không sợ?[1] Đó là Phật nói lời thành thật rằng: Ta là bậc Nhất thiết trí, hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, trời, ma, Phạm và chúng sinh khác nói như thật rằng: Pháp ấy Ta không biết, thời cho đến Ta không thấy có chút mảy may sợ hãi. Vì thế Ta được an ổn, được điều không sợ, an trú chỗ thánh chúa, ở giữa đại chúng cất tiếng rống Sư tử, chuyển bánh xe pháp phạm ma các Sa-môn, Bà-la-môn, hoặc trời, ma, Phạm, hoặc các chúng sinh khác thật không thể chuyển được; đó là điều không sợ thứ nhất.
Phật nói lời thành thật rằng: Ta sạch hết các lậu hoặc, nếu có Sa-môn, Bà-la-môn, hoặc trời, ma, phạm và các chúng sinh khác nói như thật rằng: Lậu hoặc ấy Ta không sạch hết, thời cho đến Ta không thấy có chút mảy may sợ hãi. Vì thế Ta được an ổn, được điều không sợ, an trú chỗ thánh chúa, ở giữa đại chúng cất tiếng rống Sư tử, chuyển bánh xe pháp, các Sa-môn, Bà-la-môn, trời, ma, Phạm, hoặc các chúng sinh khác
 

[1] Xem Đại trí độ luận, quyển 25, 48. 

 

* Trang 314 *
device

thật không thể chuyển được; đó là điều không sợ thứ hai.
Phật nói lời thành thật rằng: Ta nói pháp chướng đạo. Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn, hoặc trời, ma, Phạm và các chúng sinh khác nói như thật rằng: Lãnh thọ pháp ấy không chướng ngại đạo, thời cho đến Ta không thấy có chút mảy may sợ hãi. Vì thế Ta được an ổn, được điều không sợ, an trú chỗ thánh chúa, ở giữa đại chúng cất tiếng rống Sư tử, chuyển bánh xe pháp, các Sa-môn, Bà-la-môn, hoặc trời, ma, Phạm, hoặc các chúng sinh khác thật không thể chuyển được; đó là điều không sợ thứ ba.
Phật nói lời thành thật rằng: Ta nói thánh đạo có thể đưa ra khỏi thế gian, hành theo đó có thể hết khổ. Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn, hoặc trời, ma, Phạm và các chúng sinh khác nói như thật rằng: Hành đạo ấy không thể đưa ra khỏi thế gian, không thể hết khổ, thời cho đến Ta không thấy có chút mảy may sợ hãi. Vì thế Ta được an ổn, được điều không sợ, an trú chỗ thánh chúa, ở giữa đại chúng cất tiếng rống Sư tử, chuyển bánh xe pháp, các Sa-môn, Bà-la-môn, hoặc trời, ma, phạm, hoặc các chúng sinh khác thật không thể chuyển được; đó là điều không sợ thứ tư.

* Trang 315 *
device

Thế nào là bốn trí không ngại?[1] Đó là: 1. Trí biết nghĩa, thông suốt không ngại; 2. Trí biết pháp, thông suốt không ngại; 3. Trí biết từ ngữ, thông suốt không ngại; 4. Trí biết vui nói, thông suốt không ngại.
Thế nào là trí biết nghĩa thông suốt không ngại? Đó là trí biết duyên theo nghĩa lý; ấy là Trí biết nghĩa thông suốt không ngại.
Thế nào là trí biết pháp, thông suốt không ngại? Là trí tuệ duyên theo giáo pháp, là Trí biết pháp thông suốt không ngại.
Thế nào là trí biết từ ngữ, thông suốt không ngại? Là trí duyên theo từ ngữ, là Trí biết từ ngữ thông suốt không ngại.
Thế nào là trí biết vui nói, thông suốt không ngại? Là trí tuệ duyên theo sự vui nói, ấy là Trí biết vui nói thông suốt không ngại.
Thế nào là mười tám pháp không chung?[2] 1. Là thân Phật không có lỗi; 2. Là Miệng Phật không lỗi; 3. Tâm niệm Phật không lỗi; 4. Phật không có dị tưởng; 5. Phật không có tâm bất định; 6. Phật không có tâm không biết mà xả bỏ; 7. Sự ham muốn không giảm sút; 8. Tinh tấn không giảm sứt; 9. Niệm không giảm sút; 10. Tuệ không giảm sút; 11. Giải thốt không giảm sút; 12. Giải
 

[1] Xem Đại trí độ luận, quyển 25, 74.
[2] Xem Đại trí độ luận, quyển 26.

 

* Trang 316 *
device

thoát tri kiến không giảm sút; 13. Hết thảy thân nghiệp hành theo trí tuệ; 14. Hết thảy khẩu nghiệp hành theo trí tuệ; 15. Hết thảy ý nghiệp hành theo trí tuệ; 16. Trí tuệ biết đời quá khứ không ngại; 17. Trí tuệ biết đời vị lai không ngại và 18. Trí tuệ biết đời hiện tại không ngại.
Thế nào là 32 tướng?[1] 1. Lòng bàn chân bằng phẳng; 2. Lòng bàn chân có tướng bánh xe đủ ngàn tăm; 3. Ngón tay thon dài; 4. Gót chân rộng và bằng; 5. Ngón tay, ngón chân có lưới lụa xòe như của chim Nhạn; 6. Tay chân mềm mại; 7. Mu bàn chân cao và đầy; 8. Bắp đùi như nai chúa Y-nê-diên; 8. Khi đứng thẳng, ngón tay sờ đến đầu gối; 10. Tướng âm tàng như trâu chúa; 11. Thân cao và rộng cân đối như cây Ni-câu-loại; 12. Lông trên thân mọc xoay hướng lên; 13. Mỗi lỗ chân lông có một sợi lông; 14. Thân sắc vàng như màu hồng kim; 15. Có ánh sáng một trượng; 16. Da mỏng, mịn; 17. Bảy chỗ trên thân đều đặn; 18. Dưới hai nách đầy đặn; 19. Phần thân trên như Sư tử; 20. Thân to lớn và thẳng; 21. Vai tròn và đẹp; 22. Có 40 cái răng; 23. Răng đều đặn; 24. Răng trắng trong; 25. Hai má như Sư tử; 26. Được thượng vị trong các vị; 27. Lưỡi rộng, dài; 28. Có âm thanh như của trời Phạm thiên; 29. Mắt xanh biếc; 30. Lông mi như trâu chúa; 31. Nhục kế ở trên đầu; 32. Tướng lông trắng giữa hai chân mày.
 

[1] Xem Đại trí độ luận, quyển 4, 21, 29. 

 

* Trang 317 *
device

Thân Phật thành tựu 32 tướng, phóng hào quang chiếu khắp ba ngàn đại thiên thế giới, nếu muốn chiếu rộng thời khắp mười phương vô lượng vô số thế giới, vì chúng sinh nên thọ nhận hào quang một trượng ấy. Nếu phóng vô lượng ánh sáng thời không có số ngày tháng, thời tiết, năm. Âm thanh của Phật biến khắp ba ngàn đại thiên thế giới, nếu muốn âm thanh lớn thời biến khắp mười phương vô lượng vô số thế giới, tùy theo chúng sinh nhiều ít mà âm thanh đến khắp.
LUẬN: Hỏi: Từ trước lại đây, nơi nơi đều nói các pháp tính không, làm sao phân biệt thế nào là có thiện, bất thiện; từ sau đó trở đi, trong mỗi phẩm nói nghĩa không khác, cớ gì Tu-bồ-đề cứ mỗi mỗi hỏi lại?
Đáp: Việc ấy trên đã đáp rồi.[1] Lại nữa, chúng sinh từ vô thỉ sinh tử lại đây tâm nhiễm trước sâu nặng, khó hiểu nên Tu-bồ-đề cứ hỏi lại. Lại nữa, Bát-nhã ba-la-mật muốn nói yếu nghĩa của tính không ấy nên thường hỏi. Lại nữa, khi Phật ở đời, chúng sinh lợi căn dễ ngộ; sau Phật diệt độ khoảng 500 năm, chúng sinh trong đời Tượng pháp ưa đắm Phật pháp, rơi vào chỗ đắm pháp, hoặc nói các pháp đều không, như mộng, như huyễn, cớ gì lại có thiện (kuśala), bất thiện (akuśala)? Vì thế nên Tu-bồ-đề thương xót chúng sinh vị lai độn căn không hiểu, nên hỏi lại rằng: Bạch đức Thế Tôn, nếu các pháp đều không, cớ
 

[1] Xem Đại trí độ luận, quyển 86, 87, 40.

 

* Trang 318 *
device

sao phân biệt có thiện, bất thiện? Trong đây Phật tự nói nhân duyên: Vì tâm phàm phu điên đảo, đối với các pháp đều khởi lên dị kiến điên đảo, cho đến không thấy một pháp nào thật. Phàm phu đối với mộng thời đắm mộng, đối với người nằm mộng thời đắm việc người thấy mộng, cũng đắm việc trông thấy trong mộng. Hạng người ấy nếu không tin tội phước thời khởi lên ba nghiệp bất thiện, nếu tin tội phước thời khởi lên ba nghiệp thiện.
Nghiệp thiện, bất thiện, bất động. Nghiệp thiện là nghiệp ở trong cõi Dục, có quả báo vui thích; nghiệp bất thiện là nghiệp có quả báo ưu sầu, khổ não; nghiệp bất động là nghiệp có quả báo sinh vào cõi Sắc, cõi Vô sắc. Bồ-tát biết ba thứ nghiệp ấy đều là hư dối, không thật; ở trong hai Không, vì chúng sinh thuyết pháp, lấy rốt ráo không, phá chấp pháp; lấy vô thỉ không, phá chấp tướng chúng sinh. Ở vào trung đạo vì chúng sinh thuyết pháp, đó là năm uẩn, mười hai nhập, mười tám giới đều là không, như mộng, như huyễn cho đến như hóa, ở trong ấy không có mộng cũng không có người thấy mộng. Bồ-tát nói với chúng sinh rằng: Các người đối với pháp không, vì tâm điên đảo nên sinh chấp trước. Bồ-tát do sức phương tiện nên từ trong điên đảo kéo chúng sinh ra khỏi; thí như xan tham là điên đảo, lấy bố thí phá xan tham mà chúng sinh lại đắm theo bố thí ấy nên lại nói quả báo bố thí vô thường, không thật, từ bố

* Trang 319 *
device

thí kéo chúng sinh ra khỏi khiến trì giới. Từ trong trì giới và quả báo trì giới kéo chúng sinh ra khỏi, nói với chúng sinh rằng: Phước cõi trời hưởng hết thời vô thường khổ não, kéo chúng sinh ra khỏi trì giới khiến lìa dục, tu thiền định; lại nói thiền định và quả báo thiền định hư dối không thật, hay làm cho chúng sinh đọa vào điên đảo. Dùng mỗi mỗi nhân duyên nói tội lỗi vô thường của việc bố thí, trì giới, thiền định để khiến chúng sinh an trú Niết-bàn. Phương tiện được Niết-bàn là bốn niệm xứ cho đến mười tám pháp không chung. Nếu bố thí, trì giới, thiền định là pháp thật, thời không nên dạy khiến xa lìa; như lấy bố thí, trì giới… phá pháp phàm phu, ấy là nhân điên đảo phát sinh, tuy lợi ích chúng sinh thời gian ngắn, nhưng lâu dài thời biến khác, sinh ra khổ não, nên cũng dạy khiến lìa bỏ. Bồ-tát dùng sức phương tiện, trước dạy chúng sinh bỏ tội, tán thán phước đức bố thí, trì giới, tiếp đến nói việc bố thí, trì giới; cũng chưa thốt khỏi khổ não vô thường, nên lại nói các pháp không, chỉ xưng tán thật pháp, đó là Vô dư Niết-bàn. Khi ấy Tu-bồ-đề hoan hỉ cho là rất hy hữu. Bồ-tát có thể biết thật tướng các pháp như vậy. Nghĩa là biết rốt ráo không, mà vì chúng sinh thuyết pháp, khiến đạt đến Vô dư Niết-bàn. Phật dạy đó là một việc hy hữu. Hỏi là lại muốn biết pháp hy hữu của Bồ-tát. Hết thảy Thanh-văn, Bích-chi Phật không thể đáp pháp hy hữu của Bồ-tát ấy, huống gì là người khác!

* Trang 320 *
device

Tu-bồ-đề hỏi: Thế nào là lại có pháp hy hữu? Phật đáp như trong kinh đây nói.
Hỏi: Trong kinh này trước dạy khiến bố thí, trì giới, thiền định, nay lại nói lại, có gì sai khác?
Đáp: Trước nói về sinh thân Bồ-tát, này nói về hóa thân; trước nói về một cõi nước, nay nói vô lượng thế giới, có các sai khác như vậy.
Hỏi: Nếu Bồ-tát biết Phật là phước điền, chúng sinh chẳng phải phước điền, ấy là chẳng phải pháp Bồ-tát, vậy Bồ-tát dùng sức gì có thể làm cho Phật với súc sinh bình đẳng?
Đáp: Bồ-tát dùng sức Bát-nhã, đối với hết thảy pháp tu tâm rốt ráo không; thế nên đối với hết thảy pháp không có phân biệt. Như súc sinh do năm uẩn, 12 nhập, 18 giới hòa hợp sinh, gọi là súc sinh. Phật cũng như vậy, do các pháp lành hòa hợp, giả gọi là Phật. Nếu người thương xót chúng sinh được vô lượng phước đức thời đối với Phật sinh tâm chấp trước, khởi lên các ác sẽ mắc vô lượng tội. Thế nên biết vì hết thảy pháp rốt ráo không, nên không khinh chúng sinh, không tâm ái trước, quý trọng Phật.
* Lại nữa, thật tướng các pháp là vô tướng, trong vô tướng ấy không phân biệt là Phật, là chúng sinh; nếu phân biệt tức là chấp thủ tướng, thế nên xem bình đẳng.

* Trang 321 *
device

* Lại nữa, Bồ-tát có hai pháp môn: Một là pháp môn rốt ráo không, hai là pháp môn phân biệt tốt xấu. Vào pháp môn không thời được quán bình đẳng; vào pháp môn phân biệt thời các A-la-hán, Bích-chi Phật còn không bằng Phật, huống gì súc sinh! Vì người kia khinh chúng sinh, không thương xót bố thí, nên dạy khiến không phân biệt.
Hỏi: Thân Bồ-tát chẳng phải cây, đá, cớ sao chúng sinh đến cắt xẻ mà không sinh tâm dị?
Đáp: Có người nói: Bồ-tát lâu ngày tu nhẫn Ba-la-mật nên có thể không sầu não; như Sằn Đề Tiên nhân nhẫn nhục, bị người cắt tay chân mà huyết đều biến làm sữa.[1] Có người nói: Bồ-tát từ vô lượng kiếp lại đây tu sâu tâm đại từ bi, nên tuy có bị cắt xẻ cũng không ưu sầu, thí như cây cỏ không có tâm giận. Có người nói: Bồ-tát tu sâu Bát-nhã ba-la-mật, chuyển đổi thân được quả báo Bát-nhã tâm không, nên không biết rõ ràng. Khi bị cắt thân thể tâm cũng bất động, như vật bên ngồi bất động, bên trong cũng như vậy, vì được quả báo Bát-nhã nên đối với các pháp không phân biệt gì. Có người nói: thân Bồ-tát ấy không phải là trong vòng sinh tử, mà là pháp tính sinh thân[2] ngồi ba cõi, trú trong quả báo thánh tâm vô lậu, nên thân như cây đá mà có thể thương kẻ đến cắt xẻ. Bồ-tát ấy sinh tâm được như vậy nên khi bị cắt xẻ, cướp giựt vật bên trong, bên ngồi, tâm vẫn không lay động; ấy là pháp hy hữu của Bồ-tát.
 

[1] Nhân nhục tiên (kṣāti-vādi-ṛṣī): Cũng gọi là Sằn Đề Tiên nhân (Kṣānti-pāla), Sằn đề hòa (Kṣāntī-vādin). Hán dịch: Thuyết nhẫn, Nhẫn ngữ. Vị tiên nhân tu hành nhẫn nhục ở nước Ba-la-nại, Ấn độ, vào thời quá khứ, là tiền thân của đức Phật Thích ca, khi Ngài còn ở giai vị tu hành.
Đại trí độ luận, quyển 14: Ví như tiên nhân Sằn-đề ở trong đại lâm tu hành từ nhẫn, vua Ca-lợi đem các thể nữ, vào rừng vui chơi. Ăn uống xong xuôi, vua tạm ngủ nghỉ, để các thể nữ đi hái hoa giữa rừng, thấy vị tiên ấy thì cung kính lễ bái, rồi đứng qua một bên. Bấy giờ tiên nhân nói lời khen ngợi hành từ bi nhẫn nhục cho các thể nữ nghe. Lời nói hay ho, nghe không biết chán nên đã lâu mà không đi. Vua Ca-lợi thức dậy không thấy thể nữ, rút kiếm đi tìm tung tích, thấy đang đứng trước tiên nhân, lòng vua kiêu căng ganh ghét, bừng bừng trợn mắt huơ kiếm, hỏi tiên nhân rằng: “Ngươi là người nào?” Tiên nhân đáp: “Tôi ở nơi này tu hành từ bi nhẫn nhục.” Vua nói: “Nay ta thử ngươi, sẽ lấy gươm bén cắt tai mũi ngươi, chặt tay chân ngươi. Nếu ngươi không giận mới biết là ngươi tu nhẫn nhục.” Tiên nhân nói: “Mặc ý!” Vua liền rút kiếm cắt tai mũi, chặt tay chân tiên nhân, mà hỏi rằng: “Tâm ngươi có động chăng?” Đáp: “Tôi tu từ nhẫn, tâm chẳng động.” Vua nói: “Ngươi một thân ở đây, không có thế lực, tuy miệng nói chẳng động, ai mà tin được?” Khi ấy tiên nhân liền phát lời thề rằng: “Nếu tôi thật tu từ nhẫn, thì huyết sẽ thành sữa.” Tức thì huyết biến thành sữa, vua rất kinh hãi, vui mừng, đem các thể nữ đi.
[2] Đại trí độ luận, quyển 28, chương 40: giải thích sáu thần thông: Bồ-tát vào pháp vị, trú ở địa vị bất thối chuyển, hết nhục thân cuối cùng, được pháp tánh sanh thân, tuy đã dứt các phiền não, mà còn nhân duyên của tập khí phiền não nên thọ pháp tánh sanh thân, chứ chẳng phải sanh ở ba cõi.
 Pháp tính sinh thân: Thân hóa sinh ngoài ba cõi của Phật và các bậc đại Bồ-tát, là một trong năm loại Pháp thân của Như-lai, một trong hai thứ thân của Bồ-tát. Sinh thân này thể chứng pháp tính, được vô sinh pháp nhẫn, khác với nhục thân ở trong bào thai hoặc do nghiệp chiêu cảm; thân Như-lai chính là đã sinh ra từ thân Pháp tính này. Nếu phối hợp với ba thân thì thân này tương đương với Báo thân Phật mà ngài Cát tạng đã nói.
Pháp tính sinh thân của đức Phật có vô lượng vô số a tăng kỳ các vị Bồ-tát Nhất sinh bổ xứ theo hầu. Đó là vì trong vô lượng a tăng kỳ kiếp Phật đã chứa nhóm các công đức thiện căn, cho nên làm việc gì cũng thành tựu, nguyện nào cũng viên mãn. Còn Bồ-tát, sau khi được Vô sinh pháp nhẫn, xả bỏ nhục để thụ thân đời sau; vì Bồ-tát thể nhập được vô sinh nhẫn, nên không còn các phiền não, đã chẳng chứng quả Nhị thừa, lại cũng chưa thành Phật, vì thế thân mà Bồ-tát thụ trong khoảng đó cũng gọi là Pháp tính sinh thân.  

 

* Trang 322 *
device

* Lại nữa, pháp hy hữu là như trong Kinh đây nói: Ta dùng mắt Phật xem thấy Bồ-tát trong mười phương thế giới nhiều như cát sông Hằng vào trong địa ngục làm lửa tắt, nước sôi nguội; lấy ba việc giáo hóa chúng sinh như trong Kinh này nói.
Hỏi: Nếu như vậy, không nên có ba đường ác?
Đáp: Chúng sinh trong ba đường ác vô biên vô lượng, Bồ-tát tuy vô lượng vô biên mà số chúng sinh nhiều gấp vô lượng. Bồ-tát tùy theo chúng sinh có nhân duyên có thể độ, nếu ở trong ba đường ác mà có các công đức thời Bồ-tát độ, còn kẻ tội trọng thời không thấy Bồ-tát. Trong tâm Bồ-tát chỉ một tướng, không có phân biệt, nên không mỗi mỗi tìm kiếm chúng sinh. Thí như việc đại xá, kẻ tội gần mãn hạn thời được ra khỏi, kẻ không gần mãn hạn thời không mong ra.
Hỏi: Nếu chúng sinh cắt xẻ Bồ-tát, hoặc ăn thịt Bồ-tát, thời phải có tội, làm sao được độ?
Đáp: Bồ-tát có bản nguyện: Nếu có chúng sinh ăn thịt ta, ta sẽ làm cho được độ, như trong kinh đây nói: Chúng sinh ăn thịt Bồ-tát thời sinh lòng từ; thí như có sắc, thanh, hương, xúc, có người nghe thấy thời mừng, lại có người nghe thấy thời nổi giận; mùi vị cũng như vậy, có người nổi giận, có người sinh lòng từ. Như trong kinh Tỳ-ma-la-cật nói: Ăn cơm cõi Hương Tích mà có người bảy ngày được đạo, có người không được.[1] Chẳng phải vì ăn thịt nên được độ, mà vì khởi phát lòng từ
 

[1] T. 14: Duy ma cật sở thuyết kinh (Vimalakīrti-nirdeśa-sūtra- 維摩詰所說經), quyển 3, tr. 553c5-13. 

 

* Trang 323 *
device

nên được khỏi súc sinh, mà sinh vào thiện xứ, gặp Phật, được độ. Có Bồ-tát trải qua vô lượng vô số kiếp hành sâu lòng từ, lấy vật bên ngồi cấp thí cho chúng sinh, ý chưa thỏa mãn, lại tự đem thân bố thí mới làm đầy đủ. Như trong kinh Pháp Hoa, Bồ-tát Dược Vương (Bhaiṣajya-rāja Bodhisattva) lấy vật châu báu bên ngồi cúng dường Phật, ý chưa thỏa mãn, lại lấy thân làm đèn cúng dường Phật, bấy giờ mới thỏa mãn.[1]
* Lại nữa, người có được vật bên ngồi tuy nhiều mà không cho là có ơn, vì sao? Vì không phải là vật quý trọng đáng ưa. Khi được thân thể kia mới cảm kích, kính trọng; thế nên lấy thân bố thí. Bồ-tát lại vì hàng chư thiên thuyết pháp như trong Kinh đây nói rộng.
Lấy bốn việc nhiếp thủ chúng sinh là bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự. Bố thí có hai như trong Kinh đây nói rộng.
Hỏi: Cớ gì lược nói bốn đạo khác, mà nói rộng việc của nhân đạo?
Đáp: Trong ba ác đạo, vì khổ nhiều nên chúng sinh ít nghi; nếu thấy việc thần thông hy hữu của Bồ-tát thời tin liền, ưa đắm, nên được độ. Chư thiên vì có mắt trời, tự thấy nhân duyên quả báo tội phước, Bồ-tát hiện chút ít thần túc thời liền hiểu. Người vì mắt thịt, không thấy quả báo tội phước, lại phần nhiều đắm theo thầy tà ngoại đạo và kinh sách tà kiến. Các phiền não có hai phần: một là thuộc kiến, hai là thuộc ái. Nếu chỉ
 

[1] T. 9: Diệu pháp liên hoa kinh (Saddharmapuṇḍarīka-sūtra-妙法蓮華經), quyển 6, tr. 53a5-54a12. 

 

* Trang 324 *
device

có một phần thời không thể thành tội lớn. Người có ba độc, lại có sức tà kiến thời có thể làm đủ việc ác nặng; người tà kiến lại có tham dục, sân giận thời có thể làm việc tội nặng. Như Tu-đà-hồn tuy còn có ba độc, song vì không có tà kiến nên không gây tội nặng, rơi vào ba đường ác. Thế nên trong lồi người, nhiều người có ba độc tà kiến, mắt không thấy nhân duyên tội phước cho nên khó độ, vì khó độ nên Phật nói nhiều.
Hỏi: Nếu như vậy, thời đối với bốn việc, cớ gì nói nhiều về bố thí nói ít về ba việc kia?
Đáp: Trong bố thí nhiếp đủ ba việc nên lấy tài thí, pháp thí giáo hóa chúng sinh thời không việc gì không nhiếp. Lại nữa, trong bốn việc trước tiên, mở rộng bố thí thời biết ba việc khác cũng như vậy.
Hỏi: Nếu như vậy, cớ gì nói lược về bố thí mà nói rộng về pháp thí?
Đáp: Tài thí ít, pháp thí rộng rãi, vì cớ sao? Vì tài thí được quả báo có hạn lượng, pháp thí được quả báo không có hạn lượng. Tài thí ràng buộc vào cõi Dục, thọ quả báo ở cõi Dục; pháp thí cũng ràng buộc và thọ quả báo trong ba cõi và cũng là quả báo ra ngồi ba cõi. Tài thí hay cho cái vui giàu sang trong ba cõi, pháp thí hay cho cái vui thường hằng của Niết-bàn.
Lại, tài thí từ pháp thí sinh. Nhờ nghe pháp mà làm bố thí. Lại nữa, quả báo của tài thí chỉ được giàu 

* Trang 325 *
device

vui, không có các thứ khác; quả báo của pháp thí cũng có giàu vui, cũng có các thứ khác, cho đến được quả báo Phật đạo, Niết-bàn. Do nhân duyên ấy nên nói nhiều về pháp thí.
Hỏi: Trong kinh này cớ gì Tu-bồ-đề hỏi: Bồ-tát được trí Nhất thiết chủng chăng?
Đáp: Ý Tu-bồ-đề là: Nếu khi Bồ-tát được trí Nhất thiết chủng thời không còn gọi là Bồ-tát, làm sao chưa được thành Phật mà có thể được trí Nhất thiết chủng? Được trí Nhất thiết chủng mới gọi là Phật; nếu trước đã là Phật thì cần gì đến trí Nhất thiết chủng? Phật đáp: Nay được trí Nhất thiết chủng gọi là Bồ-tát; đã được trí Nhất thiết chủng thời gọi là Phật. Khi Bồ-tát đầy đủ nhân duyên làm Phật, sinh tâm muốn được trí Nhất thiết chủng, được rồi gọi là Phật. Nói một cách chơn thật: Bồ-tát không được, Phật cũng không được, vì sao? Vì Bồ-tát thì chưa được còn Phật đã được rồi không còn được lại! Theo pháp thế tục nên nói Bồ-tát nay được, Phật đã được rồi; theo đệ nhất nghĩa thời không có hết thảy pháp, huống gì có Phật và Bồ-tát! Lại trong Kinh đây nói: Tâm Phật không khác Bồ-tát, Bồ-tát không khác tâm Phật; thứ lớp nối nhau không dứt. Lại hai tâm đều Như, vì không có khác, không có phân biệt.
Hỏi: Định chín thứ lớp, 32 tướng, 80 vẻ đẹp tùy hình là pháp thế gian chung có, cớ gì gọi là pháp không chung của xuất thế gian?

 

* Trang 326 *
device

Đáp: Bốn thiền, bốn định vô sắc, định diệt thọ tưởng gọi là định chín thứ lớp. Đối với định diệt thọ tưởng chỉ Thánh nhân có được, còn bốn thiền, bốn định vô sắc từ sơ thiền khởi lên không xen tâm khác mà vào nhị thiền, từ nhị thiền cho đến vào Diệt tận định, trong mỗi mỗi niệm thọ nhận không xen tâm khác nên gọi là thứ lớp. Phàm phu là người tội, độn căn, làm sao có thể được 32 tướng? Như Chuyển luân Thánh vương, Đề-bà-đạt-đa, Nan-đà được tướng ấy, tên gọi tuy đồng mà về đầy đủ uy đức, trong sạch đúng chỗ thời không đồng với Phật. Như trước đã phân biệt tướng của Chuyển luân Thánh vương và tướng của Phật khác nhau.[1] Lại, tướng ấy là quả báo của thánh pháp vô lậu, quả tự tại theo ý, vô lượng vô biên, còn tướng của Chuyển luân Thánh vương là do nghiệp phước đức, không được tự tại, có hạn có lượng.
* Lại nữa, Đề-bà-đạt-đa, Nan-đà chỉ có 30 tướng, không phải có 32 tướng; Chuyển luân Thánh vương tuy có 32 tướng mà không có uy đức, không đầy đủ, không đúng chỗ, đi kèm với tham ái, phiền não v.v... Tám mươi vẻ đẹp tùy hình đầy đủ chỉ Phật và Bồ-tát có được, những người khác có thể có số ít, hoặc ngón tay thon dài, hoặc bụng nhỏ mà không có uy đức tốt đẹp nên không nói đến. Thế nên nói, pháp xuất thế gian không chung với phàm phu, không có lỗi.
Hỏi: Từ trước lại đây nơi nơi nói các pháp năm uẩn cho đến trí Nhất thiết chủng mà không nói 32
 

[1] Xem Đại trí độ luận, quyển 4, 25.
hoa kinh (Saddharmapuṇḍarīka-sūtra-妙法蓮華經), quyển 6, tr. 53a5-54a12. 

* Trang 327 *
device

tướng, 80 vẻ đẹp tùy hình ấy, nay Kinh này sắp hết, cớ gì trong mỗi phẩm lại nói?
Đáp: Phật có hai thân là sinh thân và pháp thân; trong hai thân ấy, pháp thân là lớn. Pháp thân lớn nên sự lợi ích nhiều, như từ trước lại đã nói rộng. Nay gần hết kinh, về nghĩa sinh thân cần nên nói, cho nên nay nói.
* Lại nữa, sinh thân tướng đẹp trang nghiêm là quả báo của thánh pháp vô lậu, nay thứ lớp nói, còn trên kia nói xen lẫn với các Ba-la-mật. Nghĩa của bốn niệm xứ v.v... như trước nói.[1] Nghĩa của mười lực của Phật là sâu xa, nay sẽ lược nói.
Hỏi: Mười lực của Phật là,[2] nếu theo tướng chung mà nói thời chỉ một lực, đó là lực trí Nhất thiết chủng; nếu theo tướng riêng nói thời có ngàn, vạn, ức lực, theo mỗi pháp để gọi tên; nay cớ gì chỉ nói mười lực?
Đáp: Phật thật có vô lượng trí lực, song chỉ vì chúng sinh không thể có được, không thể hành được, nên không nói. Mười lực ấy đối với chúng sinh có thể độ  vừa đủ dùng để độ, vì sao? Vì Phật dùng trí lực thị xứ, phi xứ quyết định biết lẽ nhân quả trong hết thảy pháp. Nghĩa là tạo nghiệp ác thời đọa vào đường ác, là có lẽ ấy (thị xứ), tạo nghiệp ác mà sinh lên cõi trời là không có lẽ ấy (phi xứ); làm nghiệp thiện cũng như vậy. Không lìa năm triền cái, không tu bảy giác chi mà được đạo,
 

[1] Xem Đại trí độ luận, quyển 19.
[2] Xem Đại trí độ luận, quyển 24, 25. 

 

* Trang 328 *
device

, không có lẽ ấy (phi xứ); lìa năm triền cái, tu bảy giác chi mà được đạo, có lẽ ấy (thị xứ). Chín trí lực kia đều vào trong trí lực này. Phật dùng trí lực này trù lượng chúng sinh trong mười phương sáu đường, kẻ có thể độ, kẻ không thể độ; kẻ có thể độ thời dùng mỗi mỗi nhân duyên thần thông biến hóa để độ thốt; kẻ không thể độ thời đối với người âáy tu tâm xả. Thí như thầy thuốc hay xem tướng trạng của bệnh mà thẩm định biết có thể sống thời chữa trị, không thể sống thời rời bỏ. Phương tiện độ chúng sinh là hai lực là nghiệp lực và định lực. Tìm nơi thọ sinh của nghiệp lực kia, người do nghiệp mà thọ thân, bị ràng buộc trong thế gian, do lực thiền định nên được giải thốt. Hành giả tất phải tìm hiểu khổ từ đâu sinh, do đâu diệt, thế nên dùng hai lực. Nghiệp lực có hai phần: Một là nghiệp sạch có thể dứt nghiệp ác, hai là nghiệp nhơ. Nghiệp sạch là thiền, định, giải thốt, các tam-muội; nghiệp không sạch là nghiệp cho thọ thân trong ba cõi. Người có hai hạng: hạng độn căn vì thọ thân nên tạo nghiệp, hạng lợi căn vì diệt thân nên tạo nghiệp.
Hỏi: Nếu như vậy, cớ gì không đều dạy khiến làm nghiệp sạch?
Đáp: Vì chúng sinh căn có lợi, độn.
Hỏi: Chúng sinh vì sao có lợi, độn?
Đáp: Vì lực mạnh của dục, chúng sinh có tâm ác dục, thường vào chỗ ác, nên độn. Dục là tham muốn. 

* Trang 329 *
device

Tham muốn việc tội sinh nghiệp ác, nên độn. Người ham muốn thiện thời vui đạo, tu các pháp trợ đạo nên lợi.
Hỏi: Chúng sinh vì sao không đều ham muốn thiện?
Đáp: Vì thế mà Phật nói thế gian có mỗi mỗi tính: Tính thiện, tính ác… Người tính ác ham muốn điều ác, ham muốn ác nên căn độn; như tính lửa nóng, tính nước ước, không nên trách vì sao.
Hỏi: Ham muốn ác tức là tính ác, có gì sai khác mà làm thành hai lực?
Đáp: Có tính trước, vì muốn được nên phát sinh; thí như trước có ghẻ, vì chạm đến nên ra máu. Tính ở trong, ham muốn ở ngồi; tính nặng, ham muốn nhẹ; tính khó trừ, ham muốn dễ bỏ; tính sâu, ham muốn cạn. Dùng tính tạo nghiệp chắc sẽ thọ báo, dùng ham muốn tạo nghiệp không chắc thọ báo; có sai khác như vậy.
Lại, có người nói: Tập thường ham muốn tăng trưởng bèn thành tính. Tính cũng có thể phát sinh ham muốn. Người ấy nếu đời này hoặc đời sau thường tập ham muốn thời trở thành tính. Từ tính ấy mà làm ác, làm thiện; nếu ở tính thiện thời có thể độ, nếu ở tính ác thời không thể độ. Phật đã biết hai tính của chúng sinh rồi, lại biết quả báo kia theo đường thiện, đường ác khác nhau. Tính ác thời đọa vào ba đường ác, tính thiện thời thành bốn đường: Người, trời, A-tu-la và Niết-bàn. 

* Trang 330 *
device

Hỏi: Trí lực biết chỗ đến của hết thảy với lực thiên nhãn, có gì sai khác?
Đáp: Lực thiên nhãn chỉ thấy được khi sinh, khi chết, còn đây là biết được khi chưa chết. Thiên nhãn thấy nhân biết quả, còn đây thấy quả báo tội phước hiện tiền, đó là trí lực biết chỗ đến của hết thảy (chí xứ đạo lực).
Hỏi: Thanh-văn, Bích-chi Phật cũng được Niết-bàn, cũng có thể giáo hóa chúng sinh, cớ sao không có lực ấy?
Đáp: Vì thế mà nói ba lực sau biết việc chúng sinh trong ba đời thông suốt cùng khắp. Dùng lực biết mạng sống đời trước, biết khắp việc gốc, ngọn quá khứ của hết thảy chúng sinh. Do lực thiên nhãn sinh tử, biết khắp vô lượng việc trong đời vị lai của chúng sinh. Biết như vậy rồi, biết chúng sinh trong hiện tại, người có thể độ thời vì họ nói pháp dứt hết lậu hoặc. Vì thế nên chỉ có Phật mới có lực ấy, hàng Nhị thừa không có. Như có một người ngay trong một ngày có thể được A-la-hán mà Xá-lợi-phất nói trong một ngày không thể có nhân duyên được đạo, bèn bỏ đi mà không chịu độ. Lúc xế chiều, Phật dùng thần thông túc mạng, thấy người ấy trải qua hơn tám vạn kiếp trước, có nhân duyên được độ nay đã thành tựu, nên Phật thuyết pháp cho, liền được đạo quả A-la-hán.
* Lại nữa, Phật dùng trí lực đầu, biết tướng chúng sinh có thể độ hay không thể độ. Dùng lực thứ hai, biết 

* Trang 331 *
device

chúng sinh bị hai chướng ngăn che. Người không bị ngăn che thời dùng lực thứ ba, biết chúng sinh, người có thiền định, giải thốt, tịnh, bất tịnh. Dùng lực thứ tư, biết căn tính chúng sinh có lợi, có độn, có thể thông hiểu pháp tính, không thông hiểu pháp tính. Dùng lực thứ năm, biết nhân duyên căn lợi, độn và ham muốn thiện, ác của chúng sinh. Dùng lực thứ sáu, biết mỗi mỗi tính của hai dục. Dùng lực thứ bảy, biết căn lợi, độn và bảy chỗ quả báo thiện, ác của chúng sinh. Dùng lực thứ tám, biết nghiệp thiện, ác đời trước của chúng sinh chướng ngại hay không chướng ngại. Dùng lực thứ chín, biết chúng sinh đời nay chưa thể độ, sinh đời sau có thể độ. Dùng lực thứ mười biết chúng sinh do cửa giải thốt Không mà vào Niết-bàn, hoặc do cửa Vô tướng, Vô tác mà vào Niết-bàn biết chúng sinh đối với kiến đế đạo, tư duy đạo trong mỗi niệm dứt được bao nhiêu kiết sử. Do mười trí lực ấy, trù lượng nhân duyên của chúng sinh có thể độ mà vì họ thuyết pháp. Do thế mà thuyết pháp không uổng lời.
Hỏi: Trí tuệ của Phật vô lượng, thân tướng Phật cũng vô lượng. Lại thân Phật hơn các thiên vương, cớ gì Phật đồng với Chuyển luân Thánh vương, có 32 tướng?
Đáp: Ba mươi hai tướng không nhiều không ít, nghĩa lý như trước đã nói.[1] Lại nữa, có người nói: Tướng của Phật và Bồ-tát không hiện nhất định như trong đây nói. Tùy theo chỗ chúng sinh ưa thích có thể dẫn dắt tâm họ mà hiện tướng.
 

[1] Xem T. 25: Đại trí độ luận, quyển 4, tr. 90a27-29; T. 1: Trường a hàm kinh (Dīrghāgama長阿含經), quyển 13, tr. 82b7-16;  T. 1: Trung a hàm kinh (Madhyamāgama-中阿含經), quyển 11, Vương tương ưng phẩm 6 (王相應品6), tr. 493c15-17; T. 1: Phạm ma du kinh (梵摩渝經), quyển 1, tr. 883c22-884a11; T. 3: Phật bản hạnh tập kinh (佛本行集經), quyển 9,  tướng sư chiêm khán phẩm 8 (相師占看品8), tr. 692c19-26; T. 17, số 763: Kinh Phật thuyết pháp thừa nghĩa quyết định (佛說法乘義決定經).
 

 

* Trang 332 *
device

Lại, hoặc như có chúng sinh không quý vàng mà quý các sắc khác, như lưu ly, pha lê, kim cương. Nếu người thế gian như vậy thời Phật không hiện sắc vàng mà hiện các sắc đáng ưa khác.
Lại, hoặc có chúng sinh không quý ngón tay thon, dài và có màn lưới, vì ngón tay dài, có móng sắt là tướng quỷ La-sát; vì màn lưới là tướng chim Nhạn, làm việc không tiện, như mặc áo v.v..., thời cần dùng làm gì? Hoặc như ở nước Kế-tân (Kaśmīra), Bồ-tát Di-đế-lệ-thi-lị tay có màn lưới, người cha ghét cho là quái dị, lấy dao cắt đi, nói rằng sao con ta giống như chim. Hoặc có người không ưa vai tròn lớn, cho là giống như bứu; hoặc cho bụng không hiện bày như tướng đói; hoặc cũng có người cho mắt xanh là không đẹp, chỉ ưa mắt trắng, đen, phân minh v.v... Thế nên biết, Phật tùy chỗ ưa thích của chúng sinh mà hiện tướng. Như vậy, thường không có nhất định.
Có người nói: 32 tướng ấy là thật có nhất định, do sức thần thông biến hóa thân, theo chỗ ưa thích của chúng sinh mà hiện tướng.
Có người nói: Phật có khi thần thông biến hóa, có khi theo chỗ sinh ở thế gian, chỗ sẽ sinh đến, không được nói do thần thông biến hóa.
Lại, trong ba ngàn đại thiên thế giới sinh ra theo chỗ chúng sinh có thể độ mà hiện tướng, như trong kinh Mật-tích nói, hoặc hiện thân sắc vàng, hoặc hiện thân sắc bạc, hoặc hiện sắc mặt trăng, mặt trời, tinh tú; hoặc 

* Trang 333 *
device

hoặc dài hoặc ngắn, tùy theo chúng sinh có thể dắt dẫn mà hiện tướng.[1] Ở đây, tùy theo người nước Thiên Trúc trong cõi Diêm-phù-đề (Jambu-dvīpa) ưa thích thời Phật hiện 32 tướng. Người nước Thiên Trúc đến nay cố sửa bắp vai cho dày, lớn, trên đầu đều có bện tóc là đẹp. Theo như tướng người, nói tướng năm chỗ dài là đẹp. Tướng mắt, mũi, lưỡi, cánh tay, ngón tay, đùi, tay, chân; hoặc có bánh xe, hoặc như hoa sen, hoặc màu trắng ốc, hoặc như mặt trời mặt trăng; thế nên bàn tay, bàn chân Phật có tướng bánh xe ngàn tăm, ngón tay thon, dài; mũi cao, đẹp; lưỡi rộng, dài và mỏng. Những tướng như vậy đều hơn các tướng đã quý như trước, nên khởi tâm cung kính. Có cõi nước Phật hiện ra ngàn vạn tướng, hoặc vô lượng vô số tướng, hoặc năm, sáu, ba, bốn tướng; ở đây vì theo chỗ ưa thích của người Thiên Trúc nên Phật hiện 32 tướng, 80 vẻ đẹp tùy hình.
                           (Hết cuốn 88 theo bản Hán)
 
KINH: Thế nào là 80 vẻ đẹp tùy hình[2] (aśīty-anuvyañjanāni)? 1. Đỉnh đầu không thể thấy; 2. Mũi thẳng, cao, đẹp, lỗ mũi kín; 3. Mí mắt như trăng mới mọc, có màu xanh lưu ly; 4. Vành tai mọc thòng xuống; 5. Thân chắc thật như lực sĩ trời Na-la-diên; 6. Khớp xương như móc câu; 7. Mỗi lần thân xoay như voi chúa;[3] 8. Khi đi chân cách đất bốn tấc, có dấu ấn hiện trên đất;[4] 9. Móng tay màu đồng đỏ, mỏng và
 

[1] T. 11: Đại bảo tích kinh (Ratnakūṭa-sūtra-大寶積經), quyển 10, Mật tích kim cang lực sĩ hội (密迹金剛力士會), tr. 53b24-c5.
[2] T. 17, số 763: Kinh Phật thuyết pháp thừa nghĩa quyết định (佛說法乘義決定經), quyển 3, tr. 659b21-660a14: Arthaviniścaya-sūtram: Katamāni aśītyanuvyañjanāni? tāmranakhāśca buddhā bhagavantaḥ, snigdhanakhāśca uttuṅganakhāśca vṛttāṅgulinakhāśca cittāṅgulayaśca anupūrvāṅgulayaśca gūḍhaśirāśca nirgranthiśirāśca gūḍhagulphāśca siṁhavikrāntagāminaśca nāgavikrāntagāminaśca haṁsavikrāntagāminaśca vṛṣabhavikrāntagāminaśca pradakṣiṇagāminaśca cārugāminaśca avakragātrāśca vṛttagātrāśca anupūrvagātrāśca pṛthugurumaṇḍalāśca paripūrṇavyañjanāśca samakramāśca śucigātrāśca mṛdugātrāśca viśuddhagātrāśca utsadagātrāśca susaṁhatagātrāśca suvibhaktapratyaṅgāśca vitimiraśuddhalocanāśca vṛttakukṣayaśca mṛṣṭakukṣayaśca abhagnakukṣayaśca kṣāmodarāśca gambhīranābhayaśca āvartanābhayaśca samantaprāsādikāśca śucisamācārāśca vyapagatatilakagātrāśca tūlasadṛśasukumārapāṇayaśca snigdhapāṇirekhāśca gambhīrapāṇirekhāśca.....nirekhāśca alpāyatavadanāśca bimbapratibimbaapratibimbadaśanavadanāśca mṛdujihvāśca tāmrajihvāśca gajagarjitajīmūtaghoṣāśca madhuragurumañjusvarāśca vṛttadaṁṣṭrāśca tīkṣṇasamadaṁṣṭrāśca anupūrvadaṁṣṭrāśca tuṅganāsāśca śucināsāśca viśālanayanāśca āyatalekhanāśca vi(kasi)tapadmanayanāśca nīlotpaladalanayanāśca vyāyatapīnacakṣuṣaśca āyatabhruvaśca samaromabhruvaśca snigdhabhruvaśca pīnāyatakarṇāśca samakarṇāśca anupahatakarṇāśca supariṇatalalāṭāśca suparipūrṇāśca bhramarasadṛśakeśāśca vṛttakeśāśca śuklakeśāśca asaṁsuḍhitakeśāśca aparuṣakeśāśca suparikeśāśca śrīvatsasvastikanandyāvartacakravajrapadmamatsyādilāñchanapādatalāśca buddhā bhagavanto bhavanti, imāni bhikṣavastathāgatasya aśītyanuvyañjanāni kāye nirvṛtāni.
[3] Đại trí độ luận, quyển 34: Như voi chúa xem nhìn là khi muốn xoay thân để nhìn thì cả thân đều chuyển, thân tâm chuyên nhất là tướng đại nhân, thế nên nếu có xem nhìn, thì cả thân tâm đều xoay.
[4] Đại trí độ luận, quyển 34: Chân đi cách đất bốn ngón tay là nếu Phật thường bay đi, thì chúng sanh nghi lấy làm lạ, bảo Phật chẳng phải người, thời không quay về nương tựa, còn nếu chân đi đến đất thời chúng sanh cho chẳng khác người thường, không sanh tâm cung kính. Thế nên tuy là đi trên đất, cách đất bốn ngón tay mà tướng dấu bánh xe dưới bàn chân vẫn hiện rõ.

 

* Trang 334 *
device

mướt; 10. Xương đầu gối cứng, tròn, đẹp; 11. Thân sạch sẽ; 12. Thân mềm mại; 13. Thân không cong; 14. Ngón tay tròn, thon; 15. Ngón tay đẹp; 16. Mạch sâu; 17. Mắt cá kín; 18. Thân mịn màng; 19. Thân vững chắc, đi không xiêng xẹo; 20. Thân đầy đặn; 21. Thức đầy đủ; 22. Dung nghi đầy đặn; 23. Chỗ ở yên ổn không thể động; 24. Uy đức chấn động hết thảy; 25. Mọi người đều ưa xem; 26. Mặt không lớn dài; 27. Dung mạo đoan chính, không pha tạp; 28. Mặt đầy đủ; 29. Môi đỏ như màu trái Tần-bà; 30. Âm vang sâu lắng; 31. Rốn sâu, tròn, đẹp; 32. Lông trên thân xoay về phía hữu; 33. Tay đầy đủ; 34. Tay chân vừa ý; 35. Chỉ tay rõ ràng, ngay thẳng; 36. Chỉ tay dài; 37. Chỉ tay không dứt; 38. Chúng sinh ác tâm trông thấy hòa vui; 39. Mặt rộng, đẹp; 40. Mặt đầy đặn, trong sáng như trăng; 41. Theo ý chúng sinh vui vẻ cùng nói; 42. Lỗ chân lông tỏa mùi thơm; 43. Miệng tỏa mùi thơm; 44. Nghi dung như Sư tử; 45. Đi đứng như voi chúa; 46. Cách đi như ngỗng chúa; 47. Đầu như quả Ma-la-đà; 48. Âm thanh rõ ràng; 49. Răng bén; 50. Sắc lưỡi màu hồng; 51. Lưỡi mỏng; 52. Sắc lông màu hồng; 53. Lông trong sạch; 54. Mắt rộng, dài; 55. Tướng các khiếu (lỗ) đầy đủ; 56. Tay chân trắng thuần như hoa sen; 57. Rốn không bày; 58. Bụng không bày; 59. Bụng nhỏ; 60. Thân không khuynh động; 61. Thân chắc nịch; 62. Phần thân

* Trang 335 *
device

lớn; 63. Thân cao ráo; 64. Tay chân sạch, mềm mại; 65. Hào quang thân dài một trượng; 66. Thân chiếu sáng khi đi; 67. Xem chúng sinh bình đẳng; 68. Không khinh chúng sinh; 69. Theo âm thanh của chúng sinh không quá, không giảm; 70. Thuyết pháp không sai khác; 71. Tùy theo ngôn ngữ của chúng sinh mà thuyết pháp; 72. Một lần phát âm, tiếng vang đến nhiều người; 73. Có nhân duyên theo thứ lớp thuyết pháp; 74. Có tướng hết thảy chúng sinh không thể xem hết được; 75. Người xem không nhàm chán; 76. Tóc dài, đẹp; 77. Tóc không rối; 78. Tóc xóay, đẹp; 79. Màu tóc như ngọc xanh 80. Tay chân có đức tướng.
Này Tu-bồ-đề, ấy là 80 vẻ đẹp tùy hình thành tựu nơi thân Phật. Như vậy, Bồ-tát do hai trí nhiếp thủ chúng sinh, đó là tài thí và pháp thí. Ấy là việc hy hữu khó bì kịp của Bồ-tát.
Làm sao Bồ-tát dùng ái ngữ nhiếp thủ chúng sinh? Bồ-tát lấy Ba-la-mật vì chúng sinh thuyết pháp, nói rằng: Các ngươi tu sáu Ba-la-mật, thu nhiếp được hết thảy thiện pháp.
Làm sao Bồ-tát lấy lợi hành nhiếp thủ chúng sinh? Đó là Bồ-tát thường dạy chúng sinh, khiến tu sáu Ba-la-mật.
Làm sao Bồ-tát lấy đồng sự nhiếp thủ chúng sinh? Đó là Bồ-tát dùng sức năm thần thông, các

* Trang 336 *
device

cách biến hóa đi vào trong năm đường cùng sự việc với chúng sinh. Đó là lấy bốn việc nhiếp thủ chúng sinh.
* Lại nữa, Bồ-tát khi hành Bát-nhã ba-la-mật, giáo hóa chúng sinh rằng: Này thiện nam tử, nên khéo học, phân biệt các mẫu chữ và nên khéo biết một mẫu chữ cho đến 42 mẫu chữ (dvācatvāriṃsadakṣaramukha);[1] khéo biết hết thảy ngôn ngữ đều từ trong mẫu chữ đầu, hết thảy ngữ ngôn đều từ trong mẫu chữ thứ hai cho đến mẫu chữ thứ 42, hết thảy ngôn ngữ đều vào trong ấy. Một mẫu chữ đều vào trong 42 mẫu chữ, 42 mẫu chữ cũng vào trong một mẫu chữ. Chúng sinh ấy nên khéo học 42 mẫu chữ như vậy. Khéo học 42 mẫu chữ rồi, có thể khéo biết phép tắc của mẫu chữ; khéo biết phép tắc của mẫu chữ rồi khéo biết phép tắc không có mẫu chữ. Này Tu-bồ-đề, như Phật khéo biết phép tắc mẫu chữ, khéo biết mẫu chữ, khéo biết không có mẫu chữ, vì phép tắc không có mẫu chữ nên nói phép tắc mẫu chữ, vì sao? Vì vượt qua hết thảy danh tự, gọi là Phật pháp.
Tu-bồ-đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn, Nếu chúng sinh rốt ráo không thể có được, pháp cũng rốt ráo không thể có được, pháp tính cũng rốt ráo không thể có được, vì rốt ráo không, vô thỉ không, vậy Bồ-tát khi hành Bát-nhã ba-la-mật
 

[1] Bốn mươi hai mẫu chữ (dvācatvāriṃsadakṣaramukha): Cũng gọi là Tất đàm tứ thập nhị tự môn, Tứ thập nhị tự đà-la-ni môn: Căn cứ vào 42 chữ cái tiếng Phạn để nói về nghĩa của mỗi chữ; đây là một trong các pháp môn Quán tự nghĩa (xét về nghĩa chữ) nói trong kinh Hoa nghiêm và kinh Bát-nhã. Căn cứ Luận Đại trí độ, giải thích phẩm bốn niệm xứ thứ 19, quyển 48 thì 42 chữ này là gốc của tất cả chữ, do chữ có lời, do lời có tên, do tên có nghĩa, nếu Bồ-tát nghe chữ thì do chữ mà hiểu được nghĩa.
Kinh Đại Bát-nhã, quyển 490: “Lại nữa Thiện hiện! Tướng Đại thừa của các Đại Bồ-tát là các văn tự đà-la-ni môn. Thế nào là Văn tự đà-la-ni môn? Nghĩa là tính bình đẳng của chữ, tính bình đẳng của lời nhập vào các tự môn. Thế nào là tính bình đẳng của chữ, tính bình đẳng của lời nhập vào các tự môn? Thiện hiện nên biết! Nếu khi Đại Bồ-tát thực hành sâu xa Bát-nhã ba-la-mật-đa thì lấy Vô sở đắc làm phương tiện”. Bởi vậy, kinh Đại Bát-nhã gọi là Tứ thập nhị tự môn là Văn tự đà-la-ni, còn phẩm Quảng thừa trong kinh Đại phẩm Bát-nhã, quyển 5 thì gọi chung Tứ thập nhị tự môn, Thập lực, Tứ vô sở uý, Thập bát bất cộng pháp…là Ma-ha-diễn (Đại thừa) của Đại Bồ-tát. Phẩm Tứ niệm xứ trong kinh Đại phẩm Bát-nhã, quyển 5 cũng nói người tự thọ trì, đọc tụng các tự môn này, lại vì người khác mà giải nói cho họ nghe thì sẽ được 20 thứ công đức như thêm sự nhớ dai, biết hổ thẹn, tâm niệm vững chắc, trí tuệ mở rộng…Còn theo phẩm Mạn thù sư lợi Bồ-tát ngữ tự tâm đà-la-ni trong kinh Kim cương đính thì Ngũ tự đà-la-ni (tức 5 chữ, a, ra bả, giả, na) của Bồ-tát Văn-thù chính là 5 chữ trước của 42 tự môn này; nếu người nào thường thọ trì 5 chữ đà-la-ni này thì vào được cảnh giới tất cả pháp bình đẳng của Như-lai, chóng thành Đại bát-nhã.
Theo kinh Đại phẩm Bát-nhã, quyển 5 thì 42 tự môn cùng với ý nghĩa của mỗi tự như sau: A: Tất cả pháp vốn không sinh, Ra: Tất cả pháp lìa bụi bặm, Pa: Tất cả pháp Đệ nhất nghĩa, Ca: Tất cả pháp rốt ráo bất khả đắc. Na: các pháp lìa tính tướng, không được, không mất, La: các pháp độ thế gian, chi Ái trong 12 nhân duyên cũng được trừ diệt, Da: các pháp thiện tâm sinh, cũng là thí tướng, Ba: các pháp lìa chữ Ba, Ḍa: các pháp lìa chữ ḍa, Ṣa: các pháp lục tự tại vương thanh tịnh, Va: vào các pháp dứt bặt nói năng, Ta: vào các pháp tướng như bất động, Ya: vào các pháp như thực chẳng sinh, Ṣṭa: vào các pháp chế phục bất khả đắc, Ka: vào các pháp tác giả bất khả đắc, Sa: vào các pháp thời bất khả đắc, Ma: vào các pháp ngã sở bất khả đắc, Ga: vào các pháp người đi bất khả đắc, Tha: vào các pháp nơi chốn bất khả đắc, Ja: vào các pháp sinh bất khả đắc, Sva: vào các pháp chữ Pha bất khả đắc, Dha: vào các pháp tính bất khả đắc, Śa: vào các pháp định bất khả đắc, Kha: vào các pháp hư không bất khả đắc, Kṣa: vào các pháp tận bất khả đắc, Sta: vào các pháp hữu bất khả đắc, Ña: vào các pháp tri bất khả đắc, Rtha: vào các pháp chữ Tha bất khả đắc, Bha: vào các pháp phá hoại bất khả đắc, Cha: vào các pháp dục bất khả đắc, Sma: vào các pháp chữ Ma bất khả đắc, Hva: vào các pháp hoàn bất khả đắc, Tsa: vào các pháp chữ Tha bất khả đắc, Gha: vào các pháp hậu bất khả đắc, Ṭha: vào các pháp xứ bất khả đắc. Ṇa: vào các pháp không đến, không đi, không ngồi, không đứng, không nằm, Pha: vào các pháp biên bất khả đắc, Ska: vào các pháp tụ bất khả đắc, Ysa: vào các pháp sai bất khả đắc, Śca: vào các pháp hành bất khả đắc, Ṭa: vào các pháp ủ bất khả đắc, Ḍha: vào chỗ rốt ráo không diệt không sinh của các pháp.

 

* Trang 337 *
device

cho đến Thí ba-la-mật, khi hành bốn thiền, bốn tâm vô lượng, bốn định vô sắc, 37 pháp trợ đạo, mười tám không, Vô tướng, Vô tác tam-muội, tám bội xả, định chín thứ lớp, mười lực của Phật, bốn điều không sợ, bốn trí không ngại, mười tám pháp không chung, 32 tướng, 80 vẻ đẹp tùy hình, làm sao trú trong năm thần thông do quả báo được mà vì chúng sinh thuyết pháp?[1] Chúng sinh thật không thể có được, vì chúng sinh không có được nên sắc không thể có được, cho đến thức cũng không thể có được; vì năm uẩn không thể có được, nên sáu Ba-la-mật cho đến 80 vẻ đẹp tùy hình đều không thể có được. Trong không thể có được, không có chúng sinh, không có sắc cho đến không có 80 vẻ đẹp tùy hình, vậy làm sao Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật có thể vì chúng sinh thuyết pháp? Bạch đức Thế Tôn, Bồ-tát khi hành Bát-nhã ba-la-mật, Bồ-tát còn không thể có được, huống gì có pháp Bồ-tát?
Phật bảo Tu-bồ-đề: Như vậy, như vậy, như lời ông nói. Vì chúng sinh không thể có được, nên biết nội không ngoại không, nội ngoại không, không không, đại không, đệ nhất nghĩa không, hữu vi không, vô vi không, tất cảnh không, vô thỉ không, tán không, các pháp không, tự tướng không, tính không, bất khả đắc không, vô pháp không, hữu pháp không, vô pháp hữu pháp
 

[1] T. 8: Phóng quang Bát-nhã kinh (放光般若經), quyển 18, phẩm Trú nhị không thứ 78 (住二空品 78) , tr. 127b27-c4: Tu-bồ-đề thưa: Bạch Thế Tôn! Chúng sanh không thể đắc pháp, cũng không thể thấy được, vì các pháp là không. Tại sao, khi thực hành Ba-la-mật, bốn Thiền, bốn Tâm vô lượng, bốn Không định, ba mươi bảy phẩm Trợ đạo, mười tám Không, Không, Vô tướng, Vô nguyện, tám Giải thoát, chín Thứ đệ thiền….ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp của Phật, sáu Thần thông, thuyết pháp cho chúng sanh?; T. 7: Đại Bát-nhã ba-la-mật-đa kinh (大般若波羅蜜多經), quyển 470, tr. 378b29-c15: Cụ thọ Thiện Hiện thưa rằng: Bạch Thế Tôn! Nếu tất cả pháp, tất cả hữu tình đều rốt ráo không, vô tế không, nên vượt các chữ ấy, thời tất cả pháp tất cả hữu tình tự tánh rốt ráo đều bất khả đắc. Các Bồ-tát Ma-ha-tát làm sao tu hành bố thí Ba-la-mật-đa cho đến Bát-nhã Ba-la-mật-đa?
Làm sao tu hành bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn vô sắc định. Làm sao tu hành bốn niệm trụ cho đến tám thánh đạo chi. Làm sao tu hành không, vô tướng, vô nguyện giải thoát môn. Làm sao an trụ nội không cho đến vô tánh tự tánh không. Làm sao an trụ chơn như cho đến bất tư nghì giới. Làm sao an trụ khổ tập diệt đạo thánh đế. Làm sao tu hành tám giải thoát cho đến mười biến xứ.
Làm sao tu hành Cực hỷ địa cho đến Pháp vân địa. Làm sao tu hành tất cả đà-la-ni môn, tam-ma-địa môn. Làm sao tu hành năm nhãn, sáu thần thông. Làm sao tu hành Như Lai mười lực cho đến mười tám pháp Phật bất cộng. Làm sao tu hành pháp vô vong thất, tánh hằng trụ xả.
Làm sao tu hành nhất thiết trí, đạo tướng trí, nhất thiết tướng trí. Làm sao tu hành ba mươi hai tướng Đại sĩ, tám mươi vẻ đẹp tùy hình. Làm sao an trụ dị thục sáu thứ Ba-la-mật-đa và sáu thần thông, vì các hữu tình tuyên nói Chánh pháp?

 

* Trang 338 *
device

không. Vì chúng sinh không thể có được nên biết năm uẩn không, mười hai nhập không, mười tám giới không, mười hai nhân duyên không, bốn đế không, ngã không, thọ giả, mạng giả, kẻ sinh, kẻ nuôi, kẻ dưỡng, chúng số, người, người làm, người khiến làm, khởi dậy, người khiến khởi dậy, lãnh thọ, người khiến lãnh thọ, kẻ biết, kẻ thấy đều không. Vì chúng sinh không thể có được nên biết bốn thiền không, bốn tâm vô lượng không, cho đến tám phần thánh đạo không, không không, vô tướng không, vô tác không, tám bội xả không, định chín thứ lớp không. Vì chúng sinh không thể có được nên biết mười lực của Phật, bốn điều không sợ, bốn trí không ngại, mười tám pháp không chung không, nên biết quả Tu-đà-hồn không cho đến đạo Bích-chi Phật không, Bồ-tát địa không, Vô thượng chánh đẳng chánh giác không. Này Tu-bồ-đề, Bồ-tát thấy hết thảy pháp không như vậy, vì chúng sinh thuyết pháp, không mất các tướng không. Bồ-tát khi quán như vậy, biết hết thảy pháp thông suốt không ngại, biết hết thảy pháp không ngại rồi, không phá hoại các pháp tướng, không hai, không phân biệt, chỉ vì chúng sinh mà như thật nói pháp. Thí như người của Phật biến hóa, người biến hóa lại hóa làm vô lượng ngàn vạn ức ngừơi, có người dạy khiến bố thí, có người dạy trì giới, có người dạy nhẫn nhục, 

* Trang 339 *
device

, có người dạy tinh tấn, có người dạy thiền định, có người dạy trí tuệ, có người dạy bốn thiền, bốn tâm vô lượng, bốn định vô sắc, ý ông nghĩ sao? Người của Phật biến hóa ấy có phá hoại pháp tính chăng?
Tu-bồ-đề thưa: Thưa không, bạch Thế Tôn. Các người biến hóa ấy không có tâm, không có tâm tâm số pháp, làm sao phân biệt phá hoại các pháp?
Này Tu-bồ-đề, thế nên biết, Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật, vì chúng sinh đúng chỗ thích hợp thuyết pháp; kéo chúng sinh ra khỏi điên đảo, khiến được ở vào chỗ nên ở, vì pháp không trói không mở, vì sao? Vì sắc không trói không mở; thọ, tưởng, hành, thức không trói không mở; sắc không trói không mở thời không phải là sắc; thọ, tưởng, hành, thức không trói không mở thời không phải là thức, vì sao? Vì sắc rốt ráo thanh tịnh; thọ, tưởng, hành, thức cho đến hết thảy pháp, hoặc hữu vi, hoặc vô vi cũng rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, Bồ-tát vì chúng sinh thuyết pháp cũng không thủ đắc tướng chúng sinh và hết thảy pháp. Hết thảy pháp không thể có được nên Bồ-tát không trú pháp nên trú trong pháp tướng, đó là sắc không cho đến hữu vi, vô vi pháp không, vì sao? Vì tự sắc cho đến hữu vi, vô vi pháp tự tính 

* Trang 340 *
device

không thể có được, không chỗ trú. Pháp không có sở hữu, không trú ở pháp không có sở hữu; tự tính pháp không trú trong tự tính pháp, tha tính pháp không trú trong tha tính pháp, vì sao? Vì hết thảy pháp đều không thể có được. Pháp không thể có được thời trú vào đâu? Như vậy, Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật, do các không ấy có thể nói pháp như vậy, hành Bát-nhã ba-la-mật như vậy, đối với chư Phật và Thanh-văn, Bích-chi Phật không có lỗi, vì sao? Vì chư Phật, Bồ-tát, Bích-chi Phật, A-la-hán được pháp ấy rồi, vì chúng sinh thuyết pháp, cũng không chuyển đổi thật tướng các pháp, vì sao? Vì Như, pháp tính, thật tế không thể chuyển đổi, sao vậy? Vì tính các pháp không có.
Tu-bồ-đề bạch Phật:  Bạch đức Thế Tôn, nếu pháp tính, như, thật tế không chuyển đổi, vậy sắc với pháp tính khác nhau chăng? Sắc với như, thật tế khác nhau chăng? Thọ, tưởng, hành, thức cho đến pháp hữu vi, vô vi, thế gian, xuất thế gian, hữu lậu, vô lậu khác nhau chăng?
Phật dạy: Không khác. Sắc không khác, pháp tính không khác; như không khác, thật tế không khác; thọ, tưởng, hành, thức cho đến pháp hữu lậu, vô lậu cũng không khác.

* Trang 341 *
device

Tu-bồ-đề bạch Phật: Bạch đức Thế Tôn, nếu sắc không khác, pháp tính không khác; như không khác, thật tế không khác; thọ, tưởng, hành, thức cho đến hữu lậu, vô lậu không khác, thời làm sao phân biệt hắc nghiệp có hắc báo, là quả báo địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ; bạch nghiệp có bạch báo, là quả báo sinh cõi trời, cõi người; hắc bạch nghiệp có hắc bạch báo, nghiệp chẳng hắc chẳng bạch có quả báo chẳng hắc chẳng bạch, đó là quả Tu-đà-hồn cho đến Vô thượng chánh đẳng chánh giác?
Phật bảo Tu-bồ-đề: Theo thế đế nên phân biệt nói có quả báo, chẳng phải theo đệ nhất nghĩa. Trong đệ nhất nghĩa đế không thể nói nhân duyên quả báo, vì sao? Vì đệ nhất nghĩa đế thật không có tướng, không có phân biệt, cũng không có ngôn thuyết, gọi là sắc cho đến pháp hữu lậu, vô lậu; tướng chẳng sinh, chẳng diệt, chẳng nhơ, chẳng sạch, vì rốt ráo không, vô thỉ không.
Tu-bồ-đề bạch Phật: Bạch đức Thế Tôn, nếu vì theo thế đế nên phân biệt nói có quả báo, chẳng phải theo đệ nhất nghĩa đế, thời hết thảy phàm phu lẽ đáng có quả Tu-đà-hồn cho đến Vô thượng chánh đẳng chánh giác.

* Trang 342 *
device

Phật bảo Tu-bồ-đề: Ý ông nghĩ sao, người phàm phu có biết đó là thế đế, đó là đệ nhất nghĩa đế chăng? Nếu biết, người phàm phu ấy lẽ đáng là quả Tu-đà-hồn cho đến Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Này Tu-bồ-đề, vì người phàm phu thật không biết thế đế, không biết đệ nhất nghĩa đế, không biết đạo, không biết phân biệt đạo quả, làm sao họ có các quả được? Này Tu-bồ-đề, thánh nhân biết thế đế, biết đệ nhất nghĩa đế, có đạo, có tu đạo, vì thế nên thánh nhân có các quả sai khác.
Tu-bồ-đề bạch Phật: Tu đạo được quả chăng?
Phật dạy: Không được. Tu đạo không được quả, không tu đạo cũng không được quả, cũng không lìa đạo được quả, cũng không trú ở trong đạo được quả. Như vậy, Bồ-tát khi hành Bát-nhã ba-la-mật, vì chúng sinh nên phân biệt quả và cũng không phân biệt đó là tính hữu vi, tính vô vi.
Bạch đức Thế Tôn, nếu không phân biệt tính hữu vi, tính vô vi mà được các quả, cớ sao Thế tôn nói dứt hết ba kiết gọi là Tu-đà-hồn; dâm nộ si mỏng gọi là Tư-đà-hàm; dứt hết năm hạ phần kiết gọi là A-na-hàm; dứt hết năm thượng phần kiết gọi là A-la-hán? Biết pháp có tập hợp đều có tướng tán diệt gọi là đạo Bích-chi Phật? dứt hết

* Trang 343 *
device

thảy phiền não và tập khí gọi là Vô thượng chánh đẳng chánh giác? Bạch đức Thế Tôn, Con làm sao biết không phân biệt tính hữu vi, tính vô vi mà được các đạo quả?
Phật bảo Tu-bồ-đề: Ông cho quả Tu-đà-hồn, quả Tư-đà-hàm cho đến Vô thượng chánh đẳng chánh giác, các quả ấy là hữu vi, là vô vi chăng?
Tu-bồ-đề thưa: Đều là vô vi.
Này Tu-bồ-đề: Trong pháp vô vi có phân biệt chăng?
Thưa không, bạch Thế Tôn.
Này Tu-bồ-đề, nếu người thiện nam, kẻ thiện nữ thông suốt hết thảy pháp hoặc hữu vi, hoặc vô vi đều là một tướng, tức vô tướng, khi ấy còn có phân biệt hoặc hữu vi, hoặc vô vi chăng?
Thưa không, bạch Thế Tôn.
Này Tu-bồ-đề, như vậy. Bồ-tát vì chúng sinh thuyết pháp, không phân biệt các pháp, vì nội không cho đến vô pháp hữu pháp không. Bồ-tát ấy tự mình được pháp không có chấp trước, cũng dạy người khiến được pháp không có chấp trước, hoặc Thí ba-la-mật cho đến Bát-nhã ba-la-mật, hoặc sơ thiền cho đến đệ tứ thiền, hoặc từ, bi, hỉ, xả cho đến Phi-hữu-tưởng Phi-vô-tưởng xứ, hoặc

* Trang 344 *
device

hoặc bốn niệm xứ cho đến trí Nhất thiết chủng. Bồ-tát ấy tự mình không chấp trước, cũng dạy người không chấp trước, vì không chấp trước nên không chướng ngại gì. Thí như người của Phật biến hóa làm việc bố thí, cũng không lãnh thọ quả báo bố thí, chỉ vì chúng sinh cho đến tu trí Nhất thiết chủng cũng không lãnh thọ quả báo của trí Nhất thiết chủng. Bồ-tát cũng như vậy, hành sáu Ba-la-mật cho đến hết thảy pháp mà không trú pháp hữu lậu, vô lậu, hữu vi, vô vi, cũng không thọ báo, mà chỉ vì độ chúng sinh, vì sao? Vì Bồ-tát ấy khéo thông đạt thật tướng các pháp.
LUẬN: Hỏi: Tám mươi vẻ đẹp tùy hình là pháp trang nghiêm thân, cớ sao ở trong thai “thức biết đầy đủ” lại là một ở trong các vẻ đẹp tùy hình?
Đáp: Thức ấy là thức do quả báo sinh, đối với thế gian tốt hay xấu tự nhiên biết được. Còn thức của người phàm phu không đầy đủ, nên phải học theo cách người khác mới biết được. Phật ở trong thai một năm đầy đủ, sung mãn mới sinh, nên thân và thức đều đầy đủ. Những người khác hoặc tám tháng, hoặc chín tháng ở trong thai, nói chung là mười tháng. Bồ-tát ở trong thai mười tháng nói chung là được một năm thời thân căn đầy đủ; thức do quả báo sinh cũng đầy đủ.

* Trang 345 *
device

Hỏi: Chỗ chân đứng yên với chỗ ở yên sai khác thế nào?
Đáp: Chỗ ở yên là như kẻ dũng sĩ tại gia cầm chặt gậy gộc, ở yên một chỗ, không thể lay động. Lại khi xuất gia, ma dân, ác quỷ không thể làm chuyển động mà lùi bỏ.
Nghĩa của 42 mẫu chữ như trong Đại thừa có nói.[1] Một mẫu chữ vào hết trong các mẫu chữ; thí như 2 số 1 hợp lại làm 2, 3 số 1 hợp lại làm 3; 4 số 1 hợp lại làm 4; như vậy cho đến ngàn, vạn. Lại như chữ A là định; A biến thành La, cũng biến thành Ba; như vậy đều vào trong 42 mẫu chữ. 42 mẫu chữ vào trong một mẫu chữ là, 42 mẫu chữ đều có phần chữ A, phần chữ A lại vào trong chữ A. Khéo biết chữ nên khéo biết tên các pháp; khéo biết tên các pháp nên khéo biết nghĩa các pháp. Không có mẫu chữ tức là nghĩa thật tướng của các pháp, vì sao? Vì trong nghĩa của các pháp, các pháp không có danh tự.
Tu-bồ-đề hỏi: Nếu các pháp rốt ráo không, không có danh tự, làm sao Bồ-tát trú trong sáu thần thông do quả báo sinh mà vì chúng sinh thuyết pháp? Nếu rốt ráo không có chúng sinh thời không có pháp? Phật chấp thuận lời Tu-bồ-đề nói: Như vậy, như vậy. Vì mười tám không, nên hết thảy pháp không thể có được. Ngã và chúng sinh, cho đến kẻ biết kẻ thấy, cho đến nên biết Phật, Bồ-tát cũng đều không. Biết như vậy rồi mà vì chúng sinh thuyết pháp không ấy. Nếu chúng sinh là
 

[1] Xem Đại trí độ luận, quyển 48.

 

* Trang 346 *
device

thật có mà vì họ thuyết không thời không thể được; vì chúng sinh không, nhưng do điên đảo thấy thành có. Thế nên Bồ-tát không bỏ mất không mà vì chúng sinh thuyết pháp. Không bỏ mất tức là không làm cho các pháp đều không, còn pháp được nói chẳng không. Nếu cho pháp được nói chẳng không thời là làm mất tướng không. Nếu miệng nói không mà tâm là có, cũng là bỏ mất không. Trong đây Phật tự nói: Tướng pháp không hai, không hư hoại. Muốn rõ ràng việc ấy nên Phật nêu thí dụ: Như người do Phật biến hóa, biến làm nhiều người, vì chúng sinh thuyết pháp, hoặc thuyết về công đức trì giới, bố thí. Phương tiện thuyết pháp như vậy không có lỗi, mà có thể kéo chúng sinh ra khỏi điên đảo, vì pháp không trói không mở. Trong đệ nhất nghĩa đế không trói không mở, trong thế đế nên có trói có mở. Trong đây Phật tự nói nhân duyên: Sắc không trói không mở, vì sao? Vì trong không trói không mở ấy không có sắc tướng, cho đến thức cũng như vậy. Bồ-tát dùng pháp chẳng trú như vậy nên trú trong không pháp, vì chúng sinh thuyết pháp. Chúng sinh không thể có được, vì chúng sinh và hết thảy pháp không thể có được. Trong đây Phật tự nói nhân duyên: Pháp không có sở hữu, không trú trong pháp không có sở hữu, thí như hư không, không trú nơi hư không; tự tính pháp, không trú nơi tự tính pháp; thí như lửa không trú nơi lửa; pháp tha tính không trú nơi pháp tha tính; thí như trong tính nước không có tính lửa; lại vì tha tính bất định. Nếu thanh tịnh thuyết pháp được như vậy thời 

* Trang 347 *
device

Bồ-tát ấy đối với chư Phật, thánh hiền không có lỗi, vì sao? Vì chư Phật, thánh hiền không nhiễm trước pháp, người thí pháp cũng không nhiễm trước pháp; chư Phật, thánh hiền vì rốt ráo không, lấy tướng tịch diệt làm sở hành của tâm, người thuyết pháp cũng như vậy. Chư Phật, thánh hiền vào ba môn giải thốt, được thật tính các pháp, đó là Vô dư Niết-bàn, người thuyết pháp theo pháp ấy nên không có lỗi. Trong đây Phật tự nói nhân duyên: Chư Phật, hiền thánh được pháp ấy rồi, vì chúng sinh thuyết pháp, không làm chuyển đổi pháp tính, vì pháp tính không, vô tướng.
Tu-bồ-đề bạch Phật: Nếu không chuyển đổi pháp tính, thời sắc cùng với pháp tính khác nhau chăng?
Phật dạy: Không, vì sao? Vì thật tướng của sắc tức là pháp tính. Ý Phật muốn nói, khi Bồ-tát thuyết pháp cũng không phá hoại pháp tính.
Tu-bồ-đề hỏi: Sắc v.v... cùng với pháp tính không khác, cớ gì chỉ quý pháp tính? Vì Phật đáp sắc không khác pháp tính nên Tu-bồ-đề nạn hỏi: Nếu không khác thời làm sao phân biệt có thiện, ác, trắng, đen, quả Tu-đà-hồn v.v...?
Phật dạy: Sắc v.v... tuy không lìa pháp tính, song vì theo thế đế nên có phân biệt, còn ở trong đệ nhất nghĩa đế không có phân biệt, vì sao? Vì thánh nhân được đệ nhất nghĩa đế, không có phân biệt gì, nghe nói có sở đắc không mừng, nghe không có sở đắc không lo, vì chứng được pháp vô tướng, nên cho đến mảy may

* Trang 348 *
device

pháp còn không thủ tướng, huống gì phân biệt có thiện, ác. Người chưa chứng đắc thật tướng, vì muốn đệ nhất nghĩa đế nên có chỗ phân biệt. Trong đây tự nói nhân duyên: Pháp ấy không có ngôn thuyết, cũng không sinh diệt, nhơ sạch; nghĩa là rốt ráo không, vô thỉ không.
Hỏi: Cớ gì trong đây chỉ nói hai không gọi là pháp?
Đáp: Hết thảy có, hoặc pháp, hoặc chúng sinh, nếu nói rốt ráo không thời là phá pháp; nếu nói vô thỉ không thời phá chúng sinh. Phá hai pháp ấy rồi thời phá hết tất cả pháp. Trong đây Bồ-tát vì chúng sinh thuyết pháp cho nên dùng hai không để phá pháp và phá chúng sinh; tuy còn có các không khác nhưng không sâu sắc, rốt ráo bằng rốt ráo không. Các không khác như lửa đốt cây, còn lại than tro; rốt ráo không thời không có tro, không có than. Có người nói: Hoặc nói đủ mười tám không, không có lỗi, vì lược nói nên nói hai không.
Tu-bồ-đề thưa: Nếu theo thế đế nên phân biệt có thiện ác, trắng đen và các quả báo, còn theo đệ nhất nghĩa đế thời người phàm phu lẽ đáng có thánh quả Tu-đà-hồn v.v... vì sao? Vì nếu trong thế đế hư vọng phân biệt có các hiền thánh, còn trong đệ nhất nghĩa đế lý đáng phàm phu làm hiền thánh. Tu-bồ-đề phân biệt thật tướng nói phàm phu khác, còn Phật nói đệ nhất nghĩa nhất tướng, nên Tu-bồ-đề nói lý đáng phàm phu là bậc thánh.

* Trang 349 *
device

Phật đáp: Nếu phàm phu phân biệt, biết đó là đệ nhất nghĩa đế, đó là thế đế, thời lẽ đáng phàm phu có các quả thánh. Vì phàm phu thật không biết đạo, không biết phân biệt đạo, không biết hành đạo, tu đạo, huống gì được đạo quả! Phật nói bậc thánh có thể phân biệt nên nói bậc thánh có thánh quả.
Bấy giờ Tu-bồ-đề tự biết có lỗi, nên nói: Trong tính vô lượng, vô tướng, vô động, làm sao thủ tướng, muốn lường pháp vô lượng; làm sao cưỡng cho phàm phu là thánh quả? Nên lãnh thọ lời Phật. Biết người hành đạo mới đắc quả, người không hành đạo không đắc quả;  thế nên hỏi Phật: Tu đạo đắc quả chăng? Phật đáp không.
Lại hỏi: Trên kia Phật phân biệt nói tu đạo đắc quả, sao nay nói không? Phật đáp: Trên kia nói chẳng phải tâm chấp trước, nay vì Tu-bồ-đề đem tâm chấp trước mà hỏi, muốn từ đạo phát xuất quả, như từ mè ép ra dầu; nếu như vậy đạo với quả đồng hư dối. Thế nên Phật đều đáp không. Người nghe sinh tâm nghĩ rằng: Nếu tu không được, vậy không tu lý đáng được?
Phật dạy: Tu còn không được, huống không tu! Thí như hai người muốn đi đến, một người đứng yên không đi, một người lạc đường, cả hai đều không thể đến. Nếu không tu đạo còn không có được chút ít cái vui nhiếp tâm, huống gì đạo quả! Nếu tâm thủ tướng mà tu đạo, tuy có cái vui nhiếp tâm thiền định mà không có đạo quả. 

* Trang 350 *
device

Thế nên Phật nói: Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật không phân biệt tính hữu vi, vô vi, nên có đạo quả sai khác.
Tu-bồ-đề hỏi: Nếu như vậy, cớ gì Phật nói dứt ba kiết sử được Tu-đà-hồn, có các phân biệt như vậy?
Phật hỏi ngược lại rằng: Ý ông nghĩ sao, ông cho quả Tu-đà-hồn là hữu vi, là vô vi chăng?
Tu-bồ-đề đáp: Là vô vi.
Phật dạy: Nếu như vậy, trong vô vi có sai khác chăng?
Tu-bồ-đề thưa: Thưa không, bạch Thế Tôn.
Phật dạy: Nếu không có phân biệt, cớ gì ông nạn hỏi? Phật lại hỏi Tu-bồ-đề: Nếu người thiện nam, kẻ thiện nữ thông suốt hết thảy pháp một tướng, tức là vô tướng, ở trong ba môn giải thốt, khi chứng Niết-bàn, khi ấy có pháp để phân biệt hoặc hữu vi, hoặc vô vi chăng?
Tu-bồ-đề thưa: Không.
Ý Phật là, chỉ tâm khi ấy là chơn thật, khi khác đều hư dối, cớ sao ông vấn nạn? Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật không phân biệt hết thảy pháp, ở trong các pháp không, nội không v.v... rất thanh tịnh, tự mình không chấp trước, cũng dạy chúng sinh không chấp trước; nghĩa là dạy bố thí cho đến trí Nhất thiết chủng, trong đạo Bồ-tát đều dạy người khiến không chấp trước. 

* Trang 351 *
device

Thí như người của Phật biến hóa làm việc bố thí, cũng không phân biệt bố thí, không lãnh thọ quả báo bố thí, chỉ vì độ chúng sinh. Tâm Bồ-tát cũng như vậy, vì sao? Vì khéo thông suốt các pháp tính. Khéo thông suốt là không thủ tướng pháp tính, cũng không trú trong pháp tính, ở trong pháp tính không nghi, không hối mà thuyết pháp, không ngăn, không trở, không ngại, thế là thông suốt pháp tính.
____________

 

* Trang 352 *
device

 

Xem Mục Lục

Top Book

Top Book Mp3

Top Music Album

 
© Copyright 2009 - 2018 anphat.org - Chịu trách nhiệm nội dung: Thị Đức bienman0811@yahoo.com - Hỗ trợ kỹ thuật votamthoai@gmail.com