Xem Mục Lục

 LUẬN ĐẠI TRÍ ĐỘ [MAHĀPRAJÑĀPĀRAMITĀ ŚĀSTRA] - Tác giả: NĀGĀRJUNA ( LONG THỌ) - Dịch Phạn ra Hán: CƯU MA LA THẬP - Dịch Hán ra Việt: THÍCH THIỆN SIÊU

  20. Giải thích Phẩm Mười Vô thứ 25
GIẢI THÍCH: PHẨM MƯỜI VÔ THỨ 25
(Kinh Đại Bát-nhã ghi: Phần 2, Phẩm Vô Biên Tế thứ 23)

KINH: Tuệ mạng Tu-bồ-đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Bồ-tát ma-ha-tát, tiền tế không thể có được, hậu tế không thể có được, trung tế không thể có được. Vì sắc vô biên nên biết Bồ-tát ma-ha-tát cũng vô biên; vì thọ, tưởng, hành, thức vô biên, nên biết Bồ-tát ma-ha-tát cũng vô biên. Sắc là Bồ-tát ma-ha-tát cũng không thể có được; thọ, tưởng, hành, thức là Bồ-tát ma-ha-tát là cũng không thể có được. Như vậy, Bạch Thế Tôn! Nơi hết thảy chủng, hết thảy chỗ tìm Bồ-tát không thể có được. Bạch Thế Tôn! Con sẽ dạy Bát-nhã ba-la-mật cho những Bồ-tát như thế nào? Bạch Thế Tôn! Bồ-tát ma-ha-tát chỉ có danh tự, như nói danh tự ngã, ngã rốt ráo chẳng sinh, giống như ngã; các pháp cũng như vậy, không có tự tánh.
Những sắc gì rốt ráo không sinh; những thọ, tưởng, hành, thức gì rốt ráo không sinh? Bạch Thế Tôn! Rốt ráo không sinh không gọi là sắc, rốt ráo

* Trang 427 *
device

không sinh không gọi là thọ, tưởng, hành, thức. Bạch Thế Tôn! Nếu pháp rốt ráo không sinh, nên dạy đó là Bát-nhã ba-la-mật ư? Lìa rốt ráo không sinh cũng không có Bồ-tát tu hành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Nếu Bồ-tát nghe nói lời này mà tâm không chìm đắm ưu hối, không kinh, không hãi, không sợ, nên biết Bồ-tát ma-ha-tát như vậy, có thể tu hành Bát-nhã ba-la-mật.
Xá-lợi-phất hỏi Tu-bồ-đề: Do nhân duyên gì nên nói Bồ-tát ma-ha-tát tiền tế không thể có được, hậu tế không thể có được, trung tế không thể có được?
Tu-bồ-đề! Do nhân duyên gì nên nói sắc vô biên, nên biết Bồ-tát cũng vô biên? Thọ, tưởng, hành, thức vô biên, nên biết Bồ-tát cũng vô biên?
Tu-bồ-đề! Do nhân duyên gì nên nói sắc là Bồ-tát cũng không thể có được? Thọ, tưởng, hành, thức là Bồ-tát cũng không thể có đuợc?
Tu-bồ-đề! Do nhân duyên gì nên nói nơi hết thảy chủng, hết thảy chỗ tìm Bồ-tát không thể có được, nên dạy Bát-nhã ba-la-mật cho những Bồ-tát như thế nào?
Tu-bồ-đề! Do nhân duyên gì nên nói Bồ-tát chỉ có danh tự?
Tu-bồ-đề! Do nhân duyên gì nên như nói danh 

* Trang 428 *
device

tự ngã, ngã rốt ráo không sinh, như ngã, các pháp cũng như vậy, đều không có tự tánh?
Tu-bồ-đề! Những sắc gì rốt ráo không sinh? Những thọ, tưởng, hành, thức gì rốt ráo không sinh?
Tu-bồ-đề! Do nhân duyên gì nên nói rốt ráo không sinh không gọi là sắc; rốt ráo không sinh không gọi là thọ, tưởng, hành, thức?
Tu-bồ-đề! Do nhân duyên gì nên nói nếu pháp rốt ráo không sinh, nên dạy Bát-nhã ba-la-mật ấy chăng?
Tu-bồ-đề! Do nhân duyên gì nên nói lìa rốt ráo không sinh thì cũng không có Bồ-tát tu hành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác?
Tu-bồ-đề! Do nhân duyên gì nên nói, nếu Bồ-tát nghe lời nói ấy mà tâm không chìm đắm, không ưu hối, không kinh, không hãi, không sợ,[1] nếu tu hành được như vậy, ấy gọi là Bồ-tát ma-ha-tát tu hành Bát-nhã ba-la-mật?
Bấy giờ, Tu-bồ-đề trả lời Xá-lợi-phất rằng: Vì chúng sinh không có nên Bồ-tát tiền tế không thể có được, vì chúng sinh không, nên Bồ-tát tiền tế không thể có được; vì chúng sinh lìa, nên Bồ-tát tiền tế không thể có được.
Xá-lợi-phất! Vì sắc không có nên tiền tế không thể có được; vì thọ, tưởng, hành, thức không có nên
 

[1] Đại trí độ luận, quyển 41, Phẩm ba giả.

* Trang 429 *
device

Bồ-tát tiền tế không thể có được; vì sắc không nên Bồ-tát tiền tế không thể có được; vì thọ, tưởng, hành, thức không nên Bồ-tát tiền tế không thể có được; vì sắc lìa nên Bồ-tát tiền tế không thể có được; vì thọ, tưởng, hành, thức lìa nên Bồ-tát tiền tế không thể có được.
Xá-lợi-phất! Vì sắc tánh không có nên Bồ-tát tiền tế không thể có được; vì thọ, tưởng, hành, thức tánh không có nên Bồ-tát tiền tế không thể có được.
Xá-lợi-phất! Vì Thí ba-la-mật không có nên Bồ-tát tiền tế không thể có được; vì Giới ba-la-mật, Nhẫn ba-la-mật, Tấn ba-la-mật, Thiền ba-la-mật, Bát-nhã ba-la-mật không có nên Bồ-tát tiền tế không thể có được, vì sao? Xá-lợi-phất! Vì trong không, tiền tế không thể có được, hậu tế không thể có được, trung tế không thể có được. Không chẳng khác Bồ-tát, Bồ-tát chẳng khác tiền tế. Xá-lợi-phất! Không, Bồ-tát, tiền tế, các pháp ấy không hai không khác. Do nhân duyên ấy nên Bồ-tát tiền tế không thể có được.
Xá-lợi-phất! Vì Thí ba-la-mật không nên Thí ba-la-mật lìa, vì Thí ba-la-mật tánh không có, nên Bồ-tát tiền tế không thể có được; vì Giới ba-la-mật, Nhẫn ba-la-mật, Tấn ba-la-mật, Thiền ba-la-mật, Bát-nhã ba-la-mật không nên Bát-nhã ba-la-mật lìa, vì Bát-nhã ba-la-mật tánh không có, nên Bồ-tát tiền

* Trang 430 *
device

tế không thể có được, vì cớ sao? Xá-lợi-phất! Trong không tiền tế không thể có được, hậu tế không thể có được, trung tế không thể có được. Không chẳng khác Bồ-tát, Bồ-tát cũng chẳng khác tiền tế. Xá-lợi-phất! Không, Bồ-tát, tiền tế không hai không khác. Do nhân duyên ấy, Xá-lợi-phất, nên Bồ-tát tiền tế không thể có được.
* Lại nữa, Xá-lợi-phất! Nội không không có nên Bồ-tát tiền tế không thể có được, cho đến vô pháp hữu pháp không không có nên Bồ-tát tiền tế không thể có được. Vì nội không không nên nội không lìa, vì nội không tánh không có cho đến vô pháp hữu pháp không, vì không, vì lìa, vì tánh không có nên Bồ-tát tiền tế không thể có được. Các nghĩa khác như trên đã nói.
* Lại nữa, Xá-lợi-phất! Bốn niệm xứ không có nên Bồ-tát tiền tế không thể có được; bốn niệm xứ vì không, vì lìa, vì tánh không có nên Bồ-tát tiền tế không thể có được, cho đến mười tám pháp không chung không có, nên Bồ-tát tiền tế không thể có được; mười tám pháp không chung, vì không, vì lìa, vì tánh không có, nên Bồ-tát tiền tế không thể có được. Các nghĩa khác như trên đã nói. Do nhân duyên ấy, Xá-lợi-phất, nên Bồ-tát tiền tế không thể có được.

* Trang 431 *
device

* Lại nữa, Xá-lợi-phất! Hết thảy môn Tam-muội, hết thảy môn Đà-la-ni không có nên Bồ-tát tiền tế không thể có được; môn Tam-muội, môn Đà-la-ni vì không, vì lìa, vì tánh không có, nên Bồ-tát tiền tế không thể có được. Các nghĩa khác như trên nói.
* Lại nữa, Xá-lợi-phất! Pháp tánh không có, nên Bồ-tát tiền tế không thể có được; pháp tánh vì không, vì lìa, vì tánh không có, nên Bồ-tát tiền tế không thể có được, các nghĩa khác như trên đã nói.
* Lại nữa, Xá-lợi-phất! Như như vì không có, vì không, vì lìa, vì tánh không có; thật tế vì không có, vì không, vì lìa, vì tánh không có; bất khả tư nghì tánh vì không có, vì không, vì lìa, vì tánh không có, nên Bồ-tát tiền tế không thể có được. Các nghĩa khác như trên nói.
* Lại nữa, Xá-lợi-phất! Vì Thanh-văn không có nên Bồ-tát tiền tế không thể có được; Thanh-văn vì không, vì lìa, vì tánh không có nên Bồ-tát tiền tế không thể có được; Bích-chi Phật vì không có, vì không, vì lìa, vì tánh không có nên Bồ-tát tiền tế không thể có được; Phật vì không có, vì không, vì lìa, vì tánh không có nên Bồ-tát tiền tế không thể có được; Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác vì không có, cho đến vì tánh không có nên Bồ-tát tiền tế không thể có được.

* Trang 432 *
device

* Lại nữa, Trí nhất thiết chủng vì không có cho đến vì tánh không có, nên Bồ-tát tiền tế không thể có được, vì sao? Xá-lợi-phất! Vì không, tiền tế không thể có được, hậu tế không thể có được, trung tế không thể có được, nên Bồ-tát tiền tế không thể có được. Xá-lợi-phất! Không chẳng khác Bồ-tát, cũng chẳng khác tiền tế; không, Bồ-tát, tiền tế, các pháp ấy không hai không khác. Do nhân duyên ấy, Xá-lợi-phất, nên Bồ-tát tiền tế không thể có được; hậu tế, trung tế cũng như vậy.
LUẬN:  Hỏi: Trước đã nói Bồ-tát, danh tự Bồ-tát không thể có được, thì vì ai để nói Bát-nhã ba-la-mật[1]?  Sao nay còn nói lại?
Đáp: Không nên hỏi câu ấy. Vì Tu-bồ-đề tu không hạnh đệ nhất, thường ưa nói không, nếu có nói, thì cũng thường đem không môn để lợi ích chúng sinh.
* Lại nữa, trên mới lược nói, trong đây lấy mười thứ[2] để phân biệt rộng nghĩa Bồ-tát không thể có được. Hành giả nếu quán các pháp không, tùy thuận, vô tướng, vô tác, vì tâm vô tác nên không muốn có tác vi, như vậy còn không thể tự làm lợi ích cho mình, huống gì làm lợi ích cho người! Nếu người ở vào tâm hữu ngã thời có thể phân biệt các pháp tướng lành và chẳng lành, nhóm các pháp lành, bỏ các pháp chẳng lành. Nay Phật dạy trong Bát-nhã ba-la-mật không nên có tâm chấp ngã, không nên phân biệt các pháp, chỉ tu hành các thiện, việc ấy rất khó. Hành giả nghĩ rằng: Nếu không có ngã, thời ai tu

 


[1] Đại trí độ luận, quyển 42, phẩm tập tán thứ 9.
[2] Xem Đại trí độ luận, quyển 52, Phẩm mười vô thứ 25; T. 8: Đại phẩm Bát-nhã kinh (大品般若經), quyển 7, Phẩm mười vô thứ 25 (十無品第25), tr. 267a20-b7; T. 8: Phóng quang Bát-nhã kinh (放光般若經), quyển 5, Bất khả đắc tam tế phẩm 26 (不可得三際品第26), tr. 33c18-29; T. 8: Quang tán Bát-nhã kinh (光讚般若經), quyển 9, Đẳng tam thế phẩm 23 (等三世品第23), tr. 204c13-28; Pañcaviṃśati (Dutt), tr. 244, dòng 18, tr. 245, dòng 9.

* Trang 433 *
device

điều thiện? Nghĩ rằng: Trước có ngã, nay vì Bát-nhã ba-la-mật nên không có, nên sinh tâm lo buồn. Vì thế nên Tu-bồ-đề nói lại: Ngã từ xưa lại đây không có chứ chẳng phải trước có nay không. Hành giả biết như vậy xưa nay tự không có, nay không mất gì, cho nên không lo sợ; ví như cây lớn rễ sâu, không thể chặt một nhát mà đứt, phải dùng sức chặt nhiều búa mới đứt được. Bồ-tát không cũng như vậy, không thể nói một lần là được, vì vậy nên phải phân biệt rộng.
Tu-bồ-đề khi hỏi Phật,[1] nghĩ rằng: Nếu quyết định có Bồ-tát thời ba đời đều có, nay trong đời trước không có Bồ-tát, vì sao? Vì đời trước không có bắt đầu, đời vị lai cũng như vậy, vì chưa có nhân duyên. Trước sau đối đãi mới có trung gian, nếu không có trước sau thời không có trung gian. Nếu cho năm uẩn là Bồ-tát, năm uẩn không biên giới, như trước[2] do nhiều nhân duyên nói năm uẩn rốt ráo không, nên vô lượng vô biên, vô lượng vô biên nên đồng là pháp vô vi. Nếu Bồ-tát vô biên,[3] việc ấy không đúng. Do nhân ấy nên Bồ-tát không thể có được,[4] sẽ thuyết cho ai? Trong tất cả chỗ, tất cả chủng, tất cả thời[5] tìm Bồ-tát không thể có được, sẽ thuyết cho ai? Như ngã rốt ráo không sinh, không, không có gì, năm uẩn cũng như vậy, rốt ráo không sinh, không có gì ; đã không có chúng sinh và pháp năm uẩn, làm sao có Bồ-tát?
Hỏi: Chúng sinh và năm uẩn rốt ráo không sinh, người hiểu được pháp ấy tức là Bồ-tát sao?
Đáp: Rốt ráo không sinh, không gọi là sắc, không gọi là thọ, tưởng, hành, thức; vì sao? Vì năm uẩn là tướng sinh,
 

[1] Đại trí độ luận, quyển 52, phẩm mười vô thứ 25 (無品第25), tr. 430b3-19: Tuệ mạng Tu-bồ-đề bạch Phật rằng … 10 thứ quán.
[2] Đại trí độ luận, quyển 51, Phẩm hàm thụ thứ 23 (含受品第23).
[3] Đại trí độ luận, quyển 51, Phẩm hàm thụ thứ 23 (含受品第23).
[4] Đại trí độ luận, quyển 52, phẩm mười vô thứ 25 (十無品第25), tr. 430b4-5: Sắc vô biên, nên biết Bồ-tát ma-ha-tát cũng vô biên.
[5] Đại trí độ luận, quyển 37, tr. 329c: Lúc bấy giờ, có thuyết nói ba đời … 

* Trang 434 *
device

trong rốt ráo không sinh không có tướng tự phân biệt ấy. Năm uẩn rốt ráo không sinh thì không thể đem ra giáo hóa xa lìa rốt ráo không sinh, cũng không có Bồ-tát hành đạo, vậy sẽ dạy ai? Bồ-tát nghe như vậy, không sợ, không hãi, ấy là có thể tu hành Bồ-tát đạo.
Hỏi: Ngã với Bồ-tát là một vật, cớ sao lấy ngã ví dụ Bồ-tát?
Đáp: Trong Bát-nhã ba-la-mật, hết thảy pháp đều không, đối với kẻ sơ học không tiện vì họ nói không, nên trước tiên phải phân biệt tội phước, bỏ tội tu phước. Phước đức quả báo vô thường, vô thường nên sinh khổ, thế nên bỏ phước, nhàm chán thế gian, cầu đạo vào Niết-bàn.
Bấy giờ, nên suy nghĩ rằng: Nhân nơi ngã nên sinh các phiền não, ngã ấy ở trong sáu thức tìm không thể có được, chỉ do điên đảo nên chấp ngã, thế nên hiểu lý vô ngã dễ, dễ nên có thể lãnh thọ giáo hóa. Nếu nói sắc không, thời khó hiểu, tuy tai nghe nói không, mắt thường thấy thật có, thế nên trước phá cái ngã đối với tội ác sau mới phá tất cả pháp. Tất cả những Phật tử đắc đạo tự biết tự chứng vô ngã, người chưa đắc đạo thì tin các pháp không, chẳng thể như tin vô ngã; thế nên lấy vô ngã để ví dụ.
Trong đây Tu-bồ-đề nói hết thảy pháp không, suy đến không có Bồ-tát, nên dùng vô ngã để ví dụ, lấy nhỏ ví dụ lớn, như lấy đường phèn ví dụ cam lồ.
Hỏi: Xá-lợi-phất đã biết nghĩa không, vô ngã, cớ gì còn mỗi việc mỗi hỏi?

* Trang 435 *
device

Đáp: Tu-bồ-đề là thuộc hàng Thanh-văn, đức không bằng Bồ-tát mà ở trước Phật nói Bát-nhã thâm sâu, thời tâm hàng Bồ-tát mới học hoặc sinh nghi. Trên kia Phật khen tuy ông nói về Đại thừa tùy thuận Bát-nhã,[1] vẫn cho là Phật muốn thuận theo Tu-bồ-đề. Xá-lợi-phất muốn dứt cái nghi ấy, nên hỏi.
* Lại nữa, Phật muốn cùng Tu-bồ-đề nói Bát-nhã cho đến rốt ráo, nên Xá-lợi-phất mỗi việc mỗi hỏi khiến Tu-bồ-đề khéo phân biệt thâm nghĩa, khiến mọi người kính tin. Vì vậy nên hỏi trong quá khứ Bồ-tát không thể có được, cho đến vẫn không sợ không hãi. Tu-bồ-đề đáp nghĩa: Ngã, chúng sinh, người chính là một vật, nhưng khi chưa đắc đạo gọi là phàm phu, khi mới vào đạo cho đến A-la-hán gọi là người Thanh-văn. Khi quán pháp nhân duyên ngộ lý không, chưa sâu, ít thương xót chúng sinh, gọi là người Bích-chi Phật. Khi sâu vào pháp không, hành sáu Ba-la-mật, đại từ đại bi, ấy gọi là người Bồ-tát. Vì công đức khác nhau nên tên gọi cũng khác. Như ngã, chúng sinh, người là một việc, mà do mắt thấy việc nên gọi là người thấy, ý biết được nên gọi là người biết, thọ khổ vui nên gọi là người thọ. Ngã, chúng sinh, người, trước đã nói do các nhân duyên không có[2] nên Bồ-tát cũng phải không có. Thế nên Tu-bồ-đề nói với Xá-lợi-phất: Vì chúng sinh không có nên trong ba đời không có Bồ-tát.
Hỏi: Do năm uẩn hòa hợp có Bồ-tát, vậy Bồ-tát lẽ phải không có, còn năm uẩn lẽ phải có?
 

[1] Đại trí độ luận, quyển 52, phẩm hội tôn thứ 24 (會宗品第24), tr. 429c1-2: Tu-bồ-đề! ông nói Đại thừa tùy thuận Bát-nhã ba-la-mật, không lìa Bát-nhã ba-la-mật.
[2] Đại trí độ luận, quyển 12, Đàn ba-la-mật pháp thí; quyển 42, Phẩm tập tán thứ 9; quyển 35, phẩm tập tương ưng thứ ba; quyển 41, Phẩm tam giả thứ 7.

* Trang 436 *
device

Đáp: Vì phá việc ấy nên nói không có chúng sinh, không có ngã; không có ngã thời nên năm uẩn không thuộc về đâu; không thuộc về đâu nên không, vì không nên không có Bồ-tát.
Hỏi: Nếu năm uẩn không, không tức là Bồ-tát?
Đáp: Năm uẩn không cũng chẳng phải Bồ-tát. Không, không có gì nên không có phân biệt. Năm uẩn lìa, năm uẩn vô tánh cũng không có Bồ-tát, nếu nói không có Bồ-tát thời ba đời đều không có. Quán các pháp thế gian năm uẩn v.v... và quán đạo pháp sáu Ba-la-mật v.v... ấy gọi là Bồ-tát. Vì pháp ấy không nên Bồ-tát cũng không.[1] Trong đây Phật tự nói nhân duyên về các pháp không không khác Bồ-tát, Bồ-tát không khác các pháp không. Bồ-tát không và ba đời không không hai không khác, từ pháp sáu Ba-la-mật cho đến Trí nhất thiết chủng, tu theo pháp ấy nên gọi là Bồ-tát. Vì các pháp ấy không, nên Bồ-tát cũng không. Pháp không này Thanh-văn, Bích-chi Phật chứng nhập không ấy gọi là Thanh-văn, Bích-chi Phật, Thanh-văn, Bích-chi Phật chứng nhập nhân không, Bồ-tát cũng như vậy.
KINH: Như Xá-lợi-phất nói, vì sắc vô biên nên biết Bồ-tát cũng vô biên; thọ, tưởng, hành, thức vô biên, nên biết Bồ-tát cũng vô biên.
Xá-lợi-phất! Sắc như hư không; thọ, tưởng, hành, thức như hư không, vì sao? Xá-lợi-phất! Ví như hư không biên tế không thể có được, trung gian
 

[1] Đại trí độ luận, quyển 52, Phẩm mười vô thứ 25, tr. 431c3: Hỏi: chúng sanh và năm uẩn rốt ráo không sinh, người hiểu được pháp ấy tức là Bồ-tát sao? 

* Trang 437 *
device

không thể có được, không có biên tế, không có trung gian, nên chỉ gọi là hư không. Như vậy, Xá-lợi-phất! Sắc biên tế không thể có được, trung gian không thể có được, vì sắc ấy không; trong không cũng không có biên tế, cũng không có trung gian; thọ, tưởng, hành, thức biên tế không thể có được, trung gian không thể có được, vì thức ấy không, trong không, không có biên tế, không có trung gian. Do nhân duyên ấy, nên Xá-lợi-phất! Sắc không biên tế nên biết Bồ-tát cũng không có biên tế; thọ, tưởng, hành, thức không có biên tế, nên biết Bồ-tát cũng không có biên tế, cho đến mười tám pháp không chung cũng như vậy.
Như Xá-lợi-phất nói: Sắc là Bồ-tát, ấy cũng không thể có được; thọ, tưởng, hành, thức là Bồ-tát cũng không thể có được. Xá-lợi-phất! Sắc, sắc tướng không, thọ, tưởng, hành thức, thức tướng không. Thí ba-la-mật, Thí ba-la-mật tướng không, cho đến Bát-nhã ba-la-mật cũng như vậy.
Nội không, tướng nội không cũng không, cho đến vô pháp hữu pháp không, tướng vô pháp hữu pháp không cũng không, bốn niệm xứ, tướng bốn niệm xứ không, cho đến mười tám pháp không chung, mười tám pháp không chung tướng không. Như như, pháp tánh, thật tế, bất khả tư nghì tánh, bất khả tư nghì tánh tướng không; môn Tam-muội, -chi Phật chứng nhập nhân không, Bồ-tát cũng như vậy.
KINH: Như Xá-lợi-phất nói, vì sắc vô biên nên biết Bồ-tát cũng vô biên; thọ, tưởng, hành, thức vô biên, nên biết Bồ-tát cũng vô biên.
Xá-lợi-phất! Sắc như hư không; thọ, tưởng, hành, thức như hư không, vì sao? Xá-lợi-phất! Ví như hư không biên tế không thể có được, trung gian

 

* Trang 438 *
device

tướng môn Tam-muội không; môn Đà-la-ni, tướng môn Đà-la-ni không; nhất thiết trí, tướng nhất thiết trí không; đạo chủng trí, tướng Đạo chủng trí không; Trí nhất thiết chủng, tướng Trí nhất thiết chủng không.
Thanh-văn thừa, tướng Thanh-văn thừa không; Bích-chi Phật thừa, tướng Bích-chi Phật thừa không; Phật thừa, tướng Phật thừa không; người Thanh-văn, tướng người Thanh-văn không; Bích-chi Phật, tướng Bích-chi Phật không; Phật, tướng Phật không. Trong không, sắc không thể có được; thọ, tưởng, hành, thức không thể có được. Do nhân duyên ấy, nên Xá-lợi-phất! Sắc là Bồ-tát cũng không thể có được; thọ, tưởng, hành, thức là Bồ-tát cũng không thể có được. Như Xá-lợi-phất nói do nhân duyên gì nơi tất cả chủng, tất cả xứ, tìm Bồ-tát không thể có được, thời sẽ dạy Bồ-tát nào về Bát-nhã ba-la-mật?
Xá-lợi-phất! Sắc không thể có được trong sắc, sắc không thể có được trong thọ; thọ không thể có được trong thọ, thọ không thể có được trong sắc; thọ không thể có được trong tưởng, tưởng không thể có được trong tưởng; tưởng không thể có được trong sắc, thọ; tưởng không thể có được trong hành ; hành không thể có được trong hành; hành không thể có được trong sắc, thọ, tưởng; hành không thể

* Trang 439 *
device

có được trong thức, thức không thể có được trong thức; thức không thể có được trong sắc, thọ, tưởng, hành.
Xá-lợi-phất! Mắt không thể có được trong mắt, mắt không thể có được trong tai; tai không thể có được trong tai, tai không thể có được trong mắt; tai không thể có được trong mũi, mũi không thể có được trong mũi, mũi không thể có được trong mắt; tai, mũi không thể có được trong lưỡi; lưỡi không thể có được trong lưỡi, lưỡi không thể có được trong mắt, tai, mũi; lưỡi không thể có được trong thân; thân không thể có được trong thân, thân không thể có được trong mắt, tai, mũi, lưỡi; thân không thể có được trong ý; ý không thể có được trong ý, ý không thể có được trong mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Sáu nhập, sáu thức, sáu xúc; sáu xúc làm nhân duyên sinh thọ cũng như vậy.
Thí ba-la-mật cho đến Bát-nhã ba-la-mật, nội không cho đến vô pháp hữu pháp không, bốn niệm xứ, cho đến mười tám pháp không chung, hết thảy môn Tam-muội, hết thảy môn Đà-la-ni, tánh pháp cho đến Bích-chi Phật pháp, Sơ địa cho đến Thập địa, Nhất thiết trí, Đạo chủng trí, Trí nhất thiết chủng cũng như vậy. Tu-đà-hoàn cho đến A-la-hán, Bích-chi Phật, Bồ-tát, Phật cũng như vậy.
Bồ-tát không thể có được trong Bồ-tát, Bồ-tát

* Trang 440 *
device

không thể có được trong Bát-nhã ba-la-mật; Bát-nhã ba-la-mật không thể có được trong Bát-nhã ba-la-mật; Bát-nhã ba-la-mật không thể có được trong Bồ-tát. Trong Bát-nhã ba-la-mật; giáo hóa là vô sở hữu không thể có được trong giáo hóa; giáo hóa là vô sở hữu, không thể có được trong giáo hóa, Bồ-tát và Bát-nhã ba-la-mật là vô sở hữu, không thể có được.
Như vậy, Xá-lợi-phất! Hết thảy pháp là vô sở hữu không thể có được. Do nhân duyên ấy nên nơi hết thảy chủng, hết thảy xứ tìm Bồ-tát không thể có được, nên dạy Bồ-tát nào về Bát-nhã ba-la-mật? 
Như Xá-lợi-phất nói: Do nhân duyên gì nên nói Bồ-tát ma-ha-tát chỉ có giả danh? Xá-lợi-phất! Sắc là giả danh; thọ, tưởng, hành, thức là giả danh. Tên sắc chẳng phải sắc; tên thọ, tưởng, hành, thức chẳng phải thức, vì sao? Vì tên, tướng tên không, nếu không thời chẳng phải Bồ-tát. Do nhân duyên ấy, nên Xá-lợi-phất! Bồ-tát chỉ có giả danh.
* Lại nữa, Xá-lợi-phất! Thí ba-la-mật chỉ có danh tự, trong danh tự chẳng phải có Thí ba-la-mật, trong Thí ba-la-mật chẳng phải có danh tự. Do nhân duyên ấy nên Bồ-tát chỉ có giả danh; Giới ba-la-mật, Nhẫn ba-la-mật, Tấn ba-la-mật, Thiền ba-la-mật, Bát-nhã ba-la-mật chỉ có danh tự. Trong danh tự không có Bát-nhã ba-la-mật, trong Bát-nhã ba-la-

* Trang 441 *
device

mật không có danh tự. Do nhân duyên ấy, nên Bồ-tát chỉ có giả danh.
Xá-lợi-phất! Nội không chỉ có danh tự, cho đến vô pháp hữu pháp không chỉ có danh tự; trong danh tự không có nội không, trong nội không không có danh tự, vì sao? Vì danh tự và nội không đều không thể có được, cho đến vô pháp hữu pháp không cũng như vậy. Do nhân duyên ấy, nên Xá-lợi-phất! Bồ-tát chỉ có giả danh.
Xá-lợi-phất! Bốn niệm xứ chỉ có danh tự, cho đến mười tám pháp không chung chỉ có danh tự, hết thảy môn Tam-muội, hết thảy môn Đà-la-ni, cho đến Trí nhất thiết chủng cũng như vậy. Do nhân duyên ấy, nên Xá-lợi-phất! Tôi nói Bồ-tát chỉ có giả danh.
Như Xá-lợi-phất nói: Do nhân duyên gì nên nói danh tự ngã rốt ráo không sinh? Xá-lợi-phất! Ngã rốt ráo không thể có được, làm sao có sinh, cho đến kẻ biết kẻ thấy rốt ráo không thể có được, làm sao có sinh? Xá-lợi-phất! Sắc rốt ráo không thể có được, làm sao có sinh, thọ, tưởng, hành, thức rốt ráo không thể có được, làm sao có sinh? Mắt rốt ráo không thể có được cho đến ý và xúc làm nhân duyên sinh thọ rốt ráo không thể có được, làm sao có sinh? Thí ba-la-mật rốt ráo không thể có được, cho đến Bát-nhã ba-la-mật rốt ráo không thể có được, làm sao có sinh? Nội không rốt ráo không thể

* Trang 442 *
device

có được, cho đến vô pháp hữu pháp không, rốt ráo không thể có được, làm sao có sinh?
Bốn niệm xứ rốt ráo không thể có được, cho đến mười tám pháp không chung rốt ráo không thể có được, làm sao có sinh? Các môn Tam-muội, các môn Đà-la-ni rốt ráo không thể có được, làm sao có sinh? Thanh-văn cho đến Phật rốt ráo không thể có được, làm sao có sinh?
Do nhân duyên ấy, nên Xá-lợi-phất! Tôi nói như danh tự ngã, ngã cũng rốt ráo không sinh.
LUẬN:  Hỏi: Tâm tâm số pháp vô hình, không thể thấy, nên có thể vô biên, còn sắc có hình, có thể thấy, làm sao vô biên?
Đáp: Không chỗ nào không có sắc, không thể trù lượng nó xa gần nặng nhẹ được. Như Phật dạy: Bốn đại không nơi nào không có, nên gọi là đại, không thể dùng năm thức biết được giới hạn của nó, không thể dùng cân đấu lượng nó nhiều ít nặng nhẹ được, nên nói sắc là vô biên.
* Lại nữa, sắc ấy ở thời quá khứ, lúc sơ thủy không thể có được, trong thời vị lai, không có giới hạn kiếp số nhiều như hằng hà sa, sắc sẽ có cùng tận, nên không có ngần mé sau. Ngần mé đầu, ngần mé sau không có, nên đoạn giữa cũng không có.
* Lại nữa, ngằn mé là tướng của sắc. Sắc ấy bị phân biệt phá tan nên ngần mé không thể có được, vì không có bản tướng.
o:p>
KINH: Như Xá-lợi-phất nói, vì sắc vô biên nên biết Bồ-tát cũng vô biên; thọ, tưởng, hành, thức vô biên, nên biết Bồ-tát cũng vô biên.
Xá-lợi-phất! Sắc như hư không; thọ, tưởng, hành, thức như hư không, vì sao? Xá-lợi-phất! Ví như hư không biên tế không thể có được, trung gian
 

* Trang 443 *
device

* Lại nữa, pháp vô vi chẳng sinh chẳng diệt, nên vô số vô lượng vô biên, do pháp không quán quán sắc đều không, cùng với hư không và vô vi đồng tướng. Trong vô số vô lượng vô biên cho đến mảy may vi trần cũng không thể có được, huống gì Bồ-tát? Thế nên nói năm uẩn vô biên, Bồ-tát cũng vô biên. Như sắc vô biên, cho đến mười tám pháp không chung cũng như vậy, tùy theo tướng mà phân biệt như trước nói.[1] Năm uẩn ấy vô lượng vô biên vô số, nên không được nói sắc là Bồ-tát. Bốn uẩn kia cũng như vậy.
* Lại nữa, sắc nếu lìa tâm tâm số pháp thời như cây cỏ ngói đá, làm sao gọi là Bồ-tát? Nếu tâm tâm số pháp lìa sắc thời không có chỗ nương dựa, cũng không thể làm được gì, làm sao gọi là Bồ-tát?
* Lại nữa, sáu Ba-la-mật, mười tám không, ba mươi bảy phẩm, mười lực, cho đến mười tám pháp không chung, như như, pháp tánh, thật tế, bất khả tư nghì tánh, ba môn giải thoát, môn Đà-la-ni, các môn Tam-muội, Nhất thiết trí (Tát-bà-nhã), Đạo chủng trí, Trí nhất thiết chủng, ba thừa, người ba thừa, hoặc tu hoặc quán các pháp ấy, gọi là Bồ-tát. Các pháp ấy đều vì tự tướng không nên không,[2] đó là Thí ba-la-mật, Thí ba-la-mật tướng không cho đến Phật, Phật tướng không.
Hết thảy xứ là năm uẩn, mười hai nhập, mười tám giới, cho đến Trí nhất thiết chủng.
Hết thảy chủng là mười tám không, ba môn giải thoát, Bát-nhã ba-la-mật, quán hoặc thường hoặc vô thường
 

[1] Đại trí độ luận, quyển 51, Phẩm hàm thụ thứ 23.
[2] Xem Đại trí độ luận, quyển 49, Phẩm phát thú thứ 20. 

* Trang 444 *
device

v.v... vào một môn, hai môn, cho đến vô lượng môn v.v... ấy gọi là hết thảy chủng. Nơi xứ và chủng đó tìm cầu Bồ-tát không thể có được.
* Lại vì nơi tự pháp không có tự pháp, cũng không có tha pháp, như trong đây nói sắc, không thể có được trong sắc, không thể có được trong thọ; thọ không thể có được trong thọ, thọ không thể có được trong sắc, cho đến Bát-nhã ba-la-mật không thể có được trong Bát-nhã ba-la-mật, cho đến giáo hóa không thể có được trong giáo hóa. Chỉ có danh tự là năm uẩn ấy phá hoại tán diệt như hư không không khác. Bồ-tát chỉ có danh tự, như người huyễn hóa, trong danh tự giả lại lập danh tự.
Tu-bồ-đề nói với Xá-lợi-phất: Không chỉ Bồ-tát là danh tự giả mà năm uẩn cũng đều là danh tự giả, trong danh tự giả, tướng danh tự giả không thể có được, đều nhập vào đệ nhất nghĩa. Nếu Không như vậy, tức chẳng phải Bồ-tát.
* Lại nữa, sáu Ba-la-mật cho đến Trí nhất thiết chủng, tu hành pháp ấy nên gọi là Bồ-tát. Pháp ấy cũng danh tự giả, Bồ-tát cũng danh tự giả, không, không có gì, các pháp ấy, gượng đặt tên, do nhân duyên hòa hợp nên có, cũng không có sự thật đó. Ngã, danh tự rốt ráo không sinh là như phần đầu của phẩm này đã nói.[1] Trong đó Tu-bồ-đề cũng lấy chúng sinh không và pháp không để phá ngã, nghĩa là ngã rốt ráo không thể có được, cho đến kẻ biết kẻ thấy không thể có được, làm sao có sinh? Năm uẩn rốt ráo không thể có được, làm sao có năm uẩn sinh? Cho đến ý và xúc làm nhân duyên sinh thọ rốt
 

[1] Đại trí độ luận, quyển 52, Phẩm mười vô thứ 25, tr. 431b16-b20: Vì thế nên Tu-bồ-đề lại nói: Ngã từ xưa lại đây không có chứ chẳng phải trước có nay không. Hành giả biết như vậy xưa nay tự không có, nay không mất gì, cho nên không lo sợ. Ví như cây lớn rễ sâu, không thể chặt một nhát mà đứt, phải dùng sức chặt nhiều búa mới đứt được. Bồ-tát không cũng như vậy, không thể nói một lần là được, vì vậy nên phải phân biệt rộng nói.

* Trang 445 *
device

ráo không thể có được, làm sao có sinh? Sáu Ba-la-mật rốt ráo không thể có được, cho đến các môn Đà-la-ni, môn Tam-muội, Thanh-văn, Bích-chi Phật, Phật rốt ráo không thể có được, làm sao có sinh? Nếu pháp trước đã có, vậy sau có thể hỏi nó sinh, pháp thể trước đã không có, làm sao có sinh?
KINH: Như Xá-lợi-phất nói: Như ngã, các pháp cũng như vậy không có tự tánh. Xá-lợi-phất! Các pháp hòa hợp sinh nên không có tự tánh.
Xá-lợi-phất! Những gì hòa hợp sinh không có tự tánh?
Xá-lợi-phất! Sắc hòa hợp sinh, không có tự tánh; thọ, tưởng, hành, thức hòa hợp sinh, không có tự tánh, mắt hòa hợp sinh, không có tự tánh, cho đến ý hòa hợp sinh, không có tự tánh. Sắc cho đến pháp, nhãn giới cho đến pháp giới, địa chủng cho đến thức chủng, nhãn xúc cho đến ý xúc, nhãn và xúc làm nhân duyên sinh, thọ cho đến ý và xúc làm nhân duyên sinh thọ hòa hợp sinh, không có tự tánh.
Thí ba-la-mật cho đến Bát-nhã ba-la-mật hòa hợp sinh, không có tự tánh. Bốn niệm xứ cho đến mười tám pháp không chung, hòa hợp sinh, không có tự tánh.
* Lại nữa, Xá-lợi-phất! Hết thảy pháp vô thường cũng chẳng diệt mất.

 
 

* Trang 446 *
device

Xá-lợi-phất hỏi Tu-bồ-đề: Những pháp gì vô thường cũng chẳng diệt mất?
Tu-bồ-đề Đáp: Sắc vô thường cũng chẳng diệt mất; thọ, tưởng, hành, thức vô thường cũng chẳng diệt mất, vì sao? Vì nếu pháp vô thường, tức là tướng động, tức là tướng không. Do nhân duyên ấy, nên Xá-lợi-phất! Hết thảy pháp hữu vi vô thường cũng chẳng diệt mất.
Hoặc pháp hữu lậu, hoặc pháp vô lậu, hoặc pháp hữu ký, hoặc pháp vô ký, vô thường cũng chẳng diệt mất, vì sao? Vì nếu pháp vô thường, tức là tướng động, tức là tướng không. Do nhân duyên ấy, nên Xá-lợi-phất! Hết thảy pháp có tạo tác vô thường cũng chẳng diệt mất.
* Lại nữa, Xá-lợi-phất! Hết thảy pháp chẳng phải thường, chẳng phải diệt mất.
Xá-lợi-phất Hỏi: Những pháp gì chẳng phải thường chẳng phải diệt mất?
Tu-bồ-đề Đáp: Sắc chẳng phải thường chẳng phải diệt mất, vì sao? Vì tánh nó tự như vậy. Thọ, tưởng, hành, thức chẳng phải thường chẳng phải diệt mất, vì sao? Vì tánh nó tự như vậy; cho đến thọ do ý và xúc làm nhân duyên sinh ra chẳng phải thường chẳng phải diệt mất, vì sao? Vì tánh nó tự

* Trang 447 *
device

như vậy. Do nhân duyên ấy, nên Xá-lợi-phất! Các pháp hòa hợp sinh, không có tự tánh.
Như Xá-lợi-phất nói: Nhân duyên gì nên sắc rốt ráo chẳng sinh? Thọ, tưởng, hành, thức rốt ráo chẳng sinh?
Tu-bồ-đề Đáp: Sắc chẳng phải pháp tạo tác, thọ, tưởng, hành, thức chẳng phải pháp tạo tác, vì sao? Vì tác giả không thể có được. Xá-lợi-phất! Mắt chẳng phải pháp tạo tác, vì sao? Vì tác giả không thể có được, cho đến ý cũng như vậy. Ranh giới mắt cho đến thọ do ý và xúc làm nhân duyên sinh cũng như vậy.
* Lại nữa, Xá-lợi-phất! Hết thảy các pháp đều chẳng phải khởi lên, chẳng phải tạo tác, vì sao? Vì tác giả không thể có được. Do nhân duyên ấy, nên Xá-lợi-phất! Sắc rốt ráo chẳng sinh; thọ, tưởng, hành, thức rốt ráo chẳng sinh.
Như Xá-lợi-phất nói: Do nhân duyên gì nên rốt ráo chẳng sinh ấy chẳng gọi là sắc; rốt ráo chẳng sinh ấy chẳng gọi là thọ, tưởng, hành, thức?
Tu-bồ-đề Đáp: Sắc tánh không, không ấy không sinh không diệt, không trụ, không khác; thọ, tưởng, hành, thức tánh không, không ấy không sinh, không diệt, không trụ, không khác. Mắt cho đến hết thảy pháp hữu vi tánh không, không ấy

* Trang 448 *
device

không sinh, không diệt, không trụ, không khác. Do nhân duyên ấy, nên Xá-lợi-phất! Rốt ráo chẳng sinh, không gọi là sắc, rốt ráo chẳng sinh, không gọi là thọ, tưởng, hành, thức.
Như Xá-lợi-phất nói: Do nhân duyên gì nên pháp rốt ráo chẳng sinh, nên dạy Bát-nhã ba-la-mật ấy ư?
Tu-bồ-đề Đáp: Rốt ráo chẳng sinh tức là Bát-nhã ba-la-mật, Bát-nhã ba-la-mật tức là rốt ráo chẳng sinh. Bát-nhã ba-la-mật và rốt ráo chẳng sinh không hai không khác. Do nhân duyên ấy, nên Xá-lợi-phất! Nói rốt ráo chẳng sinh, nên dạy Bát-nhã ba-la-mật ấy.
Như Xá-lợi-phất nói: Do nhân duyên gì nên lìa rốt ráo chẳng sinh, thời không có Bồ-tát tu hành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác?
Tu-bồ-đề Đáp: Bồ-tát ma-ha-tát khi tu hành Bát-nhã ba-la-mật, không thấy rốt ráo chẳng sinh khác với Bát-nhã ba-la-mật, cũng không thấy rốt ráo chẳng sinh khác với Bồ-tát, rốt ráo chẳng sinh và Bồ- tát không hai không khác.
Không thấy rốt ráo chẳng sinh khác với sắc, vì sao? Vì rốt ráo chẳng sinh và sắc không hai không khác. Không thấy rốt ráo chẳng sinh khác với thọ, tưởng, hành, thức, vì sao? Vì rốt ráo chẳng sinh và 

* Trang 449 *
device

thọ, tưởng, hành, thức không hai không khác; cho đến Trí nhất thiết chủng cũng như vậy. Do nhân duyên ấy, nên Xá-lợi-phất! Lìa rốt ráo chẳng sinh thời không có Bồ-tát tu hành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Như Xá-lợi-phất nói: Do nhân duyên gì nên Bồ-tát nghe nói lời ấy, tâm chẳng chìm đắm, chẳng ưu hối, chẳng kinh, chẳng hãi, chẳng sợ, ấy gọi là Bồ-tát tu hành Bát-nhã ba-la-mật? 
Tu-bồ-đề Đáp: Bồ-tát ma-ha-tát không thấy các pháp có giác, tri, tưởng, chỉ thấy hết thảy các pháp như mộng, như huyễn, như sóng nắng, như ảnh, như biến hóa. Xá-lợi-phất! Do nhân duyên ấy, nên Bồ-tát nghe lời ấy tâm không chìm đắm, không hối, chẳng kinh, chẳng hãi, chẳng sợ.

LUẬN: Luận giả nói: Các pháp không có tự tánh là lấy tánh không phá mỗi mỗi tánh của các pháp. Trong đây Tu-bồ-đề tự nói: Các pháp hòa hợp sinh, không có tự tánh, như hòa hợp pháp năm uẩn và thiện pháp sáu Ba-la-mật, từ ấy xuất ra danh tự Bồ-tát. Bồ-tát ấy là pháp do tạo tác, các pháp hòa hợp sinh nên chẳng phải do một pháp tạo thành, vì thế nên nói là giả danh. Các pháp ấy cũng từ bên hòa hợp sinh; thí như có mắt, có sắc, có ánh sáng, có khoảng không, có tâm muốn thấy, đủ các nhân duyên ấy hòa hợp sinh nhãn thức. Trong đây không được nói mắt là cái thấy, hoặc thức là cái

* Trang 450 *
device

thấy, hoặc sắc là cái thấy, hoặc ánh sáng là cái thấy. Nếu mắt, sắc, thức mỗi mỗi không thấy được gì, thì hòa hợp lại cũng không thể có thấy. Vì vậy nên cái thấy rốt ráo không, như huyễn, như mộng. Hết thảy các pháp cũng như vậy.
* Lại nữa, hết thảy pháp vô thường cũng chẳng mất, vô thường thời phá điên đảo chấp thường, chẳng mất thời phá điên đảo chấp đoạn. Pháp vô thường chẳng mất ấy chính là vào cửa thật tướng. Thế nên Tu-bồ-đề nói với Xá-lợi-phất: Vô thường tức tướng động, tức là tướng không. Hết thảy pháp cũng như vậy.
* Lại nữa, hết thảy pháp chẳng phải thường chẳng phải mất, là như nghĩa sau cùng của mười tám không.[1]
Sắc rốt ráo chẳng sinh là vì năm uẩn, tác giả, sinh giả, khởi giả không thể có được.[2]
* Lại nữa, tướng sinh không thể có được, như trước đã nói trong đoạn phá sinh.[3] Hết thảy pháp cũng như vậy, vì sao? Nếu nói sắc chẳng sinh là chẳng phải sắc, chẳng phải thọ, tưởng, hành, thức. Trong đây Tu-bồ-đề tự nói: Sắc từ nhân duyên sinh, không có tự tánh, thường tướng không. Nếu pháp thường tướng không, pháp ấy không có tướng sinh, không có tướng diệt, không có tướng trụ, tướng dị; thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy. Thế nên pháp tướng chẳng sinh, tức là vô vi, chẳng phải tướng hữu vi. Các pháp khác cũng như vậy. Rốt ráo chẳng sinh, thì sẽ dạy Bát-nhã cho ai? Rốt ráo chẳng sinh tức là thật tướng các pháp, thật tướng các pháp tức là Bát-nhã ba-la-mật, làm sao lấy Bát-nhã ba-la-mật dạy Bát-nhã ba-la-
 

[1] Đại trí độ luận, quyển 46, Phẩm đại thừa thứ 18.
[2] Đại trí độ luận, quyển 41, Phẩm tập tán thứ 9.
[3] Đại trí độ luận, quyển 1, Phẩm tựa đầu, tr. 60b19-c6; 15, Sằn-đề ba-la-mật pháp nhẫn, tr. 170b29-c17; quyển 17, Thiền ba-la-mật thứ 28, tr. 189b4-24; quyển 22, Tám niệm, tr. 222b27-c16; quyển 31, mười tám không, tr. 287c6-18; quyển 35, Phẩm báo ứng thứ hai, tr. 319a13-18; quyển 52, Phẩm mười vô thứ 25, tr. 433c2-9; quyển 53, Phẩm vô sanh tam quán thứ 26, tr. 439b1-13.

* Trang 451 *
device

mật?  Nếu lìa rốt ráo chẳng sinh mà có Bồ-tát thời nên dạy Bát-nhã ba-la-mật, song Bồ-tát và Bát-nhã ba-la-mật ấy rốt ráo chẳng sinh, không hai không khác, làm sao dạy cái rốt ráo chẳng sinh hành đạo được? Trong lần nói ở trên đã kết hợp giải thích.[1] Bồ-tát nghe điều ấy mà không thối mất, không hối là  Bồ-tát ấy đối với hết thảy pháp không thấy ngã, chúng sinh cho đến kẻ biết kẻ thấy, cũng không có kẻ nói, cũng không có kẻ nghe, không có tà thuyết, không có chánh thuyết, cũng không có kẻ không thuyết. Biết hết thảy pháp do nhân duyên hòa hợp nên sinh, các duyên xa lìa nên diệt, không có cái sinh khởi, không có cái diệt mất, cho nên không sợ, không hãi, không chìm đắm, không ưu hối. Bồ-tát biết hết thảy pháp hư dối không thật, không định, hoặc khi chết gấp, hoặc đọa địa ngục A-tỳ, tâm còn không động, huống gì nghe nói Thanh-văn mà sợ hãi, như người trong mộng thấy việc sợ hãi, thức dậy, thời không có tâm sợ, biết việc mộng dối gạt tâm, không có sự thật. Bồ-tát cũng như vậy, vào trong tâm mộng của thế gian thấy có sợ hãi, khi ngộ được thật tướng các pháp, thời không có sợ, biết các pháp chỉ là hư dối, không có chơn thật.
* Lại nữa, thí như sự huyễn, người trí tuy thấy, tâm không mê hoặc, biết đó là pháp hư dối. Bồ-tát cũng như vậy, biết hết thảy pháp như huyễn, hay dối tâm người, trong đó không có gì thật, vì vậy nên chẳng sợ hãi. Như sóng nắng, như ảnh, như hóa cũng như vậy.
KINH: Tu-bồ-đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Bồ-tát ma-ha-tát tu hành Bát-nhã ba-la-mật,
 

[1] Đại trí độ luận, quyển 52, Phẩm mười vô thứ 25 (十無品第25), tr. 431c1-3: Rốt ráo không sinh, sẽ dạy Bát-nhã cho ai , rốt ráo không sinh là thật tướng các pháp, thật tướng các pháp là Bát-nhã ba-la-mật, làm sao lấy Bát-nhã ba-la-mật dạy bát-nhã ba-la-mật. 

* Trang 452 *
device

quán các pháp như vậy, khi ấy Bồ-tát ma-ha-tát chẳng thọ sắc, chẳng chỉ thị sắc, chẳng trụ sắc, chẳng đắm sắc (Kinh Đại Bát-nhã ghi: Không thọ, không thủ, không trụ, không trước - ND), chẳng nói đó là sắc; thọ, tưởng, hành, thức cũng chẳng lãnh thọ, chẳng chỉ thị, chẳng trụ, chẳng đắm, cũng chẳng nói đó là thọ, tưởng, hành, thức.
Đối với mắt chẳng thọ, chẳng chỉ thị, chẳng trụ, chẳng đắm, cũng chẳng nói đó là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng chẳng lãnh thọ, chẳng chỉ thị, chẳng trụ, chẳng đắm, cũng chẳng nói đó là ý.
Thí ba-la-mật chẳng thọ, chẳng chỉ thị, chẳng trụ, chẳng đắm, cũng chẳng nói đó là Thí ba-la-mật; Giới ba-la-mật, Nhẫn ba-la-mật, Tấn ba-la-mật, Thiền ba-la-mật, Bát-nhã ba-la-mật, chẳng thọ, chẳng thị, chẳng trụ, chẳng đắm, cũng chẳng nói đó là Bát-nhã ba-la-mật.
Nội không chẳng thọ, chẳng chỉ thị, chẳng trụ, chẳng đắm, cũng chẳng nói đó là nội không; cho đến vô pháp hữu pháp không cũng như vậy.
* Lại nữa, Bạch đức Thế Tôn! khi Bồ-tát ma-ha-tát tu hành Bát-nhã ba-la-mật, đối với bốn niệm xứ chẳng thọ, chẳng chỉ thị, chẳng trụ, chẳng đắm, cũng chẳng nói đó là bốn niệm xứ, cho đến mười tám pháp không chung chẳng thọ, chẳng chỉ thị,

* Trang 453 *
device

chẳng trụ, chẳng đắm, cũng chẳng nói đó là mười tám pháp không chung. Hết thảy môn Tam-muội, hết thảy môn Đà-la-ni, cho đến Trí nhất thiết chủng chẳng thọ, chẳng chỉ thị, chẳng trụ, chẳng đắm, cũng chẳng nói đó là Trí nhất thiết chủng.
* Lại nữa, Bạch đức Thế Tôn! Khi Bồ-tát ma-ha-tát tu hành Bát-nhã ba-la-mật, chẳng thấy sắc cho đến chẳng thấy Trí nhất thiết chủng, vì sao? Vì sắc chẳng sinh là chẳng phải sắc; thọ, tưởng, hành, thức chẳng sinh là chẳng phải thức. Mắt chẳng sinh là chẳng phải mắt; tai, mũi, lưỡi, thân, ý chẳng sinh là chẳng phải ý. Thí ba-la-mật chẳng sinh là chẳng phải Thí ba-la-mật, cho đến Bát-nhã ba-la-mật chẳng sinh là chẳng phải Bát-nhã ba-la-mật, vì cớ sao? Vì sắc và chẳng sinh không hai không khác, cho đến Bát-nhã ba-la-mật và chẳng sinh không hai không khác.
Nội không chẳng sinh là chẳng phải nội không, cho đến vô pháp hữu pháp không chẳng sinh là chẳng phải vô pháp hữu pháp không, vì sao? Vì nội không cho đến vô pháp hữu pháp không và chẳng sinh không hai không khác.
Bạch đức Thế Tôn! Bốn niệm xứ chẳng sinh là chẳng phải bốn niệm xứ, vì sao? Vì bốn niệm xứ và chẳng sinh không hai không khác, vì sao? Bạch đức Thế Tôn! Pháp chẳng sinh ấy chẳng phải một, 

* Trang 454 *
device

chẳng phải hai, chẳng phải ba, chẳng phải khác. Vì vậy nên bốn niệm xứ và chẳng sinh không hai không khác; cho đến mười tám pháp không chung chẳng sinh là chẳng phải mười tám pháp không chung, vì sao? Vì mười tám pháp không chung và chẳng sinh không hai không khác, vì sao? Bạch đức Thế Tôn! Pháp chẳng sinh ấy chẳng phải một chẳng phải hai, chẳng phải ba, chẳng phải khác. Vì vậy, nên mười tám pháp không chung chẳng sinh chẳng phải mười tám pháp không chung.
Bạch đức Thế Tôn! Như như chẳng sinh là chẳng phải như như, cho đến tánh bất khả tư nghì chẳng sinh là chẳng phải tánh bất khả tư nghì.
Bạch đức Thế Tôn! Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác chẳng sinh, Nhất thiết trí, Trí nhất thiết chủng chẳng sinh là chẳng phải Trí nhất thiết chủng, vì sao? Vì Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác ấy cho đến Trí nhất thiết chủng và chẳng sinh không hai không khác, vì sao? Bạch đức Thế Tôn! Pháp chẳng sinh ấy chẳng phải một, chẳng phải hai, chẳng phải ba, chẳng phải khác. Vì vậy nên cho đến Trí nhất thiết chủng chẳng sinh là chẳng phải Trí nhất thiết chủng.
Bạch đức Thế Tôn! Sắc chẳng có tướng diệt là chẳng phải sắc, vì sao? Vì sắc và tướng chẳng diệt không hai không khác, vì sao? Bạch đức Thế Tôn!

* Trang 455 *
device

Vì pháp chẳng diệt ấy chẳng phải một, chẳng phải hai, chẳng phải ba, chẳng phải khác. Vì vậy, nên sắc chẳng có tướng diệt là chẳng phải sắc, thọ, tưởng, hành, thức tướng chẳng diệt là chẳng phải thức, vì sao? Vì thức và tướng chẳng diệt không hai không khác, vì sao? Bạch đức Thế Tôn! Pháp chẳng diệt ấy chẳng phải một, chẳng phải hai, chẳng phải ba, chẳng phải khác. Vì vậy, nên thức chẳng có tướng diệt là chẳng phải thức. Thí ba-la-mật cho đến Bát-nhã ba-la-mật, nội không cho đến vô pháp hữu pháp không, bốn niệm xứ cho đến mười tám pháp không chung cũng như vậy. Bạch đức Thế Tôn! Vì vậy nên sắc nhập pháp số không hai; thọ, tưởng, hành, thức nhập pháp số không hai, cho đến Trí nhất thiết chủng nhập pháp số không hai.
LUẬN: Luận giả nói: Tu-bồ-đề bạch Phật rằng: Bồ-tát quán các pháp như vậy, đối với năm uẩn có năm hạnh chánh quán; nghĩa là chẳng thọ, vì nơi năm uẩn có lửa vô thường đốt cháy tâm.
Chẳng chỉ thị tức là chẳng chấp thủ tướng, chẳng phải chỉ quán cái lỗi vô thường v. v... còn quán năm uẩn ấy không, không chấp thủ tướng.
Chẳng trụ là không nương tựa năm uẩn, vì sợ giặc phiền não kéo đến, không dám trụ lâu; ví như chỗ làng trống, chỗ giặc ở, người trí không nên ở lâu.

* Trang 456 *
device

Chẳng đắm là năm uẩn nếu có một tội còn không nên đắm, huống gì thân có nhiều tội như đói, khát, lạnh, nóng, già bệnh, chết v.v...; tâm thì có ưu sâu, sợ hãi, ganh ghét, sân hận v.v... đời sau đọa vào ba đường ác. Hết thảy đều vô thường, khổ, không, vô ngã, chẳng được tự tại, có vô lượng vô biên tội lỗi như vậy, làm sao đắm trước được!
Không nói là sắc, vì không lấy tà kiến nói sắc hoặc thường hoặc vô thường, không nói năm uẩn có tướng nhất định như vậy, cho đến Trí nhất thiết chủng cũng như vậy, vì sao? Vì đối với sắc tu hành năm thứ chánh hành, năm uẩn ấy đều không có tướng sinh, đều một tướng, một tướng thời là vô tướng. Nếu vô tướng thời chẳng phải có năm uẩn, cho đến trí nhất thiết chủng cũng như vậy.
Nếu hết thảy pháp tướng chẳng sinh cùng Bát-nhã ba-la-mật không hai không khác, có được tâm vô sinh ấy tức là Bát-nhã ba-la-mật, được Bát-nhã ba-la-mật tức biết các pháp chẳng sinh chẳng diệt. Vì thế nên Bát-nhã ba-la-mật tức là chẳng sinh, không hai không khác.
* Lại nữa, Tu-bồ-đề tự nói nhân duyên rằng pháp vô sinh ấy chẳng phải tướng một, chẳng phải tướng hai, chẳng phải tướng ba, chẳng phải tướng khác, vì sao? Vì các pháp vô sinh là một tướng, cho đến Trí nhất thiết chủng cũng như vậy. Như vô sinh, vô diệt cũng như vậy.
Hỏi: Vì sao cuối cùng nói đến sắc cho đến Trí nhất thiết chủng nhập vào pháp số không hai?[1]
 

[1] Đại trí độ luận, quyển 52, Phẩm vô sanh, tr. 435b12-13: Bạch Thế-tôn sắc nhập vào pháp số không hai, thọ, tưởng, hành, thức nhập vào pháp số không hai, cho đến nhất thiết chủng trí nhập vào pháp số không hai.

* Trang 457 *
device

Đáp: Bồ-tát nếu chưa phá sắc thời sinh kiết sử tham ái đắm theo sắc ấy; phá sắc rồi thời sinh tà kiến đắm vào sắc không ấy. Nay dùng trí tuệ quán không, để quán sắc... đều không, không có hai tướng. Các pháp ấy hư vọng không thật, nhiếp vào nội nhập và ngoại nhập gọi là hai; sắc cho đến Trí nhất thiết chủng, lìa hai ấy nên gọi không hai.
Nay Tu-bồ-đề thương xót chúng sinh nên nói các pháp ấy không hai, nhập vào số pháp không hai.
(Hết cuốn 52 theo bản Hán)
 

* Trang 458 *
device

Xem Mục Lục

Top Book

Top Book Mp3

Top Music Album

 
© Copyright 2009 - 2018 anphat.org - Chịu trách nhiệm nội dung: Thị Đức bienman0811@yahoo.com - Hỗ trợ kỹ thuật votamthoai@gmail.com